Tiếng Việt – Đừng để vốn từ của cha ông chỉ còn trong ký ức đi mở cõi.
Có một điều rất lạ đang diễn ra ngay giữa Sài Gòn và khắp miền Tây Nam Bộ mà nhiều người không để ý. Chúng ta vẫn đang nói tiếng Việt mỗi ngày, vẫn trò chuyện với nhau, vẫn đọc báo, xem tivi, lướt mạng xã hội, nhưng càng ngày càng thấy tiếng nói của chính quê hương mình phai lạt dần. Nó không mất vì bị cấm. Nó cũng không mất vì có ai bắt bỏ. Nó mất vì chúng ta quen miệng. Quen nghe trên tivi thì nói theo tivi. Quen nghe trên mạng xã hội thì lặp lại như một phản xạ. Rồi một ngày nhìn lại mới giựt mình, những từ ngữ mà ông bà, cha mẹ mình đã dùng cả trăm năm nay bỗng trở thành “lạ tai” ngay trên chính mảnh đất đã sinh ra nó.
Điều đáng nói hơn cả, nhiều bạn trẻ Sài Gòn bây giờ nghe hai chữ “đá banh” lại thấy… quê, trong khi “bóng đá” thì thấy hiện đại. Nghe “xe hơi” thì thấy cũ, còn “ô tô” thì thấy đúng. Nghe “quẹo trái” thì sửa lại thành “rẽ trái”. Nghe “đậu xe” thì đổi thành “đỗ xe”. Không ai ép cả, nhưng cứ thế, từng chút một, phương ngữ Nam Bộ bị thay thế bằng những cách nói phổ biến hơn của ngoài kia.
Điều đó không có nghĩa những cách nói mới là sai. Chúng đều là những cách nói được sử dụng rộng rãi trong tiếng Việt hiện nay. Nhưng nếu người Nam Bộ cũng bỏ luôn tiếng Nam Bộ thì rồi ai sẽ giữ? Tiếng Việt sở dĩ đẹp là vì có nhiều phương ngữ.
Cái đẹp của tiếng Việt không nằm ở chỗ mọi người đều nói giống nhau, mà nằm ở chỗ mỗi vùng đất đều góp vào một màu sắc riêng. Người Huế có tiếng Huế. Người Bắc có tiếng Bắc. Người Quảng có tiếng Quảng. Người Nam có tiếng Nam. Đó là sự phong phú của một ngôn ngữ sống. Nếu ngày nào đó từ Cà Mau đến Hà Giang ai cũng dùng đúng một kiểu từ, đúng một kiểu diễn đạt thì tiếng Việt sẽ mất đi rất nhiều hương vị.
Người miền Nam xưa gọi môn thể thao vua là “đá banh”. Nghe là hiểu liền. Có trái banh thì đem ra đá. Cách gọi rất trực quan, rất bình dân. Ngày nay, “bóng đá” là tên gọi chính thức trong báo chí, trong sách giáo khoa và các liên đoàn thể thao. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng thử hỏi, chiều chiều mấy đứa nhỏ trong xóm rủ nhau ra sân, nếu một đứa la lớn: “Ê tụi bây, chiều nay đi chơi bóng đá nha!” nghe vẫn hiểu, nhưng sao nó vùa dư động từ mà thiếu cái chất đời thường bằng câu: “Ê, chiều nay đi đá banh nghen!”.
Cũng giống như vậy, người Nam Bộ từ xưa ăn phở bằng tô. Hủ tiếu bằng tô. Bún bò bằng tô. Mì cũng bằng tô. Trong căn bếp của người Nam có chén, tô, thố, thau, mâm, nia, rổ, rá. Mỗi thứ có công dụng riêng. Miền nam xưa cũng có cái bát ở dưới nhỏ trên xòe ra như cái tộ, sau này gọi chung là tộ, còn cái Tộ lớn kêu là cái “tượng”. Chữ “bát” bây giờ là cách gọi quen thuộc của miền Bắc chỉ cái chén ăn cơm, hoàn toàn đúng trong hệ thống từ vựng của họ. Nhưng với người Nam, “tô phở” (thật ra là 1 tượng phở) vẫn nghe gần gũi giàu hình ảnh hơn “bát phở”, Không phải vì một bên đúng một bên sai, mà vì đó là ký ức của một vùng đất.
Người Nam gọi “xe hơi”. Chữ “hơi” xuất phát từ thời động cơ hơi nước rồi dần dùng để chỉ xe có động cơ, phân biệt với xe đạp, xe ngựa, xe bò. Sau này thuật ngữ “ô tô” miền bắc phổ biến trên sách giáo khoa cho tất cả các thế hệ học sinh. Không có gì sai cả. Nhưng thử nghe câu: “Ổng mới mua chiếc xe hơi mới.” và câu: “Ông ấy mới mua một chiếc ô tô mới.” Cả hai đều đúng, nhưng câu đầu nghe là thấy nguyên cái Sài Gòn mấy chục năm trước hiện ra.
Người Nam gọi “bảng số”. Người ta nhìn tấm kim loại có ghi mấy con số thì gọi là bảng số. Ngày nay thuật ngữ hành chính dùng “biển số”. Không sai. Nhưng nếu người Nam vẫn gọi “bảng số xe” trong sinh hoạt hằng ngày thì cũng chẳng có gì phải sửa. Người Nam nói “quẹo trái”, “quẹo phải”. Chữ “quẹo” nghe mềm, nghe nhanh, nghe đúng cái nhịp nói của miền Nam. Người ta nói “đậu xe”, nghe rất đời. Còn “rẽ”, “đỗ” là cách nói phổ thông hơn. Điều đáng tiếc là nhiều bạn trẻ bây giờ lại nghĩ “quẹo” hay “đậu xe” là nói không chuẩn, trong khi đó là vốn từ đã tồn tại ở Nam Bộ từ rất lâu.
Người Nam gọi “xe đò”, một từ gắn liền với ký ức của biết bao thế hệ. Xe đò Cai Lậy, xe đò Mỹ Tho, xe đò Cần Thơ… Bây giờ tất cả thành “xe khách”. Người Nam gọi “bùng binh”, giờ thành “vòng xuyến”. Người Nam gọi “bàn ủi”, giờ nhiều người quen miệng gọi “bàn là”. Người Nam nói “chích ngừa”, giờ quen với “tiêm chủng”. Người Nam nói “nước lèo”, bây giờ xài toàn “nước dùng”. Người Nam nói “trái cây”, giờ nhiều người đổi thành “quả”. Người Nam nói “chiên trứng”, “cơm chiên”, giờ nghe “rán trứng”, “cơm rang” nhiều hơn. Người Nam nói “ký-lô”, “trăm gờ gam”, giờ nhiều người nói “một cân thịt”, “một cân cá”, trong khi cách gọi truyền thống ở Nam Bộ vẫn là “một ký”, “trăm gờ gam”. Người Nam nói “ly bia”, giờ nhiều người gọi “cốc bia”. Người Nam nói “hộp thư”, giờ thành “hòm thư”. Người Nam gọi “rương”, bây giờ kêu cái “hòm” (vậy cái hòm chôn người chết kêu bằng cái gì?).
Người Nam nói “bảo đảm”, giờ nghe “đảm bảo” phổ biến hơn. Người Nam nói “hợp ca”, giờ thành “tốp ca”. Người Nam quen với “hòa âm”, giờ nhiều nơi dùng “phối khí”, “phối âm”. Người Nam nói “điều khiển chương trình”, giờ thành “dẫn chương trình”. Người Nam nói “hồi âm”, giờ thành “phản hồi”. Người Nam nói “phát thanh”, “phát hình”, giờ thành “phát sóng”. Người Nam nói “đài truyền hình”, giờ thành “kênh truyền hình”. Người Nam nói “diễn hành”, giờ phổ biến “diễu hành”. Người Nam nói “đánh lộn”, “đánh nhau”, giờ trên mạng lại đầy những cụm từ như “tác động vật lý”. Người Nam nói “điều tra”, giờ báo chí hay dùng “vào cuộc”. Người Nam nói “bực mình”, “khó chịu”, “bực bội”, giờ đâu đâu cũng thấy “bức xúc”. Người Nam nói “khoảng bốn giờ”, giờ nhiều người nói “tầm bốn giờ”. Người Nam nói “một đôi đũa”, “một đôi dép”, giờ có người lại nói “một cặp đôi”.
Đó đều là những thay đổi trong ngôn ngữ theo thời gian. Có từ trở thành thuật ngữ chính thức. Có từ trở thành cách nói phổ thông. Có từ chỉ là xu hướng trên mạng xã hội. Nhưng điều đáng suy nghĩ là người Nam Bộ ngày càng ít sử dụng kho từ vựng rất giàu có của chính mình. Không phải để chống lại cách nói của vùng khác, mà là để giữ lấy bản sắc của mình.
Một đứa trẻ lớn lên ở Sài Gòn vẫn có thể nói “đá banh”, “xe hơi”, “quẹo”, “đậu xe”, “tô phở”, “nước lèo”, “bàn ủi”, “bùng binh”, “xe đò”, “trái cây”, “chích ngừa”, “bảo đảm”, “hợp ca”, “hồi âm”. Những từ ấy không hề cản trở việc học tiếng Việt bị Bắc hóa trên sách giáo khoa. Trái lại, nó làm cho vốn tiếng Việt của các em phong phú hơn. Một người biết cả “đá banh” lẫn “bóng đá”, biết cả “quẹo” lẫn “rẽ”, biết cả “đậu xe” lẫn “đỗ xe”, biết cả “tô” lẫn “bát”, chắc chắn giàu vốn từ hơn người chỉ biết một cách nói. Tiếng Việt không nghèo vì có nhiều phương ngữ. Tiếng Việt chỉ nghèo đi khi chúng ta tự nguyện bỏ mất những phương ngữ ấy.
Bởi vậy, giữ tiếng Nam Bộ không phải là chống lại ai, cũng không phải để phân biệt vùng miền. Giữ tiếng Nam Bộ là giữ ký ức của cha ông đi mở cõi, giữ tiếng rao trong con hẻm nhỏ, giữ tiếng gọi nhau ngoài bến sông, giữ câu nói của má, của ngoại, của ông nội, của người bán hủ tiếu đầu hẻm, của bác tài xe đò, của chú sửa xe, của cô bán trái cây ngoài chợ.
Giữ những từ ấy cũng chính là giữ một phần lịch sử văn hóa của miền đất phương Nam. Mai này, nếu con cháu mình vẫn còn hồn nhiên nói: “Chiều nay đi đá banh nghen. Xong quẹo qua chợ ăn tô hủ tiếu nước lèo rồi đậu xe trước nhà.”, thì có lẽ tiếng Nam Bộ vẫn còn sống. Mà tiếng Nam Bộ còn sống, cũng có nghĩa là tiếng Việt vẫn còn giữ được một trong những màu sắc đẹp nhất của mình.
Tiếng Việt đâu có thiếu chữ, sao cứ thích nói cho… lạ?
Có một chuyện tui để ý mấy năm nay mà càng nghĩ càng thấy vừa mắc cười vừa… đau lòng. Không biết từ khi nào, tiếng Việt mình vốn đẹp đẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái, giàu cách diễn đạt như vậy mà nhiều người lại thích nói theo kiểu “càng lạ càng hay”. Ngày xưa, nói chuyện tự nhiên là hay. Bây giờ, nói bình thường thì bị chê quê, nói theo mạng xã hội mới được khen là bắt trend. Riết rồi nhiều lúc ngồi nghe mấy đứa nhỏ nói chuyện với nhau, tui cứ tưởng tụi nó đang sáng chế ra một ngôn ngữ mới chớ không phải đang nói tiếng Việt. Điều đáng nói là mấy cái trào lưu này lan nhanh dữ lắm. Hôm nay một người nói, mai mười người nói, một tháng sau cả nước nói. Không ai biết nó đúng tới đâu, chỉ biết nghe nhiều riết thành quen miệng.
Điển hình nhứt là cái chữ “con”. Hồi xưa ông bà mình dạy rất rõ. Con là con chó, con mèo, con cá, con gà, con vịt, con bò, con trâu, con ong… hoặc một số đồ vật đã trở thành cách gọi quen thuộc trong tiếng Việt như con dao, con đường, con nước, con thuyền, con tàu. Đó là cách gọi đã hình thành từ lâu trong ngôn ngữ.
Vậy mà bây giờ thì thôi rồi. Cái gì cũng thành “con”. Con xe. Con áo. Con quần. Con điện thoại. Con laptop. Con máy lạnh. Con tivi. Con camera. Con micro. Con drone. Con máy ảnh. Con bàn phím. Con chuột máy tính. Con nồi cơm điện. Con bình nước. Con vali. Con đồng hồ. Con bình giữ nhiệt. Con sạc điện thoại. Con USB. Con wifi.
Nghe riết nhiều lúc tui chỉ sợ mai mốt vô siêu thị người ta hỏi: “Anh mua con kem đánh răng hay con chai nước suối?” Thậm chí có bữa nghe ai đó nói: “Con áo này đẹp quá.” Tui giật mình tưởng cái áo biết chạy. Tiếng Việt mình vốn có lượng từ rất phong phú. Cái áo. Cái quần. Chiếc xe. Chiếc ghe. Chiếc tàu. Tờ giấy. Cuốn sách. Cây viết. Bộ bàn ghế. Bộ quần áo. Đôi dép. Đôi đũa. Cặp mắt. Cặp kính. Tất cả đều có lý do tồn tại. Vậy mà bây giờ gom hết vô đúng một chữ “con” cho khỏe.
Đang từ cái gì cũng “con”, tự nhiên vài năm nay lại xuất hiện trường phái ngược lại. Cái gì cũng “chiếc”. Chiếc view. Chiếc hoàng hôn. Chiếc cafe. Chiếc cảm xúc. Chiếc thanh xuân. Chiếc nỗi nhớ. Chiếc deadline. Chiếc cuối tuần. Chiếc người yêu. Chiếc em bé. Chiếc vợ. Chiếc chồng. Chiếc hotel. Chiếc homestay. Chiếc công việc. Chiếc cuộc đời. Đọc mấy dòng trạng thái trên mạng nhiều lúc muốn bật cười. “Hôm nay dắt chiếc mẹ đi ăn.” “Đây là chiếc em bé đáng yêu nhất.” “Cảm ơn chiếc người yêu đã luôn bên em.” Tui chỉ muốn hỏi nhẹ một câu: má mình hồi nào thành… chiếc vậy? Trong khi chiếc vốn là lượng từ rất đẹp của tiếng Việt. Chiếc xe. Chiếc xuồng. Chiếc lá. Chiếc nón. Chiếc đồng hồ. Chiếc tàu. Chiếc ghe. Dùng đúng chỗ thì nghe rất hay. Còn bây giờ đem gắn vô bất cứ thứ gì cho có vẻ văn chương thì nhiều lúc nghe nó gượng gạo, vô hồn.
Rồi tới chữ “tầm”. Hồi trước người Nam nói “khoảng”, “độ”, “chừng”, “xấp xỉ”, “ước chừng”, “đại khái”. Khoảng ba giờ. Chừng năm phút. Độ mười cây số. Xấp xỉ một triệu. Đại khái vậy. Bây giờ tất cả gom hết thành một chữ “tầm”. Tầm ba giờ. Tầm năm phút. Tầm một triệu. Tầm mười cây. Tầm tuổi đó. Tầm giá đó. Tầm suy nghĩ đó. Tầm đẳng cấp đó. Tầm em thì chưa hiểu đâu. Nghe riết tưởng “tầm” là cây đũa thần, chỗ nào cũng nhét vô được. Tiếng Việt có cả chục từ diễn đạt mức độ, khoảng cách, thời gian, vậy mà cuối cùng chỉ còn đúng một chữ.
Còn cái câu “đỉnh nóc kịch trần” thì đúng là một hiện tượng. Ban đầu nghe vui thiệt. Một câu nói đùa trên mạng. Nhưng rồi cái gì cũng đỉnh nóc kịch trần. Ăn ngon đỉnh nóc kịch trần. Hát hay đỉnh nóc kịch trần. Đá banh thắng đỉnh nóc kịch trần. Ly cà phê ngon đỉnh nóc kịch trần. Con mèo dễ thương đỉnh nóc kịch trần. Đọc sách cũng đỉnh nóc kịch trần. Trời mưa cũng đỉnh nóc kịch trần. Trong khi tiếng Việt đâu có thiếu chữ. Hay nhất. Đẹp nhất. Tuyệt nhất. Xuất sắc. Hết sảy. Vô đối. Bá cháy. Đỉnh cao. Số một. Number one thì thôi còn đỡ vì ai cũng hiểu là tiếng Anh. Người Nam Bộ mình còn có “số dách”, “ngon nhứt”, “hay nhứt”, “đỉnh cao”, “đã đời”, “đã cái nư”, “khỏi chê”, “hết bài”, “không có đối thủ”. Mỗi chữ mang một sắc thái riêng. Vậy mà bây giờ gom hết thành một câu, riết nghe đâu cũng giống đâu.
Một căn bệnh khác cũng đáng nói là nghiện chêm tiếng Anh. Học ngoại ngữ là chuyện rất tốt. Không ai phản đối. Nhưng học để giao tiếp quốc tế khác với nói tiếng Việt mà câu nào cũng cố nhét vài chữ tiếng Anh vô cho sang. “Deadline em hơi căng.” “Mood hôm nay không được good.” “Team mình cần update mindset.” “Idea này rất creative.” “Content chưa viral.” “Profile anh premium.” “View này healing.” “Em cần reset cảm xúc.” “Case này khó xử.” “Deal này ok.” “Feedback sớm nha.” “Inbox em.” “Check mail.” “Confirm giúp.” “Cancel luôn.” “Booking rồi.” “Flex nhẹ.” “Chill xíu.” “Trend này hot.” “Crush em ghost luôn.” Nghe xong cứ tưởng ba ngôn ngữ đang chen nhau trong một câu. Trong khi rất nhiều chữ đều có tiếng Việt rất đẹp. Ý tưởng. Nội dung. Hồ sơ. Cập nhật. Tâm trạng. Xác nhận. Hủy. Đặt chỗ. Thư điện tử. Tin nhắn. Góp ý. Thư trả lời. Không phải chữ nào cũng dịch được, nhưng cũng đâu cần câu nào cũng pha tiếng Anh cho có vẻ hiện đại.
Rồi tới vấn nạn đáng lo nhất là chửi tục như cơm bữa. Không biết từ bao giờ, mở mạng xã hội ra là nghe chửi. Livestream chửi. Bán hàng chửi. Review đồ ăn chửi. Chơi game chửi. Bình luận chửi. Nói chuyện với bạn cũng chửi. Có người một câu mười chữ thì bảy chữ là chửi. Thậm chí còn nghĩ chửi mới hài, mới ngầu. Chưa hết, bây giờ còn sáng tạo kiểu viết lách. Không viết nguyên chữ tục mà đổi thành “méo”, “mợ”, “đệt”, “vãi”, “vl”, “vc”, “cl”… Ai cũng hiểu người viết muốn nói gì, chỉ là thay vài ký tự để tự an ủi rằng mình lịch sự hơn. Thiệt ra khác gì lấy cái khăn che cái loa. Tiếng vẫn phát ra y chang. Trong khi tiếng Việt có biết bao nhiêu cách diễn đạt cảm xúc. Bực mình. Khó chịu. Tức. Cay. Ngán. Nản. Chán. Hết nói. Bó tay. Trời đất ơi. Muốn xỉu. Muốn té ghế. Không biết nói sao. Vậy mà cuối cùng cái gì cũng quy về một câu chửi.
Điều buồn nhất không phải là tiếng Việt có thêm từ mới. Ngôn ngữ nào cũng thay đổi. Đó là quy luật. Điều đáng lo là người ta đang bỏ dần những từ đẹp vốn có của tiếng Việt để chạy theo những trào lưu chỉ sống được vài tháng trên mạng xã hội. Hôm nay “chiếc”. Mai “con”. Mốt “đỉnh nóc”. Bữa khác lại thêm vài câu mới. Trong khi những chữ rất hay như “đã đời”, “đã cái nư”, “mặn mòi”, “bén vị”, “ăn ghiền”, “khó quên”, “hết sảy”, “khỏi chê”, “vô đối”, “số dách”, “ngon nhứt”, “hay nhứt” thì càng ngày càng ít nghe. Tiếng Việt không thiếu chữ. Tiếng Việt chỉ thiếu người chịu dùng đúng lúc, đúng nghĩa và đúng cái hồn của nó. Bắt trend không có gì sai. Sáng tạo cũng không có gì sai. Nhưng nếu vì chạy theo trào lưu mà làm vốn từ của mình ngày càng nghèo đi, câu nào cũng na ná nhau, cách diễn đạt nào cũng giống nhau thì đó mới là điều đáng tiếc.
Hy vọng rằng, sau mỗi lần cười vì một câu nói “viral” trên mạng, chúng ta cũng nhớ quay về với những từ ngữ mộc mạc, giàu hình ảnh và đầy sức sống mà cha ông mình đã gìn giữ bao đời. Bởi vì giữ được sự phong phú của tiếng Việt cũng chính là giữ một phần văn hóa của dân tộc mình.
Hồng Võ
Theo FB Trang Văn Chương Miền Nam

Be the first to comment