Ảnh minh họa: Phó Tổng thống Mỹ Hubert Humphrey thăm một làng quê ở miền Nam năm 1966 và được một nhóm trẻ em đón chào. Một em bắt tay Phó Tổng thống rất tự nhiên, trong một tư thế đứng thẳng người. (Nguồn: hdvietnam.de)
Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó. Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng. Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.
Bài I: Nhận thức qua “Phạm Trù” và “Động – Tĩnh”
Tư duy và nhận thức của người Âu
Hầu hết các dân tộc ở châu Âu, cụ thể là các dân tộc trước đây nằm trong vùng ảnh hưởng của Đế quốc Rôma, đều có một nét văn hoá chung: Tư duy của họ đặt nền trên sự phân biệt phái tính. Lối tư duy này được phản ảnh qua ngôn ngữ họ dùng. Và ngôn ngữ của họ lại chịu ảnh hưởng của tiếng Hy Lạp và Latin, đặc biệt là Latin. Ảnh hưởng chữ Latin trên các dân tộc Âu châu có thể sánh như ảnh hưởng của chữ Nho xưa kia trên các dân tộc Hán, Việt, Nhật và Hàn.
Người Latin là một bộ tộc xuất hiện cách đây vào khoảng ba ngàn năm tại miền đất mà nay gọi là Italia. Họ sống trong vùng Latinum, hạ lưu sông Tiber, bên cạnh bộ tộc Roma. Vào giữa thế kỷ thứ VI trước công nguyên, sau nhiều cuộc chiến, tộc Roma rốt cuộc đã chiến thắng tộc Latin và sát nhập họ vào mình, để biến thành trung tâm của Đế quốc Roma về sau này.
Tộc Latin có một nền văn hoá cao, thể hiện qua ngôn ngữ và chữ viết của họ – chữ Latin với các vần a, b, c…, như ta thấy rất phổ biến ngày nay. Và ngôn ngữ này đã được phổ biến rộng rãi theo đà phát triển của Đế quốc Roma.
Khi một dân tộc nhận vào mình một thứ ngôn ngữ nào, thì cũng có nghĩa là dân tộc đó bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ và nhận thức của ngôn ngữ đó.
Người Latin tư duy trên nền tảng phái tính. Họ dùng lăng kính Giới Tính để nhận thức và phân loại thực tại, cả thực tại hữu hình lẫn vô hình. Trước một thực tại, câu hỏi đầu tiên – đã thành vô thức – trong đầu họ là: Đối tượng này thuộc giống nào: Đực, cái hay trung tính? Không rõ trước khi chịu ảnh hưởng la-tin các tộc Âu châu đã sẵn có lối tư duy phái tính chưa. Dù sao, một khi đã bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ Latin, tư duy của họ chắc chắn cũng bị đổi theo.
Phái tính (đực, cái hay trung tính) nơi tiếng Latin, cũng như nơi tiếng Rumani và Bungari, không được biểu thị bằng các mạo từ đứng trước danh từ, mà bằng các lối chia hoặc các thay đổi vần cuối của từ ngữ.
Nơi tiếng Đức, Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, sự phân biệt phái tính được xác định bởi các mạo từ.
Người Pháp nhận thức đối tượng ở hai giống: Đực (với mạo từ Le như le mari: Người chồng, le boeuf: bò đực, le pain: bánh mì – đực!) hay Cái (với mạo từ La, như la femme: Đàn bà hay người vợ, la vache: bò cái, la baguette: bánh mì ba-gét – cái!). Người Ý với mạo từ Il (đực) và La (cái). Người Tây-ban-nha với El (đực), La (cái). Người Bồ-đào-nha với O (đực) và A (cái).
Tiếng Đức gần Latin hơn, ngoài giống Đực (mạo từ Der) và Cái (Die), còn thêm một giống nữa: Trung Tính (Das). Trung tính không chỉ dành cho một số sự vật và động vật, mà ngay cả con người cũng được xếp vào loại này: Trẻ con (das Kind) và thiếu nữ ở tuổi vị thành niên (das Mädchen) được coi là trung tính.
Riêng các tộc Anglo-Saxon (Anh, Wales, Ái-nhĩ-lan) trước đây tuy cũng chịu ảnh hưởng của Đế quốc Roma và nay vẫn dùng vần latin, nhưng ngôn ngữ của họ không bị ảnh hưởng về lối tư duy phái tính của Latin.
Hy Lạp cũng nằm trong Đế quốc Roma. Nhưng dân tộc này có chữ viết riêng rất sớm và hệ thống chữ viết của họ được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, nhờ những cuộc chinh phạt của Đại Đế Alexander. Và khi Đế quốc Roma phân thành hai khối: Đế quốc Roma Phía Tây với kinh đô Roma và Đế quốc Roma Phía Đông với kinh đô Constantinopel, thì tiếng Hy Lạp đã được dùng làm quốc ngữ chung cho Đế quốc Roma Phía Đông, trong khi quốc ngữ chung của Đế quốc Roma phía Tây là Latin. Latinum trước đây vốn là vùng đất chính của Quốc gia Giáo Hội, nên nước Vatican (Toà Thánh) ngày nay vẫn dùng Latin như là quốc ngữ chính thức của mình.
Dân Hy Lạp cũng tư duy trên nền tảng phái tính. Ngôn ngữ của họ cũng có ba giống được biểu thị bằng các mạo từ đi trước danh từ: O (đực), η (cái) và Τo (trung tính).
Tóm lại, vì nhận thức thực tại trước hết và trên hết qua lăng kính Giới Tính, nên các dân tộc Âu châu nhạy cảm với những gì liên quan đến phái tính. Kitô giáo, vốn là văn hoá nền tảng của Âu châu và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư duy Latin và Hy Lạp, là tôn giáo đầu tiên nói tới sự bình đẳng nam nữ. Nữ giới ở Âu châu vì thế sớm ý thức về vai trò và chỗ đứng của mình, để từ đó đấu tranh cho sự bình đẳng của họ. Người Âu ngày nay thông thoáng về chuyện tình dục và dễ dàng đề cập tới nó. Gender-study là một sản phẩm từ Mỹ, nhưng lại được vận dụng tích cực ở Âu châu.
Ở đây có một điểm khó hiểu: Tại sao cùng một thực tại mà các dân tộc nói trên lại nhận thức khác nhau về mặt phái tính? Cùng là “Mặt Trời”, người Pháp, Hy Lạp, Latin nhận dạng đó là “ông Trời” (Le Soleil), người Đức thì lại gọi là “bà Trời” (die Sonne)? Tại sao người Đức gọi anh Trăng (der Mond), trong khi người Pháp lại gọi là chị Trăng (la lune)?
Còn người Việt thì thế nào cũng xong, lúc thì “ông Trời”, lúc thì [ông Trăng mà lấy] “bà Trời”, vừa ông Trăng lẫn chị Hằng. Tiên: Bà tiên hay Cô tiên và Phật: Ông ở Trung-hoa, khi sang Việt Nam, lại được gắn cho thêm một phái tính nữa là Tiên Ông, Phật Bà Quan Âm.
Đây là lãnh vực nói lên vũ trụ tư duy và nhận thức vô cùng thâm thuý và đặc trưng của mỗi dân tộc. Nhưng nó không thuộc vào đề tài khảo sát này.
Tư duy và nhận thức của người Việt Nam
Người Việt không nhận thức qua lăng kính Giới Tính. Trái lại, họ nhận thức qua lăng kính Loại/ Loài hay Phạm Trù (Kategorie) và lăng kính Động-Tĩnh.
Trước một thực tại, người Việt không hỏi, đây là nam hay nữ, đực hay cái. Mà họ xếp ngay đối tượng đó thuộc Loại nào: loại NGƯỜI (người Mỹ, người Ăn Mày, người Cộng Sản), loại CHIM (chim Cu, chim Đa-đa) loại CÂY (cây Khế, cây Chanh), loại HOA (hoa Ti-gôn, hoa Nhài), loại ĐỒ (vật), loại ĂN v.v..
Ở đây, cần thêm vài dòng về từ loại: Đồ và Ăn. Vì đã không hiểu ra lối tư duy theo Loại hay Phạm Trù, nên cho tới nay vẫn có nhiều người suy diễn sai về hai từ này. Thậm chí đã có những nhận định sai về từ ĂN trong một số nghiên cứu nghiêm chỉnh.
Đồ là chữ viết tắt của Đồ Vật. Nó là một loại từ chỉ chung tất cả những gì thuộc đồ vật. Về chất liệu, chẳng hạn ta có: Đồ đá, đồ đồng, đố sứ, đồ sắt; “nghĩ rằng Đồ Thật hoá Đồ Chơi!” (Tiến Sĩ Giấy – Nguyễn Khuyến). Về ẩm thực: Đồ ăn, đồ uống, đồ nóng, đồ lạnh. Về y phục: Đồ trang sức, đồ lót, đồ may mặc. Sính của ngoại: Đồ Tàu, đồ Tây, đồ Mỹ. Thích của lạ: “Ra đi cho biết Đồ Sơn, đi rồi mới biết không hơn Đồ Nhà”!
Từ ĂN, ngoài nghĩa thông thường (nghĩa đen) chủ yếu là một động từ: Đưa một thứ gì vào miệng và nhai nuốt, còn có nghĩa (bóng) là tìm cách thu nhận hoặc thủ đắc cho mình một cái lợi nào đó. Với nghĩa (bóng) này, ta có tới hàng trăm từ kép đi với Ăn: Ăn cướp, ăn trộm (chiếm một cái lợi cho mình bằng con đường bất chính); ăn năn (tìm sự tha thứ – cái lợi cho mình qua đường hối lỗi); ăn tục nói phét (tìm danh cho mình bằng ngôn từ dao to búa lớn); ăn hại, ăn dầm nằm dề (tìm lợi cho mình bằng cách tạo bất lợi cho người khác); ăn sống nuốt tươi: Vừa có nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; nghĩa bóng là giành cái lợi cho mình qua việc đe doạ người khác. Ăn cưới, ăn hỏi cũng mang cả hai nghĩa: Nghĩa bóng là thủ đắc vợ hoặc chồng cho mình qua thủ tục cưới hỏi. Ăn nằm: Tìm lợi thú cho mình qua việc chăn gối.
Trước đây, khi bàn tới từ Ăn, một số nhà nghiên cứu cho rằng, cái đói là một hằng số trong suốt lịch sử nước nhà, nên dân tộc ta đã bị ám ảnh bởi cái đói, và vì thế chữ Ăn đã đi vào khắp nơi trong ngôn ngữ! Nay thì đã rõ: Nghĩa bóng của Ăn cũng được dùng như một loại từ để diễn tả một phạm trù chung.
Người Âu nhận thức trực tiếp vào sự vật, nắm bắt ngay sự vật, không qua cầu phân Loại. Hỏi: Cái gì đó? – Thưa: Die Narzisse! (Thuỷ-tiên – cái! Người Việt sẽ trả lời: Hoa Thuỷ-tiên); – Der Lotus! (Sen – đực! Người Việt: Hoa Sen); – An American! (một Mỹ – nam! Người Việt: Một người Mỹ đàn ông)…
Còn ta nhận thức theo lối bắc cầu, qua cầu tổng hợp để đi vào từng cá thể.
Hai lối nhận thức trực tiếp hay bắc cầu này ảnh hưởng cụ thể trên nếp nghĩ và lối ứng xử của mỗi dân tộc. Tư duy bắc cầu mang tính quy nạp, cổ vũ óc tổng hợp (chín bỏ làm mười, chuộng sự hài hòa, nghĩ qua-loa, làm phiên-phiến). Tư duy trực tiếp mang tính phân tích, cổ xuý tinh thần khoa học, chuộng việc truy tìm chân lý.
Song song với cầu Loại hay Phạm Trù, người Việt còn nhận thức qua cầu Động-Tĩnh. Trước một thực tại, câu hỏi vô thức của họ: Thực tại này thuộc thế giới Động hay Tĩnh?
Tất cả các động vật (nhân vật, thú vật) được người Việt xếp vào thế giới Động với mạo từ CON. Các sự vật hay đồ vật được xếp vào thế giới Tĩnh: CÁI. Như vậy, Động có nghĩa là có sự sống; Tĩnh là không có sự sống. Chữ “sống động” nói lên ý nghĩa đó: hễ sống là có động.
Những sự vật hay đồ vật nào có thể di động khi sử dụng hay lúc vận hành thì cũng được xếp vào loại CON: Con dao (di động khi chặt, bằm, đâm; dao nằm yên một chỗ có thể gọi Cái dao), Con thuyền (nếu cắm sào đứng yên thì gọi là Cái ghe), Cơn mây – vần vũ trên trời (Con đọc thành Cơn), Con nước – cuồn cuộn trong sông, Con suối – róc rách, CON cu (chỉ bộ phận sinh dục nam; ‘Chim’ Cu là một động vật, nói lên nguyên lý Động), CÁI hĩm (chỉ bộ phận sinh dục nữ, mang nguyên lý Tĩnh).
Trai hay gái cũng là Con: con trai, con gái, vì cả hai đều là động vật. Nhưng qua lối gọi của người bình dân: Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé (Anh Phải Sống của Khái Hưng), và qua hình ảnh biểu tượng con Cu cái Hĩm, ta cũng thấy rằng, Con biểu hiện Nam giới, Cái biểu hiện Nữ giới. Chẳng có bạn hữu nào lâu ngày gặp nhau, hỏi: “Con ra sao rồi”? Mà phải: “Con cái ra sao rồi”, thì mới đầy đủ. Nàng về nuôi Cái cùng Con, để anh đi trẩy nước non Cao Bằng! Câu Nguyễn Trãi hỏi Nguyễn Thị Lộ: “Đã có chồng chưa, được mấy con” có lẽ vì bị hạn chế bởi thi vận nên thiếu mất từ “cái”? Hay ở đây ông cố vấn họ Nguyễn cũng đã nghĩ tới nguyên lý Động, khi hỏi như thế?
Có người bảo, chữ Cái trong câu “nàng về nuôi cái cùng con” có nghĩa là Mẹ, bởi vì nó cũng cùng một nghĩa như trong “con dại cái mang” (con hư tại mẹ). Vâng, có thể hiểu như thế. Nhưng đây lại là thêm một nghĩa khác của từ Cái, nằm ngoài ngữ cảnh đang luận bàn. Cũng như “đường cái” (đường quan) là con đường lớn, đường chính, khác với “đường con” là lối đi nhỏ, đường phụ, đường hẻm.
CON và CÁI là một nhận thức thuần Việt. Trong Lột Trần Việt Ngữ, Bình Nguyên Lộc cho hay, các dân tộc chung quanh Việt Nam như Mã-lai, Nam-dương, Chàm, Thái, Nhật, Cao-miên đều không có hai khái niệm CON và CÁI. Lại nữa, theo Ngô Nhân Dụng (Đứng Vững Ngàn Năm, Người Việt 2013, đặc biệt chương Người Việt dùng chữ Hán, tr. 209-220), CON và CÁI chỉ áp dụng hoàn chỉnh với những từ thuần (gốc) Việt, chứ những từ lai Hán (Hán -Việt) nhiều trường hợp không áp dụng được. Nói chung, những từ nào không đi được với CON và CÁI thường là từ lai Hán.
Cũng theo tác giả họ Ngô, trong quá trình tiếp xúc với văn hoá Trung-hoa, người Việt đã dần đưa vào kho ngôn ngữ đang phôi thai của mình những từ gốc Hán, để diễn tả những thứ có thể lúc đó mình chưa có. Chẳng hạn: Bút, Bàn, Sách, Học, Côn, Kiếm, Quần. CÁI có thể áp dụng cho những từ lai Hán đứng độc lập đã được Việt hoá như Cái Bàn, Cái Bút, Cái Quần; nhưng không thể nói Cái Thụ (Cái Cây [Việt]), Con Nữ (con Gái [Việt]).
Như vậy, Nam thuộc nguyên lý Động, Nữ thuộc nguyên lý Tĩnh. Mà Động có giá trị hơn Tĩnh, nên có chuyện “nam trọng nữ khinh”; đồ vật không quý bằng động vật; Cái kém giá trị hơn Con.
Thế nên, một khi Con biến thành Cái, có nghĩa là bị đồ vật hoá, thì nó mang nghĩa xấu.
Ngôn ngữ chửi là một thí dụ. Hãy bỏ qua sự thô tục của lời văn.
Hoạt cảnh sau đây tôi được mục kích lúc còn nhỏ: “Mả cha CÁI thằng L.!”… Bên kia đường, một bà đứng vén quần chõ miệng sang chửi. Chửi một lúc, bà bỏ vô nhà, rồi lại ra chửi tiếp. Bà nguyền rủa, đào bới hết tổ tiên nhiều đời của ông nhà bên kia đường: “Mả cha CÁI thằng cha mi! Mả cha CÁI con mẹ mi!” … Và, có lẽ vì quá giận bởi lối chửi bất kham và dai dẳng, ông bên này đường bỗng bước ra sân, hét sang phía bên kia: “Mả chi, mả CÁI con c.c tau đây này!” Rồi biến vào nhà. Thế là, như lân gặp pháo, bà bên kia lồng lên, cong cớn đay nghiến: “Láo hè! CON c.c mi ăn thua chi bằng CÁI l. tau!”
“Cái thằng L., Cái con c., Cái thằng cha mi, Cái con mẹ mi”. Ở đây, vật và người đã bị tước đi phẩm cách, nghĩa là đã bị đồ vật hoá, để biến thành những thứ cặn bã, xấu xa. Nếu không có từ CÁI để nói lên sự đồ vật hoá, lời chửi thiếu hồn.
Chữ Cái dùng trong hai câu ca dao sau đây cũng nằm trong âm hưởng đó: Cái Cò cái Vạc cái Nông, sao (chúng) mày dẵm lúa nhà ông hỡi Cò! Lẽ ra phải là “con Cò con Vạc con Nông…”, nhưng Con ở đây đã biến thành Cái, nghĩa là bị đồ vật hoá, với ý nghĩa đó là một lời trách móc, thóa mạ. Đó là nghĩa đen. Nghĩa ẩn dụ của hai câu thơ muốn nói lên hình ảnh một người đàn bà đang phải lặn lội ngoài đồng kiếm của ăn cho con cái; chữ Cái ở đây như vậy ám chỉ một người nữ.
Loại từ ĐỒ cũng thế. Để chửi một kẻ vô ơn: Đồ ăn cháo đá bát! Đồ ăn hại! Đồ vô phúc! Hay chửi một kẻ thiếu thành thật: Đồ đểu! Đồ lưu manh! Chửi một kẻ ác độc: Đồ súc sinh! Đồ chết tiệt! Nếu câu chửi chỉ là: “Mầy là kẻ vô ơn/ tay lưu manh/ tên độc ác”, thì đối tượng bị chửi một cách nào đó vẫn còn chất người. Phải có chữ Đồ vào, để tước đi cái chất người ra khỏi họ, nghĩa là biến họ thành đồ vật, thì câu chửi mới đã, ý chửi mới thâm!
Bài II: Văn hóa “Tình”
Quê tôi có một ông tên là “cu Ba”. Nhỏ con, hay rượu, nên mặt mũi thường đỏ gay. Vì là con trai đầu lòng, người ta đệm thêm chữ “cu” vào tên gọi của ông. Ai có con gái đầu, được đệm thêm từ “Hoe”, chẳng hạn như ông “hoe Quy”.
Không hiểu ông có biết chữ hay không, chứ khả năng làm thơ thì khỏi nói. Có mặt ông, đám gánh nhà nào, dù căn nhà nặng bao nhiêu, cũng trở nên nhẹ tênh. Ông hò lên hai câu thơ trào phúng, ba bốn chục thanh niên vỡ bụng cười, xông vai vào khiêng căn nhà kéo một hơi đi cả trăm mét không nghỉ.
Ông cũng thường xuất hiện trong các đám gặt lúa. Đàn bà con gái cắt lúa, đàn ông thanh niên đập lúa ngay giữa đồng. Công việc nặng nhọc, nhưng cảm thấy vui, nhẹ nhàng, nhờ những câu thơ xuất khẩu rất hợp tình hợp cảnh và luôn vướng chút mùi tục của ông. Mặt trời như thiêu đốt không gian, nhưng những tiếng cười vẫn nổ vang. Bất cứ gặp tình cảnh nào, ông cũng đều có ngay những câu thơ tương ứng. Tài thật…
Nhưng kinh nghiệm cuộc đời cho tôi thấy, người Việt không chỉ có một ông cu Ba, mà có rất nhiều người có khả năng xuất khẩu thành thơ như ông. Xem ra thiên nhiên đã cài sẵn di tử (gen) ca dao trong mỗi con người Việt Nam. Người Việt sính thơ, vì cuộc sống của họ chan đầy tình cảm? Hay vì tình cảm, mà dân mình thích thơ? Và thơ, ca dao vốn là phương tiện thích hợp nhất để diễn tả tâm tình. Người Việt giỏi thơ và làm thơ hay, nhưng lại thiếu óc khoa học. Vì sao?
Khái niệm “khoa học” là một cái gì rất mới đối với chúng ta. Nó chỉ mới có hơn 100 năm nay, kể từ khi người Pháp đem nền tân học thay cho lối học cũ vào đầu thế kỷ 20. Trong khi các dân tộc Âu châu làm quen với khoa học đã trên dưới 600 năm rồi. Trước đây, “khoa học” của chúng ta chủ yếu là các câu thần chú của thầy Khổng, thầy Mạnh nằm gọn trong Tứ thư, Ngũ kinh. Thêm vào đó là một số hiểu biết mang tính cha truyền con nối, chứa đựng nơi những câu ca dao, tục ngữ.
Khoa học đòi hỏi cái nhìn khách quan. Khách quan là khả năng tự tách mình ra khỏi đối tượng, để quan sát, phân tích và nhận định nó qua những dữ kiện có được, chứ không qua sự thúc đẩy của con tim. Có khách quan tìm hiểu, thì mới có được chân lý. Như vậy, khách quan gắn liền với lý trí. Song vì đã đắm chìm trong tình cảm, họ không thể có được tính khách quan, vốn là một yếu tố quan trọng hình thành nên khoa học.
Vi vậy mà dân Việt nói riêng, và dân Á Đông nói chung, không phát triển được khoa học. Người Á Đông đã có rất sớm nhiều tư tưởng hay và đã có nhiều khám phá kỹ thuật thần kỳ, nhưng đã chẳng có được sự minh bạch và chính xác của lý trí để phân tích và hệ thống hóa chúng, hầu biến thành khoa học. Trong khi đó, lý trí phương Tây đã biết nắm lấy những thứ đó, để đi tới.
Khoa học coi trọng lý trí. Trong khi chúng ta thì “một trăm cái Lý không bằng một tí cái Tình”. Đó là phương châm và minh triết sống của người Việt. Chuyện đúng hay sai chẳng cần biết, chỉ cần vo cho tròn là được. Có người dám cả “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” (tựa đề một cuốn sách được giải thưởng thời Đệ Nhất Cộng Hoà của Nguyễn Mạnh Côn)! Họ trân trọng Tình. Còn Lý là thứ có cũng tốt mà không cũng chả sao.
Cố giáo sư Trần Duy Nhiên kể [i]: Trong một buổi trao đổi (năm 2002) với các sinh viên thần học của một Học Viện tại Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Khắc Dương phát biểu: “Ở Việt Nam không có trí thức, chỉ có sĩ phu mà thôi” và ông giải thích: “Người trí thức tìm kiếm cái Chân, còn người sĩ phu tìm kiếm cái Thiện. Người phương Tây luôn luôn tìm sự thật vì sự thật, và sống chết cho sự thật. Đối với người phương Đông, đặc biệt là người VN, thì đúng sai không thành vấn đề lắm, miễn làm sao sống có đạo đức, nghĩa là hợp với cái Thiện. Nói sai sự thật một chút cũng chẳng sao, miễn là mối giao tiếp giữa con người được hòa thuận”.
Một thí dụ cho thấy sự miệt thị sự thật là các bài điếu văn cho các nhân vật vị vọng. Sống chả làm gì hoặc lỗi lầm gia trọng, chết thì lại được ca khen hết cỡ. Ca khen đến phi lý. Những bài điếu đó cứ thế được gom nhặt thành Tiểu Sử; Tiểu Sử dần trở thành Lịch Sử. Mà Lịch Sử theo quan niệm của người Việt là gì? Đỗ Kim Thêm [ii] cho hay, người Âu-Mỹ quan niệm Lịch Sử là “toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc”. Còn người Việt thì lại coi đó là một biến cố rất quan trọng; nhưng quan trọng thế nào, thì còn tùy vào quan điểm, lối nhìn, tình cảm của người viết!
Khi người Âu-Mỹ nói: Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, thì có nghĩa trước tiên: Đây là một nhân vật có mặt thật sự và được ghi nhận rõ ràng trong một không gian và thời gian nhất định. Còn người mình thì hiểu: Đó là một nhân vật có ảnh hưởng rất lớn. Mà lớn thế nào? Tuỳ. Ông Quốc Gia bảo, “nó” là một “tên đại đểu, đại bịp”! Bà Cộng Sản thì bảo, “hãy học tập tư tưởng và sống theo gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại”! Còn nhân vật đó thật sự là ai, gốc gác như thế nào, địa hạt này ta dành cho người ngoại quốc, còn mình chẳng mấy ai quan tâm. Mà không quan tâm là phải, vì mình có thiết gì sự thật lắm đâu.
Đặc điểm không màng sự thật này của dân tộc Việt đã được Hàn Dũ (768-824) nói tới cách đây 13 thế kỷ: “Việt tộc bất hiếu cổ. Lưu truyền thất kỳ chân”: Người Việt không thích điều xưa cũ. Mà có lưu truyền thì lại làm mất sự thật. Hay như Trần Khuê [iii] diễn tả một cách mới: “Ở ta có cái nguy là hai tư tưởng đúng-sai cùng tồn tại; chả ai phê phán đúng-sai, nên dần cái Đúng Thật thì bỏ quên, cái Sai thì dần thành cái Đúng Giả mà tưởng là cái Đúng Thật”.
Lý trí khoa học đòi hỏi sự chuẩn xác, đó là thứ chúng ta lại thiếu.
Đầu thập niên 80, chúng tôi là một nhóm vài chục sinh viên ngoại quốc. Ông linh mục tuyên uý người Đức tạo cơ hội cho chúng tôi gặp gỡ, bằng cách cứ mỗi tháng lại tụ về căn hộ của ông nói chuyện và ăn uống. Mỗi cuộc họp, một quốc gia phụ trách nấu nướng. Trong lúc cả nhóm trao đổi một đề tài, thì quốc gia tới phiên lo chuyện làm bếp. Tôi ngạc nhiên thích thú theo dõi anh người Nhật nấu cơm. Anh mang tới một cái ca riêng có ghi dung lượng để đong nước và đong gạo. Khi biết số người dự, anh tính ra phải cần bao nhiêu ca gạo, vo qua, cho vào nồi và đổ vào bao nhiêu ca nước. Bật lò đợt 1 rồi ra ngồi tham dự câu chuyện. Xưa nay chưa có người tới phiên nấu nướng nào bài bản và ung dung như anh này. Đúng bao nhiêu phút, anh trở vô bếp, rồi lại ra dự tiếp. Hay thật, nồi cơm của anh có công thức rõ ràng: Bao nhiêu người bấy nhiêu gạo và bấy nhiêu nước; bao nhiêu gạo nước, bấy nhiêu phút thì sôi, bấy nhiêu phút phải hãm điện, bấy nhiêu thời gian thì cơm chín. Mọi công đoạn đều được chuẩn hóa. Nhờ có công thức chuẩn hóa như thế, việc truyền dạy nấu cơm trở nên dễ dàng.
Người Nhật truyền dạy một công thức nấu ăn, chứ không truyền thừa một kinh nghiệm mơ hồ như kiểu chúng ta: “Cơm sôi bớt lửa một đời không khê”!
Tóm lại, vì quá dựa trên tình cảm, chúng ta thiếu sự chính xác của lý trí, không tôn trọng sự thật, nhập nhằng trong các khái niệm khoa học. Vì thế, về mặt kỹ thuật, chúng ta chẳng có được sáng chế kỹ thuật nào, đã đành; về mặt khoa học xã hội (lịch sử, kinh tế, chính trị…), những quan điểm của chúng ta cũng vì thế chẳng có giá trị.
Thiếu tự tin
Người Nhật tiếp thu Khoa Học trước mình cỡ 50 năm, đâu có lâu gì. Nhưng tại sao họ phát triển được khoa học và có được đầu óc khoa học, chứ không như chúng ta?
Có thể là vì dân Nhật không có “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Và nhất là có thể vì họ đủ tự tin nơi chính họ, nơi dân tộc họ.
Cũng Trần Duy Nhiên kể lại: Khi Roland Jacques, một linh mục công giáo và là giáo sư một đại học ở Canađa đến khoa Việt Hán Trường Khoa Học Xã Hội tại Sài Gòn, để công bố một số văn bản xưa nhất về chữ quốc ngữ mà ông đã phát hiện trong thư viện lưu trữ của dòng Tên ở Lissabon. Ông tình cờ gặp giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng từ Canađa vừa về Việt Nam. Vì đã biết nhau ở Canađa, giáo sư Trung liền vồn vã lên tiếng chào: “Bonjour mon père” (chào cha). Linh mục Jacques nắm tay kéo giáo sư Nhiên ra hai bước mà nói nhỏ nhưng dứt khoát: “Nói dùm với ông ấy đừng dùng chữ père ở giữa các giáo sư như thế này”. Roland Jacques muốn xác định rõ ràng rằng, mình là giáo sư giữa những giáo sư, và công trình mà mình sắp trình bày là một công trình khoa học, chứ không dính dấp gì đến chức linh mục.
Nếu ở vào hoàn cảnh của Roland Jacques, người Việt chúng ta sẽ phản ứng ra sao? Cá nhân tôi tin rằng, hẳn sẽ chẳng ai cảm thấy khó chịu gì cả. Là vì người mình coi chức tước giáo sĩ quan trọng hơn chuyện khoa học.
Nếu chỉ như thế, thì cũng chẳng sao. Nhưng nguy hiểm, là khi người ta lấy chức tước hay địa vị lẫn học vị làm bảo chứng cho khả năng chuyên môn.
Thí dụ đầy rẫy trên các hệ thống truyền thông. Cũng một điều đó, một nội dung đó do một ai đó nói hay viết ra – nhiều khi hay hơn, sâu sắc hơn – thì người ta chẳng quan tâm; nhưng nếu nó từ miệng hay ngòi bút của một vị có chút tước (tiến sĩ, đại đức, linh mục, mục sư) thêm vào, thì thiên hạ xuýt xoa nhận lấy như đó là chân lý.
Một kinh nghiệm nữa: Chúng tôi thực hiện một tuyển tập chuyên đề. Nhiều người viết, có cả giáo sĩ. Nhiều người đưa đề nghị: Chỉ ghi tên tác giả mà thôi, không ghi chức danh gì cả. Thì có ý kiến chống lại ngay: Phải ghi cả chức tước cho các giáo sĩ, vì đây không phải là chức, mà là phẩm chất của người viết và vì “người ta không chịu như thế đâu”!
Chuyện xem ra chẳng có gì, nhưng suýt rách việc. Trước đây, tôi cũng đã có kinh nghiệm tương tự đối với một tạp chí nghiên cứu. Một phía thì cứ khăng khăng phải ghi chức danh, đặc biệt chức tước giáo sĩ, vào trước tên tác giả. Một phía thì bảo, chỉ ghi tên không mà thôi: Tên của họ là bảo chứng cho những gì họ viết; còn nếu cần để cho độc giả biết thêm về hậu cảnh chuyên môn của tác giả, thì ghi thêm tước vị, học vị, nghề nghiệp và các sáng tác của họ như một ghi chú ở cuối trang hay cuối bài. Cuối cùng, nhờ một người ngoại quốc (cũng lại là Roland Jacques!), mà quan điểm sau thắng thế: Người ta viết với tư cách làm khoa học, chứ không phải với tư cách một nhà tu!
Tại sao người mình lấn cấn về chuyện này? Theo tôi, chung quy cũng tại vì thiếu tự tin. Họ không quen sống tự lập, không tin vào khả năng mình, thành ra phải cần những cái mặt (nạ) đễ hỗ trợ. Chỉ sợ mất “mặt”. Những “mặt” chức tước (giáo sư, phó giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, linh mục, mục sư, thượng toạ, nhà văn, nhà báo…), “mặt” bằng cấp (tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ…). Không có những thứ đó, họ cảm thấy mình trần truồng, vô giá trị. Đây là một trong những lý do cắt nghĩa cho cảnh loạn chợ mua sắm bằng cấp hiện nay ở Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Tình cảm biến thành ngôn ngữ
Sống trong vũ trụ tình cảm đã là một bất lợi cho sự phát triển tinh thần khoa học. Điều còn nguy hiểm hơn, là vũ trụ tình cảm đó đã biến thành ngôn ngữ danh xưng và giao tiếp hàng ngày. Đây là yếu tố nguy hiểm nhất giết chết tinh thần khoa học.
Với người Việt, làm văn hóa hay làm khoa học, trước hết là một cách thế để tuyên xưng hoặc giải toả tình cảm cá nhân.
Người Âu-Mỹ diễn tả một sự kiện, không đánh giá. Cũng một sự kiện đó, khi được diễn tả qua Việt ngữ, người ta biến nó thành một tình cảm chủ quan cá nhân, bằng cách sử dụng những từ nhân xưng đượm cảm tính như: Đức, Cụ, Ông, Hắn, Ngài, Ông ta, Bà ta, Nó, Thằng, Kẻ, Tên đó…
Đụng tới Nguyễn Khuyến là phải “cụ”; Hitler, Mao, Hồ là phải “Y”, Tăng Thống X, Y nào đó là phải “đức”. Tại sao không thể viết tên của họ một cách đơn giản và không đánh giá như: “Nguyễn Khuyến là nhà thơ ở Yên Đỗ”, “Hồ Chí Minh bịt râu đi xem bộ hạ giết bà Cát Thanh Long” (Trần Đĩnh), “Gioan Phaolô II được tôn làm thánh trong Giáo Hội công giáo”?
Lối xưng hô “cụ”, “y”, “đức” ở đây được coi là “phải đạo”, đúng “chính danh”. Nhưng sự chính danh này lại tùy vào thái độ tình cảm của mỗi người, của mỗi tập thể bênh hay chống, ghét hay thương. Cũng một nhân vật, khi thương thì một “ông” hai “đức”, khi ghét thì “y”, “hắn”. Phẩm giá của một con người như vậy bị tước đi một cách tùy tiện. Làm sao hoàn trả cái mất mát đó, khi cơm lành canh ngọt trở lại? Người Đức có câu với lối chơi chữ: “Ein Urteil kann man noch ändern, ein Vorurteil nicht”. (Một bản án của toà án có thể sửa đổi, nhưng một định kiến thì không). Như vậy, tính chính danh Nho giáo triệt tiêu tính khách quan khoa học.
Thêm nữa, cũng vì không phân biệt được giữa khách quan khoa học và chủ quan tình cảm, nhiều tài liệu liên quan tới tôn giáo đã bị biến thành kinh kệ cho riêng một nhóm tín đồ. Chẳng hạn, khi dịch lá thư “Hoà Bình Trên Địa Cầu” gởi đến “tất cả mọi người thiện chí” trên thế giới, có người đã thoải mái dùng chữ “Ta” kênh kiệu để dịch chữ “Nous”, “We” (Chúng tôi) hoặc chữ “Các con” để dịch chữ “Vous”, “You” (các Bạn, Quý vị) của giáo tông Gioan XXIII. Chỉ có người Việt bắt Gioan XXIII phải cao ngạo như thế, chứ bản thân Giáo Tông này đâu như thế!
Vì trọng tình, người Việt thiếu văn hóa Đối Thoại. Đối thoại cần lý trí biện giải, chứ không cần khả năng mắng chửi. Và cũng vì trọng tình, chỉ dựa trên tình cảm, hầu hết những cuộc kết hợp làm ăn – kể cả giữa chính những người trong thân tộc, mà tôi thấy ở hải ngoại – đều tan vỡ hoặc thất bại, vì thiếu một hợp đồng rõ ràng ngay từ đầu. Đó là hai hệ luỵ rõ nét nhất trong cuộc sống thường ngày.
Cần học hỏi và trau dồi tính khách quan
Như vậy, muốn có khoa học để giúp đất nước phát triển, để giúp dân tộc có được tiến bộ với những sáng tạo trong mọi ngành, người Việt chúng ta cần học và trau giồi tính khách quan. Nghĩa là phải biết dùng sự trong sáng và chính xác của Lý Trí để quan sát, phân tích và nhận định sự việc. Điều này thật ra không dễ, vì bản chất của người mình vốn không thích suy nghĩ và lý luận. Để có khách quan, phải luôn luôn ý thức, để thoát ra khỏi sự chi phối nặng nề của tình cảm. Ở đây dĩ nhiên tôi không nói phải loại trừ hoàn toàn tình cảm.
Mà do tình cảm đã biến thành ngôn ngữ thường ngày, nên điều phải ý thức đầu tiên là cách dùng từ khi làm văn hóa và khoa học: Tránh tối đa những râu ria cảm tính khi diễn tả sự việc. Khách quan khoa học không có tôn ti. Kính nể khoa học thể hiện qua các công trình chứ không qua bằng cấp, chức tước. Khi viết, tránh lạm phát với những từ như, đức, ngài, cụ, hắn, tên kia, con nọ…, vì đó không phải là ngôn ngữ khách quan.
Có như thế, may ra trong vài thế hệ nữa, chúng ta sẽ có được những sáng tạo, những sáng tác văn hóa và khoa học đáng trân trọng.
________
[i] “Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Roland Jacques: Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam” ngày 12.6.2004.
[ii] “Hoài niệm và phân tích về ngày 30.4.1975 để giải ảo nguỵ sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước”. Web Dân Luận, ngày 7.4.2015.
[iii] Mạc Văn Trang, Mấy Thu Hoạch Từ “Đối Thoại” của Trần Khuê. Trang Tiếng Dân, ngày 02.05.2020.
________
Bài III: Văn hóa “Xin”
Trong sách Duy Văn Sử Quan (1990, trang 153) Hoàng Văn Chí kể: Hồi Phan Bội Châu mới sang Tàu để tìm cách mở phong trào Đông Du, một nhân sĩ trung-hoa là Dương Giác Đôn đưa ông tới yết kiến Trang Uẩn Khoan, viên đại thần của triều đình Mãn Thanh. Vị đại thần tiếp đãi rất tử tế và có biếu một món tiền trợ cấp. Khi Phan ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn: Người An-nam có bản tính nô lệ, dù có vài chí sĩ như ông này (Phan Bội Châu) thì cũng chẳng làm nên trò trống gì.
Tác giả kể tiếp: Năm 1912, Tôn Văn viếng thăm Nhật Bản và được chính khách nhật là Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) khoản đãi. Sau bữa tiệc, Khuyển bất thần hỏi Tôn: Tôi được biết Tôn sinh có dịp qua Hà Nội, xin Tôn sinh cho biết Tôn ý về dân tộc An-nam. Bị hỏi đột ngột, Tôn chỉ kịp nhớ câu nói của Trang Uẩn Khoan trước đây, đáp: Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai!
Có lẽ nhiều người Việt sẽ phẫn nộ, khi nghe Trang và Tôn phát biểu như thế!
Sau khi gặp Tôn, Khuyển Dưỡng Nghị cho gọi một số du sinh người Việt (do Phan Bội Châu đưa sang Nhật) tới và kể rằng, ông đã đáp lại câu nhận định của Tôn như sau: “Điểm này, tôi không đồng ý với tiên sinh. Ngày nay họ (người Việt) thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân. Nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt chỉ có họ là không bị Hán hóa. Tôi tin rằng, một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, thì thế nào sớm muộn họ cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”.
Tôn Văn mắc cở, vì biết Khuyển muốn chơi mình: Tôn là người Quảng-đông, có tổ tiên là dân Á-khách (Hakka), một trong số Bách Việt, dân này đã bị Hán hóa. Câu chuyện trên đây được Lê Dư, một trong những du sinh có mặt thời đó, kể lại cho con rể mình là Hoàng Văn Chí và họ Hoàng đã thuật lại.
Cho tới nay, chúng ta cứ ăn mày quá khứ về chuyện mình đã giành lại được độc lập sau 1000 năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc, để biện minh cho tính kiên cường và anh hùng của dân tộc mình.
Nhưng nếu nhìn lịch sử từ hai trăm năm trở lại, thì quả có một sự thật khó có thể chối cãi: Người Việt thích cúi đầu và vọng ngoại. Cứ xem tinh thần nô lệ Đại Hán của vua quan thời nhà Nguyễn. Cứ xem tinh thần tay sai người Mỹ của các tướng lãnh miền nam Việt Nam trong vụ thanh toán nền Đệ I Cộng Hoà. Cứ xem bản chất nô thuộc Nga – Tàu của cộng sản Việt Nam hiện nay.
Và ai có thể phản bác điều này: Người Việt khép nép trước những người Âu – Mỹ da trắng, trong khi đó lại khi dể ra mặt các chủng tộc có màu da khác. Phân biệt chủng tộc là một nét chấm phá trong di tử (gen) của người Việt. (Tôi vẫn nghe người mình bên Mỹ nói: Nhất Đen nhì Xì! Nghĩa là người da đen được họ xếp vào hạng thấp nhất, trên đó một chút là dân Mễ).
Mà không chỉ khinh rẻ các chủng tộc khác, ngay chính người mình cũng chẳng tin nhau, coi thuờng nhau, sẵn sàng lừa đảo và tiêu diệt nhau.
Do hậu quả của những giai đoạn hoàn cảnh lịch sử vừa qua của đất nước? Hay còn do mặc cảm tự ti và tinh thần vọng ngoại của người mình? Mà ai dám bảo, người Việt chúng ta không tự ti và vọng ngoại? – Mỹ nó đã tính cả rồi! – Đợi xem thằng Pháp nó muốn gì! – Ta thì có thể lầm, nhưng bác Mao và bác Xít-ta-lin thì lầm sao được!
Vấn đề là tự ti và vọng ngoại đến từ đâu?
Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ bắt tay thầy cũ nhưng không thèm ngẩng lên nhìn mặt. (Ảnh trên mạng)
- Hậu quả của lịch sử lệ thuộc và giáo dục
Tự ti và vọng ngoại vốn là con đẻ của việc thiếu cá tính mạnh, thiếu tự tin, thiếu tự lập. Mà ba tính chất này đến từ đâu?
Phải chăng hậu quả một ngàn năm lệ thuộc Tàu, một trăm năm đô hộ Pháp, rồi tiếp tục hơn bảy mươi năm qua dưới chế độ bạo trị của đảng cộng sản đã khiến cho dân Việt phải luôn sống giả hình, luôn phải tìm cách luồn lách trong dối trá, để sống còn? Luồn lách làm nhụt nhân cách. Luồn lách mãi trở thành bản chất con người.
Biểu hiện của thứ nhân cách tha hóa này được Trần Khuê diễn tả như sau: “Ở ta có cái nguy là hai tư tưởng Đúng-Sai cùng tồn tại; chả ai phê phán Đúng-Sai, nên dần cái Đúng thật thì bỏ qua, cái Sai thì dần trở thành cái Đúng giả, mà tưởng là cái Đúng thật”. (Mạc Văn Trang, “Mấy thu hoạch từ Đối Thoại của Trần Khuê” – Tiếng Dân ngày 02.05.2020).
Cụ thể hơn: “Dân tộc mình là một dân tộc chạy trốn, hời hợt, không có một tính cách nào định hình định hướng rõ rệt, mờ nhạt, nên khôn cũng không ra khôn, mà lớn cũng không ra lớn”. (Nguyễn Thị Bích Ngà, “Tôi thấy sự thay đổi và có niềm tin vào sự thay đổi đó” – Thông Luận).
Hay còn rõ hơn: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình [tầm] thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường như mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dù có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết… Cái tệ ấy buổi đầu là do tính tình nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản mà không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại…” (Phan Bội Châu, “Lưu cầu huyết lệ tâm thư”).
Các nước Âu Mỹ tiếp nhận tị nạn khen người Việt khéo thích ứng. Thích ứng thật, hay cũng chỉ là luồn lách, giả bộ, như Hà Sĩ Phu nhận xét?
Có cha mẹ nào ở hải ngoại đã không một lần thốt ra: Sao trẻ con người bản xứ tự tin đến thế, mà con mình thì lại quá rụt rè, thụ động như thế! Và họ thường đi tới kết luận: Giáo dục của mình có vấn đề. Các nhà hàn lâm thì lại bắt mạch: Tất cả là do ảnh hưởng của Khổng giáo! Luân lý Khổng giáo với những dây thòng lọng “tam cương” (cho đàn ông), “tam tòng” (cho đàn bà), “hiếu đễ” (cho con cái)… đã trói con người Việt trong ách lễ giáo, ngăn cản sự phát triển nhân cách con người.
(Ở đây, ngoài đề một chút. Trong cuộc luận bàn “thoát Trung” lâu nay trên mạng, có tác giả đưa ra luận đề: “Thoát Trung” về mặt chính trị là nên, nhưng không thể và không nên “thoát Khổng”, vì dù sao Khổng giáo đã tạo cho chúng ta một xã hội ổn định, tốt đẹp trải qua cả ngàn năm! Tôi không đồng ý luận điểm này, là vì nếu không có Khổng giáo, hẳn chúng ta đã có một trật tự xã hội khác, và trật tự này chưa hẳn kém hơn, hay có khi lại còn tốt hơn xã hội Khổng giáo. Nên nhớ, dân tộc ta tháo gỡ được ách Hán thuộc, để thu hồi độc lập vào thế kỷ thứ 10, khi trật tự Khổng giáo chưa được thiết lập trên đất nước. Và văn minh Đại Việt đi vào thoái trào, sau khi Khổng giáo chiếm vị thế độc tôn trong xã hội Việt).
Tóm lại, hậu quả của sự nô thuộc kéo dài trong lịch sử và lối giáo dục gia đình và học đường của mình trước đây và hiện nay bên nhà chắc chắn có ảnh hưởng lên cá tính mỗi người. Nhưng đó cũng chỉ là một phần ảnh hưởng mà thôi. Theo tôi, cái gốc của thiếu tự tin và thiếu độc lập nằm nơi các nguyên do khác quan trọng hơn.
- Mạng lưới thân tộc và xã hội
Hãy nhìn vào hệ thống thân tộc. Con người Việt sinh ra và lớn lên trong một cấu trúc thân tộc phức tạp, chặt chẽ, và bị trói chặt trong mạng lưới đó. Cấu trúc này thể hiện qua một hệ thống danh xưng thân tộc vô cùng rắc rối. Có lẽ không dân tộc nào giàu danh xưng thân tộc như dân tộc Việt Nam. Vòng thân tộc của Âu Mỹ chỉ có Ông-Bà (nội ngoại), Cha-Mẹ, Chú-Cô, Anh-Chị-Em, Dâu-Rể, Cháu (trai gái) và Họ-hàng nói chung (Cousin). Trong khi cấu trúc thân tộc của ta thì vô cùng rắc rối. Nó gồm nhiều hệ thống hợp lại, trong đó có hai hệ thống lớn (Nội và Ngoại) với những phân cấp tinh tế (Nội có Bác, Chú, Cô, O. Ngoại có Cậu, Dì, Mợ, Dượng) mang lực ép khác nhau trên cá nhân (Nội áp lực mạnh hơn Ngoại). Ở hệ thống Con Cái thì có Anh, Chị, Em được phân cấp tuỳ theo tuổi tác và quan hệ (con của Cô Chú, dù lớn tuổi hơn, vẫn phải gọi con của Bác là Anh hoặc Chị…); điểm này không có trong thân tộc Âu – Mỹ, nên ta thường gặp khó khăn trong việc phiên dịch ra Việt ngữ. Brother là Anh hay Em? Sister là Chị hay Em hay Chị-Em họ?
Lưới thân tộc này không chỉ hạn chế trong vòng thân tộc. Nó bao trùm cả xã hội. Dù không có liên hệ máu mủ hay gia tộc, một người nhỏ tuổi vẫn phải gọi một người dưng lớn tuổi hơn gặp trên đường là Anh hay Chị; nếu người đó lớn tuổi hơn Cha Mẹ mình thì gọi Ông Bà hay Bác Cô, nhỏ tuổi hơn Cha Mẹ thì Chú Thím – Cậu Dì… Lưới này lại còn biến đổi theo mức độ tình cảm, tùy lúc tùy nơi: Kính nể thì Cụ, ít kính nể thì Ông Bà, khinh miệt thì thằng kia, con kia.
Nếu vô tình gọi sai danh xưng thân tộc, cá nhân bị thị phi ngay là vô lễ, thiếu giáo dục.
Ngoài áp lực thân tộc, cá nhân còn bị khóa chặt bởi hệ thống thứ bậc làng xã. Trong xã hội Việt truyền thống, trẻ em dưới bảy tuổi chưa được kể là người, để có được một chỗ trong bàn tiệc chung. Địa vị của một cá nhân trong làng tuỳ thuộc vào nội trú hay ngoại trú, tuổi tác, nghề nghiệp, danh vọng, tiền bạc, từ đó họ được xếp vào chiếu trên hay chiếu dưới.
Sinh ra và lớn lên trong những vòng vây “đâu vào đó” như thế, thử hỏi làm sao cá nhân có thể phát huy được cá tính và sự độc lập của mình?
- Không có cái “Tôi” chủ thể
Bị trói như con ong mắc lưới nhện như thế, cá nhân không thể có tự do. Nó luôn phải ý thức chỗ đứng nhất định của mình trong hệ thống, để có những xử sự đúng đắn, hợp “chính danh”, “phải đạo”: Con ra con, cha ra cha, ông ra ông.
Vì thế, người Việt không có cái “Tôi” chủ thể (subject) như Je (Pháp), I (Mỹ), Ich (Đức), mà chỉ có “Tôi” bị động (object): me, moi (Pháp), me (Mỹ), mich, mir (Đức). Chữ “Tôi” (và cả “Chúng Tôi”) mà chúng ta vẫn dùng nguyên có nghĩa là “Tôi Tớ” trong lối nói “Vua-Tôi”, “Bầy Tôi”.
Không có Tôi chủ thể, họ chỉ còn biết tuân lệnh, không có khả năng ra lệnh. Họ dễ dàng chấp nhận mọi thứ như là bổn phận phải làm, như số phận đã định.
Cũng vì không có cái Tôi chủ thể, người Việt không có truyền thống hoặc thói quen viết Tự Truyện (Autobiography), như người Âu-Mỹ, Tự Truyện khác với Tiểu Sử (Biography). Biography là do một người khác viết về một người khác. Kiểu như ông Trần Đĩnh được các lãnh tụ Cộng sản thuê viết tiểu sử cho họ (đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh). Người Việt ít ai dám viết về mình.
Văn hóa “Xin”
Tự ti, vọng ngoại, thiếu cái Tôi bản lĩnh, đầu óc nô lệ… tất cả những nét bản sắc này dồn lại và biểu hiện ra qua tiếng “XIN”. Đây là một nét văn hóa tối hệ trọng của dân tộc (về “Xin”, đọc thêm Lê Thị Huệ, “Văn Hoá Trì Trệ, Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21”, trang 107-115).
Nhan nhãn trên mọi bài viết, mọi bài diễn văn, mọi văn thư, mọi thư từ, mọi lời trao đổi, mọi câu chuyện, nhất nhất đều được mở đầu và kết thúc với “Xin”. Tôi xin kính chào quý vị (thay vì: Kính chào quý vị). Tôi xin cám ơn quý vị (thay vì: Cám ơn quý vị). Tôi xin được nói như sau (thay vì: Tôi muốn nói như sau). Con xin được chào ông (thay vì: Con chào ông). Xin quý vị cho tôi có ý kiến như sau (Quý vị hãy để tôi có ý kiến như sau).
Người ta nguỵ biện: Tiếng Xin ở đây chỉ muốn nói lên sự khiêm tốn!
Cưới vợ thì “xin” cưới. Muốn tới trường thì “xin” học. Cần giấy tờ thì “xin” đơn. Tìm việc thì “xin” việc. Bệnh phải nghỉ làm thì “xin” nghỉ. Đói thì “xin” ăn… Người Việt là dân tộc khiêm tốn quá lẽ như thế hay sao? Khiêm tốn hay quỵ luỵ? Hay giả bộ cho được việc?
Lê Thị Huệ kể, ở miền Bắc hiện nay, hễ ai nhận được từ người khác cái gì thì mở miệng ngay “Cháu xin ạ. Em xin ạ”, thay vì “Cháu cám ơn. Em cám ơn”. Vì văn hóa ứng xử của ta không có tiếng “cám ơn” nên họ phải dùng từ “xin”? Hay họ bị nhập tâm văn hóa “xin-cho” của chính quyền Cộng sản? Cũng như dân Bắc một thời hễ mở miệng là “Nhờ ơn bác ơn đảng”! Câu thần chú mở đầu mọi câu chuyện của họ.
Xem thế, toàn bộ cuộc sống, từ văn hóa, xã hội, chính trị, văn chương, pháp luật, từ gia đình ra tập thể, bị vây hãm bởi “Xin”. Thiếu chữ Xin trong câu nói hay trong lời văn, chúng ta tự nhiên ngọng miệng, câu chữ bế tắc.
Xin và Lạy thoạt tiên là hành vi của con người trước thần linh. Nhưng không biết từ bao giờ, chúng ta đã lôi chúng xuống trần thế, để rồi sẵn sàng vái lạy và cầu xin ngay giữa người với người. Có phải vì những ông vua trước đây tự nhận mình là thiên tử, thay trời trị dân, biến dân thành “bề tôi”, một lũ nô lệ, bắt phải sấp mình hoặc khấn vái họ để được sống? Và rồi nay đảng Cộng sản lại tiếp tục thay trời thay vua phát huy lối văn hóa này?
Có một thời người ta hô hào chống lại thứ văn hóa “Xin-Cho” do Cộng sản áp đặt. Nhưng làm sao chống được, khi vừa chửi vừa mở miệng “xin”, vừa chống vừa dâng thỉnh nguyện thư! Là bởi văn hóa “Xin” đã thành hơi thở, đã đi vào máu của dân tộc.
Tóm lại, mạng lưới tương quan thân tộc và hệ thống phân cấp xã hội chặt chẽ đã hạn chế tự do cá nhân, không để cho cái Tôi của chúng ta trưởng thành; cũng như chiều dài lịch sử nô thuộc, dưới nhiều hình thức, đã buộc người Việt phải luôn tìm cách sống giả, luồn lách để sống còn. Những hệ lụy này đã tạo nên tâm lý cầu xin kẻ trên, đạp đầu kẻ dưới. Tất cả chỉ để sống còn. Và nó đã đi vào tiềm thức dân tộc.
Thế thì làm sao người Việt có được cá tính mạnh. Làm sao chúng ta không “nô lệ căn tính”, như Trang Uẩn Khoan và Tôn Văn nói. Làm sao chúng ta có được óc sáng tạo. Người Việt được tiếng là chăm chỉ và học giỏi. Nhưng khó mà chờ đợi nơi họ óc sáng tạo, tính tự lập. Đó là chưa nói tới việc người mình tự bản chất thiếu đầu óc khoa học.
Hy vọng những áp lực ràng buộc vô hình trên đây sẽ không đè nặng trên con cháu chúng ta tại hải ngoại, để chúng rồi đây có cơ hội trở thành những thế hệ người Việt đua chen được với các dân tộc tiên tiến trên thế giới.
Vậy phải làm sao?
Là người Việt, chúng ta không thể thoát ra ngoài hệ thống tôn ti thân tộc với những lối xưng hô và ứng xử hạn chế sự phát triển nhân cách. Nhưng ở phương diện này, điều cần thiết là luôn phải ý thức, đừng để ứng xử của ta bị lệ thuộc bởi tình cảm. Dĩ nhiên, không ai buộc chúng ta phải loại bỏ hết tình cảm, song điều quan trọng là phải tập luyện để có một con tim biết nghe và biết lý luận.
Còn văn hóa Xin, không khó để chia tay nó, nếu có một nỗ lực chung của mọi giới trong xã hội, đặc biệt khởi đi từ các nhà làm văn hóa (nhà văn, nhà báo, người làm truyền thông).
Và ta có thể bắt đầu ngay, từ mỗi cá nhân. Bắt đầu với việc đơn giản nhất: Cùng nhau nói Không với văn hóa Xin. Loại trừ ngay thứ tàn dư nô lệ này ra khỏi lời nói hay câu văn của mình, bất cứ lúc nào có thể.
Thay vì mở miệng hay đặt bút: “Tôi xin kính chào quý vị. Tôi xin cám ơn quý vị, Xin cho tôi có ý kiến, Xin quý vị rộng lượng xét đơn của tôi”, thì “Tôi kính chào quý vị. Tôi cám ơn quý vị, Tôi muốn có ý kiến, Yêu cầu quý vị rộng lượng xét đơn cho tôi”…
Có một cái Xin cũng hơi lạ: “Coong xin dzái cha”. Cái này thì cứ “khiêm tốn” hành động ngay, chứ xin thì ai dám cho!
Tháng 3/2015 – Tháng 2/2026
Phạm Hồng Lam
Ngày 24 & 26/2 và 1/3/2026
Theo https://www.baoquocdan.org ngày 1.3.2026

Be the first to comment