Bắt Đầu Chích Ngừa Cho Trẻ Em 12-15 Tuổi – Kinh Tế Mở Cửa Lại Nhưng Hãng Xưởng Thiếu Người Làm

FDA CHUẨN THUẬN VACCINE CỦA PFIZER ĐỂ CHÍCH NGỪA CHO TRẺ EM

Sau khi 44.3% tức 114,375,695 người trưởng thành đã được chích ngừa đầy đủ, và 58.2% tức 152,819,904 người trưởng thành đã được chích ngừa ít nhất 1 liều đầu tiên, hôm Thứ Hai 10 tháng 5 Cơ Quan Quản Trị Thực Phẩm Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) loan báo cho phép dùng vaccine của Pfizer để chích ngừa cho các trẻ em từ 12 đến 15 tuổi. Điều này có nghĩa là khoảng 17 triệu học sinh sẽ được chích ngừa Covid-19 trước khi bắt đầu năm học mới.

Bác sĩ Janet Woodcock, quyền giám đốc FDA nói rằng “quyết định này là một bước tiến để giúp chúng ta sớm trở lại với sinh hoạt bình thường và chấm dứt đại dịch”. Bà bảo đảm với các bậc phụ huynh rằng Cơ Quan FDA “đã cứu xét mọi dữ liệu một cách nghiêm túc và kỹ lưỡng” trước khi chuẩn thuận cho sử dụng khẩn cấp thuốc chích ngừa.

Mặc dù đa số trẻ em ít có triệu chứng lây nhiễm Covid-19 hoặc chỉ bị triệu chứng rất nhẹ, nhưng các em vẫn có nguy cơ mắc bệnh và truyền bệnh cho người khác, bằng chứng là một số ổ dịch đã từng bùng phát từ những hoạt động thể thao và vui chơi của các em trong lứa tuổi 12-15. Do đó chích ngừa cho các em là một việc rất quan trọng nếu nước Mỹ muốn sớm đạt tới hiệu ứng “miễn dịch cộng đồng” (từ 70% đến 85% dân số được chích ngừa và có khả năng miễn dịch). Thống kê cho thấy trẻ em chiếm khoảng 20% dân số toàn quốc.

Nhờ chương trình chích ngừa được đẩy mạnh, đồng thời nhờ dân chúng tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch như mang khẩu trang và giữ khoảng cách an toàn, nên mức độ lây nhiễm Covid-19 ở hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ đã giảm hẳn đi, hồi tháng 4 mỗi ngày trung bình có 70,000 trường hợp mới lây nhiễm (cao nhất là ngày 9 tháng 4 với 81,586 trường hợp) qua đến đầu tháng 5 chỉ còn trung bình mỗi ngày 45,000 trường hợp mới lây nhiễm. Tuy nhiên giới chuyên gia y tế lo ngại rằng nỗ lực tiến tới miễn dịch cộng đồng có thể gặp trở ngại, vì hiện nay nhiều người ở tuổi trưởng thành đang tỏ ra ngần ngại không muốn chích ngừa, trong khi đó Coronavirus vẫn biến thể liên tục và lây lan rất mau.

Theo Trung Tâm Phòng Chống Dịch Bệnh (CDC) thì mấy tuần lễ gần đây, con số những người được chích ngừa trên toàn quốc đang xuống thấp, từ mức cao nhất hồi giữa tháng 4 là 3.3 triệu người mỗi ngày, qua đến tháng 5 giảm xuống còn khoảng 2.1 triệu người mỗi ngày. Riêng ngày Chủ Nhật 2 tháng 5 chỉ đạt con số 813,525 người được chích ngừa.

Một chuyên gia hàng đầu của Pfizer là bác sĩ William Gruber ca ngợi việc Cơ Quan FDA chuẩn thuận vaccine cho trẻ em là quyết định kịp thời để giúp đẩy mạnh nỗ lực chích ngừa, vì hầu hết các bậc cha mẹ đều muốn con em mình được trở lại với những hoạt động thể thao và vui chơi sau cả năm trời tù túng.

Khi nộp hồ sơ xin FDA chuẩn thuận, hai hãng dược phẩm Pfizer/BioNTech cho biết đợt thử nghiệm vaccine cho thiếu niên đã được họ hoàn tất hồi cuối tháng 3, và đạt kết quả tốt đẹp: Thuốc chích ngừa tạo ra phản ứng đề kháng rất mạnh ở các trẻ em, trong khi các phản ứng phụ không khác gì so với phản ứng phụ của những người từ 16 đến 25 tuổi. Cuộc thử nghiệm được Pfizer thực hiện với 2,260 tình nguyện viên từ 12 đến 15 tuổi. Phân nửa số tình nguyện viên được chích vaccine, phân nửa còn lại được chích thuốc giả (placebo). Kết quả chỉ có 18 trường hợp bị dương tính với Covid-19, tất cả đều ở nhóm chích thuốc giả, còn nhóm chích vaccine thì không có trường hợp bị dương tính nào cả, chứng tỏ là thuốc chích ngừa an toàn và có hiệu quả 100% trong việc ngừa chống Covid-19. Kết quả này có thể mang lại sự an tâm cho một số vị phụ huynh đang ngần ngại chưa muốn cho con em chích ngừa, phần vì chưa rõ vaccine có hiệu quả không, phần khác vì lo lắng vaccine sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của các em.

Tưởng cần nhắc lại, cho tới nay thuốc chích ngừa do Pfizer bào chế là loại Covid vaccine duy nhất được Cơ Quan FDA chuẩn thuận để chích cho thành phần dân chúng 16 và 17 tuổi. Trung Tâm CDC cho biết gần 2 triệu người ở lứa tuổi này đã được chích liều vaccine đầu tiên.

Song song với vaccine của Pfizer/BioNTech vừa được FDA chuẩn thuận để chích ngừa cho các trẻ em từ 12 đến 15 tuổi, những hãng dược phẩm Mỹ gồm Pfizer, Moderna, Novavax và Johnson & Johnson cũng đang thực hiện các cuộc thử nghiệm thuốc chích ngừa đối với thành phần trẻ em nhỏ tuổi hơn nữa – nghĩa là từ 6 tháng đến 11 tuổi. Hãng Johnson & Johnson cho biết sau đợt thử nghiệm vào tháng 4 cho các em 16 và 17 tuổi, họ sẽ bắt đầu thử nghiệm cho các em từ 12 đến 15 tuổi. Hãng Novavax sắp được FDA chuẩn thuận vaccine cho người lớn và đang bắt đầu thử nghiệm với các em từ 12 đến 17 tuổi. Hãng Moderna nói rằng đã tuyển được 3,000 tình nguyện viên từ 12 đến 17 tuổi để thử nghiệm đợt thứ nhất, sau đó sẽ bắt đầu thử nghiệm đợt thứ nhì cho các em từ 6 tháng đến 11 tuổi.

Về phần hãng Pfizer, họ cho biết hy vọng vào tháng 9 sẽ hoàn tất đợt thử nghiệm và nếu vaccine đạt được kết quả an toàn và hữu hiệu thì sẽ nộp đơn xin FDA chuẩn thuận cho dùng khẩn cấp để chích ngừa cho các trẻ em nhỏ tuổi, chia làm 3 đợt: Đợt thứ nhất là thuốc chích ngừa cho thành phần từ 2 đến 5 tuổi. Đợt thứ nhì là thuốc chích ngừa cho thành phần từ 5 đến 11 tuổi. Riêng đợt thứ ba, là thuốc chích ngừa cho trẻ sơ sinh và dưới 2 tuổi, thì phải chờ đến cuối năm 2021 (tháng 10, 11, 12) mới có thể hoàn tất thử nghiệm.

Hãng Pfizer vào cuối tháng 4 cũng vừa nộp đơn xin FDA chấp thuận một thay đổi quan trọng về việc tồn trữ Covid vaccine do họ bào chế cùng với đối tác BioNTech ở Đức Quốc, đó là thuốc chích ngừa chỉ cần giữ ở độ lạnh bình thường của tủ lạnh, khoảng 36 đến 46 độ F (tương đương 2 đến 8 độ C), trong vòng 4 tuần lễ. Theo bản tin đài NPR thì trước đó thuốc chích ngừa của Pfizer phải được lưu trữ ở độ rất lạnh – âm 94 độ F tức âm 70 độ C – tuy nhiên qua đến tháng 2 thì Pfizer đã thông báo thay đổi phần nào, chỉ đòi hỏi tồn trữ ở độ lạnh âm 13 đến 5 độ F (tương đương âm 25 đến âm 15 độ C) trong vòng 2 tuần lễ. Và nay Pfizer lại tiến thêm một bước để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc chuyển vận và tồn trữ Covid vaccine của họ. Về mặt cung ứng, Pfizer/BioNTech cho biết họ có khả năng sản xuất tới 2.5 tỷ liều thuốc chích ngừa trong năm 2021, và cung ứng ít nhất 3 tỷ liều trong năm 2022.

XĂNG KHAN HIẾM VÌ TIN TẶC PHÁ HOẠI ĐƯỜNG ỐNG TIẾP LIỆU

Hình ảnh khan hiếm xăng dầu đã bắt đầu thấy rõ ở các tiểu bang miền đông hôm Thứ Ba và Thứ Tư tuần này, khi nhiều cây xăng đồng loạt thông báo “hết xăng” hoặc tăng giá xăng lên hơn $3 dollars/gallon, và những dãy xe hơi đủ loại xếp hàng dài dài để đổ xăng. Theo các bản tin thông tấn, đây là hệ quả của một vụ tin tặc tấn công mạng điều hành đường ống dẫn dầu của công ty Colonial Pipeline.

Trong cuộc họp báo sáng Thứ Tư 12 tháng 5 tại Tòa Bạch Ốc, Bộ Trưởng Nhiên Liệu Jennifer Granholm nói rằng “vài ngày tới đây sẽ khó khăn” đối với 5 tiểu bang bị ảnh hưởng nhiều nhất do vụ phá hoại, gồm Georgia, South Carolina, North Carolina, Tennessee và Virginia. Tuy nhiên bà nhấn mạnh, tình trạng hiện giờ “không phải là thiếu xăng dầu”, mà chỉ là một trở ngại về cung ứng nhiên liệu, sẽ được giải quyết trước cuối tuần này. Vì vậy Bộ Trưởng Granholm kêu gọi dân chúng “đừng tích trữ xăng dầu, cũng như hồi đại dịch mới bùng phát, không có lý do gì để chúng ta phải tích trữ giấy vệ sinh”.

Mặc dù chính phủ liên bang kêu gọi, nhưng do tâm lý chung khi thấy khan hiếm nên một số người vẫn tìm cách mua xăng dầu dự trữ, mặt khác, hiện tượng “đầu cơ trục lợi” và tăng giá bất hợp pháp cũng dễ xảy ra. Do đó, nhằm ngăn ngừa xáo trộn và bất ổn, các Thống Đốc của bốn tiểu bang Georgia, Florida, North Carolina và Virginia đã ban hành tình trạng khẩn trương kể từ Thứ Ba tuần này.

Trang mạng GasBuddy chuyên theo dõi tình hình tiêu thụ xăng dầu cho biết, vào chiều Thứ Tư, 49% những cây xăng ở Virginia đã treo bảng “hết xăng”, đồng thời 11% những cây xăng ở Washington D.C. và 13% những cây xăng ở Maryland cũng vậy. Nếu so sánh, vùng thủ đô còn khá hơn những nơi khác. Tỷ lệ các cây xăng treo bảng “hết xăng” ở North Carolina là 68%, ở Georgia và ở South Carolina là 45%.

Hiện tượng khan hiếm xăng dầu chẳng những gây khó khăn cho những người lái xe hơi mà còn làm trở ngại luôn cả hoạt động của các hãng hàng không. American Airlines quyết định thay đổi lịch trình vào giờ chót, thêm điểm dừng để tiếp nhiên liệu cho các chuyến bay đường dài, khiến hành khách đi Honolulu phải đổi máy bay ở Dallas, hành khách đi London phải tạm nghỉ ở Boston. Hai hãng Southwest và United Airlines cho máy bay chở thêm xăng dự trữ trong những chuyến bay nội địa tới phi trường Nashville, Tennessee, Baltimore…

Colonial Pipeline – công ty cung ứng gần phân nửa số lượng xăng dầu cho các tiểu bang dọc bờ biển miền đông – đã phải đóng toàn bộ hệ thống điều hành đường ống dài 5,500 miles của họ ngay sau khi xảy ra vụ tấn công “ransomware” của tin tặc hôm Thứ Sáu tuần rồi. Đến chiều Thứ Tư 12 tháng 5, Colonial Pipeline loan báo hệ thống đã được khởi động trở lại, nhưng phải mất thêm vài ngày mới hoạt động bình thường.

Cuộc điều tra sơ khởi của cơ quan FBI cho biết thủ phạm là nhóm tin tặc “DarkSide”, một tổ chức tội phạm trên mạng (cybercrime gang) ở nước Nga. Mục tiêu tấn công của bọn chúng nhắm vào các tập đoàn lớn, dùng thủ đoạn xâm nhập để đánh cắp dữ liệu và đe dọa sẽ tiết lộ những bí mật kinh doanh nếu họ không chịu trả tiền chuộc. Hiện chưa rõ khoản tiền chuộc đặt ra với Colonial Pipeline là bao nhiêu, có được thương lượng hoặc thanh toán hay không. Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Hai nói với báo chí “Dù chưa có bằng chứng là nhóm tin tặc DarkSide nhận chỉ thị của Điện Kremlin để phá hoại, nhưng chính phủ Nga vẫn phải chịu một phần trách nhiệm về vụ tấn công này, vì chính phủ Nga biết rõ về bọn tin tặc và dung dưỡng cho bọn chúng”.

Hai ngày sau, Thứ Tư 12 tháng 5, Tổng Thống Biden ký sắc lệnh hành pháp, tăng cường chức năng bảo vệ an ninh mạng cho các cơ quan liên bang, và thúc đẩy những doanh nghiệp trong khu vực tư nhân cải thiện hệ thống an ninh mạng của họ nhằm ngăn chận các vụ tấn công tương tự.

Trong lúc mọi người hy vọng vụ tin tặc tấn công hệ thống điều hành của Colonial Pipeline sẽ sớm được giải quyết, chính phủ Biden cũng thực hiện ngay tức khắc một số biện pháp để đối phó. Bộ Giao Thông đã thiết lập đường dây vận chuyển nhiên liệu khẩn cấp tới các tiểu bang bị khan hiếm xăng dầu, đồng thời Bộ Trưởng An Ninh Nội Địa Alejandro Mayorkas cho biết sẽ tạm hoãn áp dụng đạo luật Jones Act năm 1920 để cho phép các tàu ngoại quốc vận chuyển nhiên liệu đến bờ biển miền đông.

Tuy vậy, các chuyên gia lo ngại rằng nếu tình trạng khan hiếm kéo dài thì giá nhiên liệu có thể tiếp tục tăng thêm ít nhất 2% hoặc 3%, bởi vì người dân Mỹ bắt đầu ra đường trở lại trong bối cảnh đại dịch đang dần dần lui bước – nhất là nhiều người đã chuẩn bị “nghỉ bắc cầu cuối tuần” để lái xe đi chơi xa nhân ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) sắp tới.

KINH TẾ MỞ CỬA LẠI NHƯNG HÃNG XƯỞNG THIẾU NGƯỜI LÀM VIỆC

Những dữ liệu mới nhất về thị trường lao động Hoa Kỳ đã trở thành đề tài chính của hàng loạt bản tin thông tấn và bài phân tích trên các cơ quan truyền thông, cho thấy rằng nền kinh tế Mỹ sẽ phải mất thêm thời gian dài mới có thể phục hồi, vì sự tác hại của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều lãnh vực, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ khó có thể thực hiện trong một sớm một chiều.

Sau hai tháng liên tiếp với những con số đầy phấn khởi – tháng Hai có thêm 379,000 công ăn việc làm mới, rồi qua tháng Ba cũng có thêm 770,000 công ăn việc làm mới, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 6% – thế nhưng bản phúc trình do Bộ Thương Mại công bố hôm Thứ Sáu tuần rồi lại cho thấy một thực tế khá bất ngờ: Suốt tháng Tư, thị trường lao động chỉ đón nhận thêm 266,000 công ăn việc làm mới (thay vì cả triệu, theo ước đoán của một số kinh tế gia), và tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên 6.1%.

Bên cạnh đó, mặc dù nhiều hãng xưởng và cơ sở thương mại như tiệm ăn, khách sạn, công viên giải trí v.v… bắt đầu được các tiểu bang cho phép mở cửa hoạt động trở lại (nhờ hiệu quả của chương trình chích ngừa khiến mức lây nhiễm Covid giảm xuống hẳn), nhưng hầu hết giới chủ nhân đều cho biết họ không có đủ nhân lực để đáp ứng số khách hàng đông đảo, bởi vì họ rất khó tìm người làm. Gần như tiệm ăn nào cũng trưng bảng “Cần Người”.

Cuộc thăm dò mới nhất của tổ chức National Federation of Independent Business (NFIB) cho thấy tới 44% các doanh nghiệp nhỏ có việc làm mà không có người làm, một con số cao kỷ lục. Theo kinh tế gia Bill Dunkelberg của NFIB thì điều này “là mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp nhỏ vốn đang phải đối phó với đủ mọi vấn đề, đến độ một số chủ nhân phải nâng mức lương hoặc tặng tiền thưởng”. Đài NPR trích dẫn lời kinh tế gia Tim Quinlan của ngân hàng Wells Fargo kể lại: “Một tiệm fast-food trong thành phố này đang dựng bảng cần tuyển người làm drive-thru và ghi rõ là sẽ tặng ngay $500 dollars tiền thưởng cho mỗi nhân viên mới”.

Cần mở dấu ngoặc để nói thêm về thị trường lao động: Trong thời gian đại dịch bùng phát khiến hoạt động kinh tế của nước Mỹ gần như hoàn toàn “đóng cửa”, tỷ lệ thất nghiệp có lúc đã lên tới 14.8% (tháng Tư năm 2020). Một năm sau, tỷ lệ thất nghiệp tuy giảm xuống 6% (tháng Ba năm 2021) nhưng theo thống kê của Bộ Lao Động thì số người lãnh trợ cấp thất nghiệp hiện vẫn vào khoảng trên 10 triệu.

Nhật báo Wall Street Journal hôm Thứ Sáu 07/5 trích dẫn lời các kinh tế gia nêu ra vài nguyên nhân đưa tới tình trạng bất thường “cầu cao hơn cung”, nghĩa là giới chủ nhân khó tìm người làm mặc dù có cả chục triệu người thất nghiệp. Nguyên nhân thứ nhất là một số người đang được hưởng cả hai khoản trợ cấp thất nghiệp (của tiểu bang) lẫn trợ cấp bổ sung (của liên bang) nên chưa muốn trở lại công việc cũ vì sẽ lãnh số lương thấp hơn hai khoản trợ cấp này. Thứ hai là nhiều người đã chích ngừa nhưng lo sợ nếu đi làm sẽ có thể bị lây nhiễm Covid-19 khi phải tiếp xúc với các đồng nghiệp hoặc khách hàng chưa chích ngừa. Thứ ba là có những người vẫn đang phải ở nhà để trông nom thân nhân đau ốm, và nhiều phụ nữ phải ở nhà để chăm sóc con cái trong lúc trường học chưa mở cửa, nên họ chưa thể đi làm.

Riêng về nguyên nhân thứ nhất, báo Wall Street Journal phân tích rằng một công nhân thất nghiệp được lãnh trung bình $318 mỗi tuần do tiểu bang cấp, nay lại được lãnh thêm $300 dollars mỗi tuần cho đến đầu tháng 9 (trong ngân sách $1,900 tỷ dollars theo Đạo Luật Cứu Nguy Đại Dịch – American Rescue Plan Act). Hai khoản trợ cấp này cao hơn số thu nhập nếu đi làm full-time với mức lương $15 dollars một giờ.

Chính vì vậy nên nhiều chủ nhân cơ sở thương mại, cũng như nhiều kinh tế gia và chính trị gia đảng Cộng Hòa, cho rằng trợ cấp bổ sung của liên bang có tác dụng gián tiếp khuyến khích những người thất nghiệp không trở lại làm việc. Và Phó chủ tịch Phòng Thương Mại Hoa Kỳ (U.S. Chamber of Commerce) là ông Neil Bradley lên tiếng kêu gọi chính phủ Biden chấm dứt khoản trợ cấp này.

Tin tức hôm Thứ Hai 10 tháng 5 ghi nhận đã có 4 tiểu bang – Montana, South Carolina, Indiana, Arkansas – loan báo rằng kể từ cuối tháng Sáu sẽ ngưng khoản trợ cấp thất nghiệp bổ sung $300 dollars mỗi tuần của chính phủ liên bang, đồng thời ngưng chương trình Trợ Cấp Thất Nghiệp Do Đại Dịch (Pandemic Unemployment Assistance – PUA) dành cho các nhà thầu và một số công nhân độc lập. Cả 4 tiểu bang này đều do các vị Thống Đốc đảng Cộng Hòa lãnh đạo.

Cùng ngày 10/5, Tổng Thống Joe Biden khi tiếp xúc với báo chí đã bác bỏ luận cứ cho rằng những người thất nghiệp không trở lại làm việc chỉ vì muốn lãnh trợ cấp bổ sung của chính phủ liên bang, vì theo ông, bản phúc trình của Bộ Thương Mại về thị trường lao động còn cho thấy nhiều khía cạnh phức tạp khác của vấn đề. Tuy nhiên ông Biden cho biết sẽ chỉ thị Bộ Lao Động phối hợp với các tiểu bang để áp dụng chặt chẽ các luật lệ quy định điều kiện lãnh trợ cấp. Ông khẳng định điều này qua bài phát biểu tại Tòa Bạch Ốc: “Nếu quý vị đang lãnh trợ cấp thất nghiệp mà được đề nghị một công việc làm thích hợp thì quý vị không thể từ chối công việc đó nếu không muốn bị cắt trợ cấp thất nghiệp”.

Mặt khác, Tổng Thống Biden nhấn mạnh rằng chính phủ “không thể ngoảnh mặt quay lưng” đối với những người thất nghiệp do ảnh hưởng của đại dịch: “Hai mươi mốt triệu người dân Mỹ đã mất việc, dù họ chẳng có lỗi gì cả. Họ mất việc chỉ vì một chủng loại virus, và bởi vì chính phủ đã lúng túng trong việc đối phó với đại dịch và không bảo vệ được cho họ”. Ông tin tưởng khi đại dịch đã bị khống chế và kinh tế mở cửa trở lại, thị trường lao động sẽ ổn định, bởi vì “dân Mỹ vốn là những người thích làm việc”.

Trước đó mấy ngày, cũng ở Tòa Bạch Ốc, Bộ Trưởng Tài Chánh Janet Yellen mở cuộc họp báo hôm Thứ Sáu 7 tháng 5 để trấn an dư luận về bản phúc trình của Bộ Thương Mại. Bà Yellen không chối cãi rằng con số 266,000 công ăn việc làm mới trong tháng Tư là một bước thụt lùi so với con số của tháng Hai và tháng Ba, tuy nhiên bà nói với các phóng viên: “Chúng ta đều biết phục hồi kinh tế sau đại dịch không phải là một cuộc chiến có thể kết thúc trong vòng 100 ngày”.

Bà Yellen giải thích thêm, về phía các hãng xưởng, một số chưa thể hoạt động bình thường và thuê mướn nhân công như lúc trước là vì thiếu nguyên liệu sản xuất – như gỗ rừng, chips điện toán, phụ tùng xe hơi v.v… Về phía thị trường lao động, mặc dù hiện nay một phần ba dân số toàn quốc đã được chích ngừa đầy đủ, nhưng nhiều người sau khi chích ngừa vẫn lo sợ nếu đi làm sẽ có thể bị lây nhiễm Covid-19 khi phải tiếp xúc với người lạ trong điều kiện thiếu an toàn. Tình trạng này chỉ có thể cải thiện theo thời gian, khi số người được chích ngừa tăng thêm nữa và đạt tới hoặc gần đạt tới hiệu ứng “miễn dịch cộng đồng”.

Ngoài ra, còn một số khá đông những người chưa thể đi làm vì đang phải trông nom thân nhân đau ốm, và nhiều phụ nữ phải ở nhà để chăm sóc con cái trong lúc trường học chưa mở cửa. Thống kê cho thấy kể từ khi đại dịch bùng phát, đã có tổng cộng 4 triệu 200 ngàn phụ nữ mất việc làm vì nhiều lý do khác nhau, và trong số đó, 2 triệu hiện vẫn chưa trở lại làm việc. Bởi vậy, theo Bộ Trưởng Yellen, “chính phủ cần phải giúp đỡ thêm nữa để thành phần lao động phụ nữ có thể tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu làm việc và nhu cầu chăm sóc gia đình”.

Dù sao, với sự tiến triển của chương trình chích ngừa trên toàn quốc đưa tới sự sụt giảm rõ rệt của mức lây nhiễm Covid-19 ở hầu hết các tiểu bang, người ta có quyền hy vọng sinh hoạt sẽ dần dần trở lại bình thường, thị trường lao động sẽ ổn định và kinh tế sẽ phục hồi, như lời kinh tế gia Aneta Markowska của công ty Jefferies LLC phát biểu: “Sẽ mất nhiều thời gian hơn chúng ta tưởng để mọi người đều có công ăn việc làm, như trước khi đại dịch bùng phát. Nhưng câu hỏi không còn là viễn ảnh đó có thể thành sự thật hay không, mà chỉ là bao giờ chúng ta đạt tới mục tiêu đó”.

Phố Nhỏ Online tổng hợp từ các nguồn: AP, Reuters, NPR, NBC News USA Today, Wall Street Journal ngày 14/5/2021

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*