Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận có mặt tại Huế và chính CS đã giết đồng bào Huế

 

Khi ánh sáng văn minh nhân loại qua cánh cửa toàn cầu hóa có cơ hội soi vào nhà tù tăm tối Việt Nam, những kẻ sát nhân không dám thừa nhận tội ác do chính chúng gây ra và ngay cả từ chối quá khứ đồ tể của mình. Nhưng 20 năm trước đó thì khác. Dưới thời chuyên chính vô sản, giết người lại là cách thể hiện lòng trung kiên với đảng triệt để nhất, là niềm kiêu hãnh, chiến công, thành tích cần phải nói lớn cho mọi người biết. Đó là trường hợp của những kẻ nghĩ rằng chế độ Cộng Sản là vĩnh cửu, sợ gì ai mà phải che dấu, trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Ngày 29 tháng Hai 1982, khi trả lời câu hỏi của một đài truyền hình ngoại quốc “Ông có thể diễn tả các biến cố trong cuộc nỗi dậy tại Huế và đặc biệt có liên quan đến vụ tàn sát bởi vì ông có mặt ở đó?” Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận đã có mặt tại Huế trong thời gian cố đô nằm trong tay Cộng Sản, đã đi trên những con đường ngập máu cho đến khi “chúng tôi rút ra” khỏi Huế. Nhưng quan trọng hơn, y cũng thừa nhận trong số những người dân bị giết là do “du kích, do quân đội cách mạng phải thi hành bản án tử hình” và do sự trả thù. Y thậm chí còn cho rằng, giết như vậy vẫn là “còn nhẹ”. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng nhái lại cách tuyên truyền ấu trỉ của Cộng Sản khi cho rằng chính Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Kissinger đã chủ trương giết thêm mấy ngàn dân Huế để vu oan cho “Cách mạng”.

Một số câu trích nguyên văn lời thừa nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Cái thứ nhất là nói riêng về những người bị giết thì trong số đó hiễn nhiên là có một số người do du kích, do quân đội cách mạng phải thi hành bản án tử hình đối với những kẻ mà khi chúng tôi vào nhà để gọi họ ra thì họ bắn đến cùng, họ bắn đến độ những người chiến sĩ của chúng tôi đã bị thương và những người đó thì phải giết tại chỗ …”

“Còn một số trường hợp khác thì chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v. và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại được thế của kẻ mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ …Nhưng mà tôi xin nói với các bạn là như thế này, một cái người như vậy, thì chính họ đã giết gia đình kia mười người thì bây giờ người ta chỉ giết lại một người mà thôi như vậy cái giá đó tôi nghĩ là rất nhẹ.”

“Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tôi tưởng là bùn, tôi bấm đèn lên thì toàn là máu, lầy lội như vậy và đó là cả một khu phố bị bom Mỹ giết, nhất là trong những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..”

Mời độc giả bấm vào link sau đây để nghe phần trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường

NguoiVietBoston

 
 
 

11 Comments

  1. Võ Đình Tuyết says:

    Khi ông Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi viết tùy bút ( Có một số người cho ông là người viết tùy bút hay nhất VN thời bây giờ) có bao giờ ông nghĩ bàn chân ông đã đi trên máu người Việt Nam mà chính các đồng chí ông ra lệnh giết đồng bào mình mà ông đổ tội cho Mỹ.
    Đã bao nhiêu lần ông chối quanh cho những nhát đao chém trên thân thể những người Việt Nam (mà riêng với ông chẳng hề thù hận) và hạ gục họ trong cơn thèm máu.
    Chẳng còn gì để bàn luận với ông cùng những người đồng chí của ông như Nguyễn Đắc Xuân,Hoàng Phủ Ngọc Phan.
    Vì, các ông chẳng bao giờ làm được giống Người.Vì đã là Người chẳng ai có trái tim cực ác như các ông.
    Thời gian rồi sẽ qua.
    Bia miệng luôn ngàn đời.
    Tội ác các ông
    Sẽ không phai mờ trong tâm trí Việt Tộc.

  2. CaoNguyên/Boston says:

    Hãy đi ngược về thời Cựu Ước:
    - Mắt đền mắt.
    - Răng đền răng.
    - Mạng thế mạng.
    Tên đao phủ này và bè lũ khát máu của chúng sẽ chẳng có đất để dung thân…Lịch sử ngàn đời sẽ lên án và người dân Cố Đô Huế cũng sẽ không khi nào chấp nhận luận điệu điêu ngoa, tàn ác hơn dã thú của y.

  3. quang phan says:

    Chúng ta nhớ đến gần sáu ngàn đồng bào của chúng ta đã bị giết, đã bị tước đoạt quyền sống của họ. Chúng ta có trách nhiệm duy trì ký ức về nỗi khổ đau này.
    Chúng ta nhớ đến tội ác diệt chủng Việt của bè đảng Cộng sản Việt nam. Chúng ta có trách nhiệm tố cáo tội ác của bọn chúng.

  4. bui says:

    hoàngphu ngoc tuong noi(nhung ho chon nguoi là do bom my nguy giet)hay dat tay len tran mà nghi lai nhung loi nguy bien cua nguoi cong san:neu noi là:do bom my nguy giet thi xac se khong toàn thay nhung khi dào len thi nhung xac chet thi bi troi nguoc tay ra dang sau và tren dau thuong bi dap be so!!!hay nen nho rang :” Dung nghe nhung gi cong san noi mà hay nhin ky nhung gi cong san làm” hon nua hay nhin ro ban mat Hoàng phu ngoc Tuong khi dang noi,mat thi lao luon nhu ke cap,mat thi ngo nguoc ngo xuoi nhu vay du biet là loai nào trong xa hoi ????? mong quy vi danh gia dum!!

  5. Tiêu Hà says:

    Hoàng Phủ Ngọc Tường là tên đồ tể ,nhưng nó vẫn cao ngạo khoát lác . Có ai làm gì nó đâu .

  6. thụyvi says:

    Kính gửi lời kể của 2 nhân chứng sống về Thảm Sát Mậu Thân:

    1/ Phan Văn Tuấn kể cho Nam Dao

    Kính thưa quý vị,

    Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng,

    40 năm sau cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 68 ở Huế, có nhiều bài viết khác nhau về vụ này. Người Việt sống ở miền Nam nhớ lại với những căm phẫn. Lãnh đạo Hà Nội ăn mừng và triển lãm chiến thắng vĩ đại Mậu Thân. Người ngoại quốc viết về những nói dối (của truyền thông) về Mậu Thân.

    Còn cựu đại tá bộ đội CSVN Bùi Tín, nguyên phó tổng biên tập hiện đang sống tại Pháp, biện hộ cho cuộc thảm sát tại Huế trong một cuộc phỏng vấn trên đài BBC ngày 24-1-08 với những lời lẽ như sau:

    ”Lúc bấy giờ tôi không biết quy mô nó lớn đến vậy, chỉ biết là có những cuộc thảm sát nhưng tôi nghĩ nó chỉ xảy ra ít thôi… chứ tôi không nghĩ về sau này người ta nói tới hàng nghìn… Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người… Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.” Ông Bùi Tín giải thích sở dĩ họ phải làm như vậy là để tuân theo lệnh ”không được để tù binh trốn thoát” nhằm giữ bí mật. ”Theo tôi biết thì không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và giết tù binh.” (Bùi Tín)

    Ông Phan Văn Tuấn (trong nguyên bản ghi là Phạm Văn Tuấn, chúng tôi xin phép đổi lại cho ăn khớp với bài trên kia) sinh tại thành nội Huế. Khi CS chiếm đóng Huế ông vừa hơn 16 tuổi và đang theo học trường tư thục Nguyễn Du. Ông chứng kiến tận mắt vụ ám sát tập thể 5 người ngay ngày đầu cộng quân vào Huế. Sau đó, ông và hơn chục thiếu niên khác bị cộng quân bắt đem đi đào hố, chôn sống đồng bào ở Gia Hội. Nhờ một phép nhiệm màu, ông và 2 em khác thoát thân, còn những em còn lại thì bị cộng quân giết chết. Sau đây là lời ghi lại cuộc phỏng vấn. Đối với những quý vị muốn nghe trực tiếp câu chuyện của ông Tuấn trong tất cả sự kinh hoàng của tội ác và sự nức nở của con tim, xin mời quý vị nghe trực tiếp từ tamthucviet.com, mục Tạp chí Truyền thanh ngày 7-2-2008.

    Việt Cộng (VC) đầy đường

    Nam Dao (ND): Nam Dao xin kính chào anh Tuấn.

    Phan Văn Tuấn (PVT): Kính chào chị ND.

    ND: Thưa anh, quân CSVN tới chiếm Huế vào ngày nào và giờ nào, và lúc đó khi CS đã bắt đầu chiếm Huế rồi thì quang cảnh thành phố Huế và dân tình ở đó ra sao trong suốt thời gian 28 ngày mà CS chiếm đóng? Và nhất là tâm trạng của anh lúc đó như thế nào khi lần đầu tiên CS bước vào cố đô Huế?

    PVT: Vào ngày Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi ăn được ngày mồng một, thì đến đêm mồng một rạng mồng 2 Tết thì súng bắt đầu nổ. Súng bắt đầu nổ từ phía bên kia chỗ gọi là chợ Đông Ba vọng qua chợ Xép, tức là cái cửa phía bên chúng tôi đang ở tại đường Nguyễn Thành và đường Mai Thúc Loan. Súng nổ rất nhiều, lúc đầu tưởng là pháo nổ mừng xuân, tại vì chúng tôi cũng biết có 48 tiếng đồng hồ hưu chiến mà chính phủ VNCH và chính phủ miền Bắc VN thoả thuận với nhau để cho đồng bào hai miền Nam Bắc ăn Tết. Chúng tôi cứ nghĩ đó là tiếng pháo hòa lẫn với tiếng súng của các anh lính VNCH mừng xuân. Nhưng mà thưa không phải. Người ta bắt đầu bỏ chạy. Họ chạy dồn từ phía bên chỗ cửa Đông Ba chạy vô. Đến khuya chúng tôi mới lục đục được báo là những người đó rất sợ hãi, và Việt Cộng về tới bên ngoài kia rồi, tức là phía ngoài cửa Đông Ba chỗ tôi đang ở.

    Người ta bắt đầu chạy thì gia đình chúng tôi rất sợ. Tất cả mọi người đều chui xuống những cái sập, đi-văng để núp. Súng nổ. Nhưng khi sáng sớm ngủ dậy hôm mồng 2 Tết, thì… VC đầy đường. VC là những thằng mặc bộ đồ đen, quần đen, áo đen, tay ngắn, quần ngắn, vác những khẩu súng AK, và chúng mang những đôi dép râu và nón tai bèo. Trong những đám lộn xộn đó có những thằng VC mặc bộ đồ bộ đội VC, như hôm nay chúng mặc ở VN, mà chúng tôi được thấy ở trong tù những thằng quản giáo mặc, đó là những thằng cán bộ. Rồi trong những đám đó, tôi thấy có những người quen. Một đám những người quen chúng tôi, bạn của tôi, thầy của tôi, những người mà tôi quen biết trong thành phố Huế đang có mặt trong những đoàn người đội nón tai bèo, mặc áo bộ đội của VC đang tràn ngập các đường phố. Đường phố tôi nói ở đây là đường Nguyễn Thành – tôi chứng kiến – và góc đường Mai Thúc Loan lúc sáng mồng 2 Tết Mậu Thân năm 1968.

    Thủ tiêu dân chúng ngay ngày đầu

    ND: Thế thì quang cảnh đường phố trong những ngày kế tiếp như thế nào, nhất là trong suốt 28 ngày đó?

    PVT: Nói về 28 ngày VC chiếm Huế thì tôi không có mặt tại Huế cả 28 ngày. Tôi xin kể với Chị nghe là đến ngày mồng 2 Tết, mở mắt ra thì thấy VC đi vòng vòng. Người đầu tiên tôi thấy là thầy tôi, ông Tôn Thất Dương Tiềm. Ông dạy môn Việt văn cho lớp đệ tam chúng tôi, bây giờ gọi là lớp 10. Tôi đang học lớp đệ tam thì khi đó ông dạy tôi Việt văn. Thầy dạy tôi thế nào là thương đồng bào, yêu tổ quốc, yêu quê hương. Ông Tiềm là người mở cho tôi con đường thấy rõ được bổn phận của thanh niên là phải làm gì cho quê hương. Nhưng quý vị biết không, trời đất ơi, chính ông Tiềm lại là người dạy cho tôi thế nào là tàn ác của VC! Ông Tiềm là người vác súng K54, dưới thì ông mặc quần xanh xanh của cán bộ chính quy, trên thì ông mặc áo màu trắng, áo sơ mi.

    Tôi thấy ông Tiềm lúc đó đang chỉ huy những người cũng mặc áo trắng, mặc quần bộ đội, tức là cán bộ, đeo súng K54 làm làm gì đó, nói xầm nói xì gì đó, sau đó mấy người đó mới chỉ trỏ cho mấy người mặc bộ đồ đen, tức là mấy thằng du kích VC. Trong đám đó tôi còn thấy anh Hoàng Văn Giàu nữa. Anh Hoàng Văn Giàu là một sinh viên học ở Huế. Tôi phải sống mà chứng kiến những sự tàn sát theo lệnh của thầy Tôn Thất Dương Tiềm tại thành phố Huế, tại ngã tư Nguyễn Thành và Mai Thúc Loan ở khu thượng thành đó.

    Sáng ngày mồng 2 Tết, khi VC xuất hiện, nó bắt đầu xách ra… nó bắt ở đâu không biết, nó bắt ra được 5 người, nó trói tay sau lưng. Một số còn mặc áo quần ngủ, một số mặc áo quần bình thường, mặc bộ đồ ngủ vì đang ngủ ở nhà mà. Đến trưa trưa 11, 12 giờ ngày mồng 2 Tết, tôi thấy mấy thằng du kích nó dắt ra, dắt ra. Có mấy thằng loong toong VC nằm vùng cỡ như Hoàng Văn Giàu chạy theo đít, chạy theo, chạy theo, ra tới ngay chỗ cửa Đông Ba. Người ta trói cả rồi bắt đứng sắp hàng, xoay lưng vô thượng thành – thành cao lắm. Tôi thấy ông Tiềm sắp đủ 5 người, sắp lần lần, 1, 2,3,4, bắt đầu 5 người. Tôi thấy đông, chạy tới coi. Tôi cũng núp núp mà coi. Tôi thấy ông Tiềm ra lệnh cho thằng cán bộ VC nói tiếng Bắc. Thằng đó mới ra lệnh cho thằng VC mặc bộ đồ quần đùi đen, bắt đầu giương súng bắn.

    Trong đó tôi thấy có ông Quế ở tại đường Nguyễn Thành. Ông này hồi trước làm cảnh sát gì đó, ổng cũng về già rồi, ông đâu làm gì nữa. Rồi trong đó tôi cũng thấy một số người lạ, rồi người dân, một số người mà tôi biết mặt ở trong thành phố mà có làm nghề gì đâu. Còn nói lính thì chưa thấy một người lính nào bị bắt và bị bắn tại đó cả. Những người lính VNCH và các công chức mà tôi biết, chưa bị bắt và chưa bị bắn trong trận đó.

    Bắt đầu, ông Tiềm ổng gật đầu, ổng gật đầu. Thằng cán bộ VC mới ra lệnh cho thằng kia bắn, nó dùng chữ ‘bắn!’. Tụi kia mới bắn, bắn không biết bao nhiêu viên AK. Tôi thấy người cuối cùng gục xuống, sụm xuống. Cuối cùng chết rồi, thân nhân của một số người bị bắn bu quanh, họ chồm tới họ khóc, họ chồm tới họ khóc, thì mấy thằng mặc bộ đồ đen, nó đá, nó dộng, nó kêu: “Đi! Cút! Cút!”. Một số mấy thằng đó cứ la, không cho thân nhân người ta tới. Để đó! Phơi đó!

    Quý vị có biết không? Nắng, máu, ruồi, máu, ruồi, cứ nằm đó, cứ nằm đó. Mấy hôm sau, người ta mới lén lén, riết rồi làm lơ cho thân nhân người ta đem xác về chôn. Đó là cuộc bắn đầu tiên, và người đầu tiên tôi thấy ra lệnh bắn đồng bào vô tội của tôi là một giáo sư khả kính của trường tư thục trung học Nguyễn Du tại Huế, ông thầy kính mến của tôi, Tôn Thất Dương Tiềm.

    15, 16 tuổi bị VC bắt trong khi chạy đạn

    ND: Ở trong hoàn cảnh nào mà những người CS bắt được anh?

    PVT: Chúng tôi phải ở lại tại góc đường khu chợ Xép cho đến không biết mấy ngày, tôi cũng chẳng nhớ mấy ngày. Quanh quẩn ở đó từ ngày mồng 2 Tết cho đến khi chúng tôi bắt đầu thấy sự xuất hiện của những chiếc máy bay của quân lực VNCH bắn xuống cửa Đông Ba. Phi cơ trực thăng của VNCH với Đồng minh khi đó xuất hiện trên bầu trời bắn xuống. Ba tôi nói: thôi bây giờ ở đây cũng chết, phải chạy thôi. Chạy! Chúng tôi bắt đầu bỏ chạy, chạy về hướng Mang Cá, từ Nguyễn Thành, Mai Thúc Loan mà chạy ngược về phía Mang Cá. Chạy qua một xóm được, hai xóm được, qua đến xóm thứ ba thì bị mấy thằng du kích chặn lại. Nó không cho chạy, nó bắt tôi đứng lại, nó kêu tôi đứng lại đi khiêng đồ.

    Nó dắt tôi đi một hồi, tôi thấy tập trung có 5 thằng cùng xóm. Đợi đến đêm, nó dắt tụi tôi đi qua phía bên chỗ cửa Đông Ba về phía bên chùa Diệu Đế. Ngó lui ngó tới, đến khi bị bắt đầy đủ thì tôi đếm cũng khoảng mười mấy người, bằng tuổi tôi khoảng 15, 16 tuổi. Sau khi tập trung ở chùa Diệu Đế, VC sai tụi tôi đi khiêng ba cái đồ gạo cơm hay là súng đạn gì đó. Nó sai cái gì thì làm nấy thôi, nhưng con mắt thì khi nào cũng ngó đường để trốn.

    Đào hố chôn đồng bào

    Sau chùa Diệu Đế, chúng nó đưa về phiá Gia Hội, sống xung quanh mấy nhà dân. Chúng bắt chúng tôi đi khiêng vác trong vòng mấy ngày, sau thì tôi bắt đầu thấy phía bên chỗ Đông Ba, máy bay bắn xuống dữ lắm. Tụi tôi thấy chắc là phản công rồi, lính VNCH mình phản công chúng nó rồi. Tôi cũng cầu nguyện, cầu nguyện. Nhưng không phải là đi dân công đâu quý vị ơi. Đến tối đó, nó phát cho mấy cái cuốc, nó nói bây giờ đi đào mấy cái hào, cái hầm. Tại vì máy bay bắn xuống quá, tôi nghĩ chắc nó sai tụi tôi đi đào mấy cái hầm để cho tụi nó núp, giống như công sự, núp để tránh đạn tránh bom. Tụi tôi mười mấy thằng to xác vác cuốc đi đào, tối nào cũng đi đào, đào. Cái hố bề sâu xuống một thước, bề ngang bằng một sải tay, một sải tay ngang, một thằng một khúc. Đào cứ nối liền nhau, nối liền nhau. Đào xong cái này rồi đi đào cái khác, như là đào tuyến công sự đó mà.

    Nhưng quý vị biết không, sau khi đào xong lúc 3 giờ sáng, lần đầu tiên tôi thấy nó dẫn ra một đám người từ xa trong bóng tối. Những người này khi tiến tới gần, bấy giờ tôi mới thấy là tay bị trói về phía sau, cột chùm, cột dính vào với nhau bằng sợi dây điện thoại màu đen đen. Nó cột chùm, người ta dắt ra, dắt ra. Mỗi toán nó dắt ra như vậy là khoảng 14, 15 người. Những cái hố chúng tôi đào cũng vừa cái khoảng đó. Nó mới bắt những người đó đứng xoay lưng về cái hố. Nó sắp hàng những người này, những người mà nó bắt, bị cột sợi dây điện thoại, dính chùm với nhau.

    Số người này, một số mặc đồ ngủ hoặc mặc bộ đồ thường, có người mang dép, có người đi chân, có cả những người mặc quần xà loỏn. Nó sắp người ta xoay lưng về cái hố mà chúng tôi đào [ông T thở mạnh như bị ngộp thở, khóc thút thít], rồi cái thằng VC mặc áo trắng và quần cán bộ chính quy, đội nón cối, nó đọc, nó đọc bản án tội ác của những người đó. Nó nói những người đó có tội với nhân dân, có tội với cách mạng. Nó vừa đọc xong bản án thì thằng du kích VC, thằng đứng đầu mặc quần xà loỏn, quần đen áo đen, nó lấy súng AK bắn người đầu tiên, nó bắn rào, nó bắn rafale. Ông này bị trúng, ông lật ngược ra. Đằng sau đâu có cái gì đâu, là cái hố!

    Ổng té xuống, quý vị biết không, mấy người sau đâu có trúng đạn gì đâu, cũng lăn xuống. Lăn và lộn, lộn vòng xuống, lật ngửa ra. [Ông T khóc rống lên] Nó bắt tôi lấp! Nó kêu lấp, lấp, lấp lẹ! [vẫn khóc] Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi nhìn mấy người đó, tôi khóc, tôi khóc! Không! Người ta còn sống mà! Lấp đi! Không! Thế là nó dọng báng súng vào tôi, súng AK nó dọng, nó dọng đằng sau xương sống tôi [vừa thở như bị ngộp, vừa khóc].

    Chưa được, nó quay mũi lưỡi lê nó đâm tôi, nó đâm vào sườn tôi. Trời ơi, máu me! Nó đâm! Mấy thằng bạn, thằng nào cũng khóc! Nó đánh, nó đánh! Tôi phải lấp, phải lấp. Tôi lấp đồng bào tôi [khóc nức nở]. Trời ơi, trời ơi, Thượng Đế coi này! Bây giờ tôi nhớ tôi có tội quá. Tôi nhớ mấy con mắt đồng bào, mấy người dưới hố ngó tôi. Trời, trời, trời, trời ơi VC ơi là VC! Không lấp thì nó đánh! Lấp thì bà con tôi chết! Thôi, thôi, lạy Phật, lạy Trời, lạy Thượng Đế. Chưa có thằng nào nó tàn ác như vậy… [tiếp tục khóc].

    Mười mấy cái hố, mười mấy lần chôn

    ND: [cũng khóc theo] Anh không phải là người giết đâu. Tội đó là mấy thằng cộng sản [cả hai người đều khóc]

    PVT: Có hiểu thấu lòng tôi? Mấy người chết tội nghiệp ơi là tội nghiệp. Trời ơi, con mắt người ta, miệng toàn đất! Con mắt người ta ngó, tại bị cột chân ở dưới hố rồi, có người nằm ngửa nằm ngang. Trời ơi, mẹ ơi, con nằm con cứ thấy mấy người ta hoài, tội quá! Sao con cứ bị ác mộng hoài, mẹ ơi mẹ!

    ND: Thưa anh, họ bắt anh đào hố ban đêm, và sau đó nó lấy người từ dân ra đó, thì tất cả những người đào cái hố đó là toàn người dân chứ có nó dính ở trong đó không thưa anh?

    PVT: Những người đào hố là thanh niên tụi tôi đó, thanh niên thành phố Huế đó, khoảng 14, 15, 16 tuổi như tụi tôi, nó bắt đi dân công, bắt đi đào hố. Đào hố xong tưởng là để nó núp đạn, cuối cùng nó bắt chôn. Không phải một lần đâu quý vị ơi, mười mấy lần lận! [khóc lớn] Mười mấy lần, bắt chôn mười mấy đám! Mỗi lần nó bắt mình đi chôn, trời ơi tôi sợ! Không chôn thì nó đánh, hỡi ơi Việt Nam ơi, Việt Nam ơi! Lấp, lấp! Lẹ lẹ ! [ông T nói ngọng theo giọng Bắc] ĐM, ĐM, tao bắn mày! Không lấp thì nó đánh, không lấp thì nó đâm. Giọng người miền Bắc đó chị, là cái giọng người miền Bắc, nó bận đồ chính quy…

    Người bị chôn sống, người bị đập vỡ sọ

    ND: Nhưng thưa anh, trước khi nó lấp thì nó đều có bản án tử hình mấy người đó hay sao ạ?

    PVT: Khi nó dàn người ra, dàn hàng ngang ra, xoay lưng vào hố. Lúc đầu thì khi nào cũng đọc hết, đọc lệnh cách mạng, nói rằng có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc. Nó đọc xong lúc đầu nó bắn, bắn là có phước lắm, bắn người nào trúng đạn AK là có phước lắm, tại vì trúng là chết, còn không chết mới tội. Không chết, ngột lắm, ngột! Bây giờ tôi bị ngột! Chị biết không, mấy đợt sau, nó đâu có bắn, không chôn ban đêm mà cũng không bắn chị ạ, tại vì nó sợ máy bay quan sát, bắn ra xẹt lửa, người ta sẽ bắn xuống, thành ra nó lấy AK dộng người đứng đầu. Nó đập xong rồi cái thằng VC quần đen áo đen đánh vào đầu người đó, đánh một cái là té ngửa thôi.

    Sau quý vị biết không, mấy người kia té lăn xuống. Té lăn xuống thì nằm đâu có gọn, không gọn thì nó xách cuốc, nó bắt tụi tôi lấp. Còn số cuốc dư thì nó lấy cuốc nó nện đầu người ta xuống. Đầu người ta ngoi lên, nó đập người ta xuống. Lý do tại sao mà sau này đào lên, thấy cái dấu bể sọ, là bể vì cuốc đó! Là tại vì người ta không chịu chết, người ta muốn sống, mà nó bắt tôi lấp, người ta muốn ngoi lên, nó lấy cuốc đập. Những cái nhát cuốc lên đầu người ta đó, mấy thằng VC đập vào đầu dân cho đầu người ta không ngoi lên được, để đất lấp qua đầu,… Thành ra quý vị nhớ dùm cho: có những cái hố không có đạn, không có AK, không có một viên đạn. Những cái hố chôn sau không có đạn, toàn là AK nó dọng vô đầu người ta, xong rồi những người nào nằm lăn xuống mà cái đầu còn lên cao, là nó vác cuốc nó đánh.

    Trời ơi, cái cuốc mà nó xoay ngược đánh trúng cái đầu người ta là phải bể thôi. Máu ra chết từ từ, tội lắm. Chẳng thà nó bắn lúc đầu. Lúc đầu nó xử bắn ở Thượng Tứ, ở chỗ Đông Ba, bắn 5 người đó, tôi thích lắm. Tôi thích bắn như vậy đi, bắn một phát cho người ta chết, chết xong nó khỏe đi, chứ đâu có chôn sống kiểu đó được.

    Tôi thấy Hitler giết người Do Thái, ổng xả hơi ngạt đó chị, đếm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, họ chết với nhau, ôm chùm chết với nhau mà còn sướng. Chết vậy còn sướng, vì hơi ngạt chết nhanh hơn là lấp đất. Đất dưới đó đâu có chết liền đâu, nó chết từ từ, nó chết từ từ, đồng bào chết từ từ [bật khóc]. Ngột lắm chị, ngột lắm, bây giờ tôi nghe ngột…

    Hôm nay chúng ăn mừng chiến thắng

    PVT: Tôi không muốn nói nữa thưa chị à, mỗi lần nghĩ tới tôi bị trauma (=chấn thương tâm thần) chị à. Chỉ có giấu vợ tôi, giấu con tôi. Vợ tôi bây giờ nó biết tôi rồi, vợ tôi hiểu tôi, vợ trước nó không hiểu tôi đâu. Bà này bả hiểu, tại vì sau khi nói chuyện với chị, tôi ngồi tôi khóc… Tết này tôi nhớ, nhớ Mậu Thân [bật khóc], nhớ bà con, nhớ đồng bào mình, nhớ cái ác ôn của VC.

    Nó ác quá, nó ác quá. Tôi đi lính mà tôi đâu có ác vậy đâu. Hồi tôi đi lính tôi bắt nó, tôi cho nó ăn, cho nó hút thuốc, giao cho an ninh quân đội, đưa nó ra Phú Quốc, đi đâu thì đi, đâu đập đánh gì. Đồng bào tôi, ông Tiềm ơi, ông còn sống hay chết?

    Hôm nay chị biết không, Huế nó ăn 40 năm. Thằng Nguyễn Hữu Ước, tướng VC, nói là 40 năm ‘tổng nổi dậy’, huy hoàng, chiến thắng, anh hùng… Trời ơi, 40 năm vẫn không có lời xin lỗi! Và chúng nó vẫn rêu rao giết đồng bào theo lệnh cái thằng cha Nguyễn Sinh Cung sinh quán tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thằng khốn nạn sau này nó lấy cái bí danh đầu trộm đuôi cướp trôi sông dạt chợ đá cá lăn đưa, là cái thằng Hồ Chí Minh đó. Chúng theo lệnh thằng khốn nạn đó chị. Ngày mồng một, đêm 30 giao thừa, Hồ Chí Minh đọc thông điệp trên đài phát thanh Hà Nội, nhắn gởi đồng bào miền Nam ‘tổng nổi dậy, tiến lên toàn thắng ắt về ta’…

    Tôi muốn chết chị ạ, để tôi về dưới kia tôi gặp nó, tôi muốn hỏi nó một câu thôi. Nó người Bắc, tôi người Trung, nó đẻ trước tôi, gần 60 năm rồi, tôi chỉ hỏi nó một câu thôi: tại sao mi ác vậy? Đồng bào Huế của tao có tội gì đâu. Tết người ta đang ăn Tết, mi kêu ngưng bắn, người ta ngưng bắn, mi lợi dụng ngưng bắn, mi đưa lính vô, bắt đồng bào đi bắn, là làm sao vậy?…

    Thoát thân.

    ND: Thưa anh, anh có nhớ những địa điểm nào đồng bào bị chôn sống hay không, và anh có nhớ thời gian nào hay không?

    PVT: Thưa chị, suốt mười mấy đêm, chúng tôi phải liên tục làm cái công việc phải đi lấp người ta sau khi đào lỗ, trước khi thành phố Huế được lấy lại bởi lính VNCH mình. Vùng đó là vùng Gia Hội, xung quanh cái khúc Gia Hội, sau này kéo tràn xuống. Đó là vùng mà nhiệm vụ của tôi là làm dân công, cũng giống như bị bắt buộc phải lấp đồng bào tôi trong những cái hồ chôn người, vòng vòng ở tại Gia Hội. Trong thời gian mười mấy ngày đó thì chôn được mười mấy đợt, dưới sự áp lực của AK. Không làm thì nó bắn, tôi có kể với chị.

    Nhưng cũng may mắn đó chị, cũng nhờ vậy mà chúng tôi mới thoát. Tại vì nếu như chúng tôi không được đi ra ngoài thì không có cách gì tôi thoát thân mà ngồi nói chuyện với chị.

    Đêm tối đến khuya, chúng nó cứ theo cái việc là bắt được bao nhiêu, chúng tôi chỉ việc đào lỗ bấy nhiêu rồi chôn. Nhưng đến một lúc thì chúng tôi được thư thả hơn những người mà nó bắt, nó giam. Một số thanh niên không được đi làm việc như tụi tôi, số mạng những người đó sau này là bị chôn sống. Tụi nó là tụi trâu cột ghét trâu ăn, tụi sinh viên học sinh quyết tử ở Huế, cái tụi đi theo bưng bây giờ bắt những thằng không theo bưng: “Tao theo Bác Đảng, tao vô bưng, tại sao mày không vô? Bắt mày bắt để trả thù.” Tư thù, tư oán, A, B, C, D gì mình không biết chuyện đó. Thành ra tụi tôi đào lỗ, chôn người ta. Ngày thì đi ăn, đi kiếm đồ nhà dân, nhưng đến chiều -mấy ngày trước khi mình lấy lại được Huế- trời ơi tôi thấy sao mà lính Việt Cộng từ phía trên cứ tràn về, tràn về; tức là như nó bị quân lực VNCH rượt nó, thành ra nó dồn về. Lúc đó tới 5, 6 trăm người đó chị! Khi chạng vạng tối, máy bay trực thăng rọi đèn xuống bắn, nó bắn, bắn riết. Thì tụi nó – lính nó đông lắm chị – nó bắn lên. Ở trên bắn xuống.

    Tôi nói chị nghe, lúc tụi tôi đi chôn thì tổng cộng là mười mấy người, nhưng tụi tôi thân với nhau cùng xóm chỉ có 4 thằng thôi. Tôi nói với mấy thằng đó: “Tình trạng này, mình phải lợi dụng thời cơ mà chạy thôi, tại vì trước sau gì nó cũng bắn mình thôi. Bây giờ mình cứ đợi, đến khi…” Đến khi, chị biết sao không, máy bay bắn xuống lúc hoàng hôn chạng vạng. Tôi có dặn tụi nó trước rồi – hồi đó tôi khỏe, to con, tôi nói cái gì thì tụi nó đồng ý, tất cả đồng ý với nhau – tôi nói khi nào mà tôi nháy mắt thì mình chạy về cái hướng mà tụi nó không chạy, mình chạy ngược lại thì hy vọng rằng còn sống sót, còn nếu chạy lại thì không cách gì được cả. Và cuối cùng là tôi chạy, và tôi nháy mắt, vừa nháy mắt thì máy bay bắn xuống. Trời ơi, chạy khi đó thì một ngàn, chỉ một cơ sống sót. Máy bay bắn xuống thì mình cũng chết thôi, mà chẳng thà chết như vậy đi, chứ thấy chết dưới hố ngột quá đi.

    Chạy ra! Một hai ba bốn! Bốn thằng chạy, chạy xong phóng vô bụi liền. Máy bay đang bắn xuống, nó bận bắn máy bay, nó bận núp nữa, nó cũng sợ chết chứ đâu phải… Núp vô bụi xong lại chạy, chạy! Một trong mấy thằng tụi tôi, cái thằng chạy sau – cùng xóm – nó bị bắn, bắn rớt lại. Ba thằng tôi chạy, cắm đầu cắm cổ chạy, chạy một hồi. Máy bay không thấy bắn xuống tụi tôi, mà thấy AK ở dưới nó bắn xà tới… tạch tạch tạch tạch. Chị biết không, khi chị chạy mà súng trên trời bắn xuống hay súng bắn theo, thì chị biết liền à.

    Ôm anh lính VNCH mà khóc.

    Nó bắn chết một thằng, song tụi tôi cứ chạy, chạy chết thôi! Tụi nó bắn theo, biết bắn chỗ nào bây giờ, bắn vô bụi thôi! Ba thằng tôi chạy một hồi, tới tối thấy một vùng có đèn, có máy xe nhà binh rú, rú, rú! Thấy xe nhà binh, tụi tôi hét lên “Cứu, cứu, cứu, cứu!” Mới thấy anh lính rằn ri cầm khẩu súng M16 – cái súng dài dài đó. Ba thằng tôi la: “Cứu, cứu, cứu!…”

    Cái xe có cái đèn pha, nhờ ánh sáng đó tụi tôi mới thấy, tụi tôi mới hét lên. Ổng mới lấy cái đèn pha, cái đèn pin, rọi rọi; thấy tụi tôi, mới ngoắc tay ra. Ổng nghe “cứu, cứu, cứu,” cũng chẳng hỏi tụi tôi là Việt Cộng hay quốc gia gì hết. Nghe “cứu cứu” thì ổng biết là dân mình thôi. Chạy ra, chạy ra!

    Trời ơi, tôi kể chị nghe, trong tay thằng Việt Cộng mấy chục ngày, đến lần đầu tiên gặp anh lính Cộng Hoà (ảnh cầm khẩu súng, ảnh ngoắc ngoắc tới) trời ơi, tôi tới tôi ôm ảnh đó chị! Trời ơi, giống như mẹ đi chợ về! Tôi ôm ảnh tôi khóc, khóc nức nở. Ba thằng ôm ảnh khóc nức nở, không bảo nhau gì hết. Tự nhiên cái lòng thương người lính VNCH, một người mà mình cảm thấy có sự bảo vệ… Tôi ôm ảnh khóc! Anh vuốt đầu nói: “Không sao đâu! Không sao đâu! Không sao đâu em!” Bắt đầu tôi kể từ đầu đến cuối. Anh dắt vô cho ăn. Phía sau có nước, anh cho tắm. Rồi mặc đại ba cái đồ lính của ảnh. Có đồ gì đâu!

    Tìm lại xác bạn.

    Mấy ngày sau, lấy được Huế! Mình kể là mình đi chôn như vậy, thấy tội ác như vậy, họ mới đi theo. Tôi chạy, chỉ, chỉ, chỉ, đi phía trước chỉ… Chị nhớ cái chỗ mà lúc tụi tôi chạy, có máy bay bắn xuống, để thoát khỏi Việt Cộng, bạn tôi còn đó! Mười mấy thằng còn đó! Mới 4 thằng chạy, 1 thằng chết. Chị biết không? Bạn tôi, xác mấy thằng nhỏ cùng tuổi tụi tôi: bị bắn vô đầu! Tụi nó bắn vô đầu trước khi rút đi. Thì ra thế này! Tụi tôi tới gặp mấy cái xác đó, cũng thúi rồi, mấy ngày rồi. Khóc! khóc! [anh T. cũng khóc khi kể] Trời ơi đứa nào cũng lỗ chỗ trên đầu. Nó bắn xong nó chạy, tại vì tụi này, nó hết xài được rồi. Mà sợ chạy như tụi tôi thì đi báo!

    Con cảm ơn Ơn Trên. Sau khi thấy xác mấy người bạn đó rồi, bắt đầu tôi mới chỉ hầm. Đào lên… Đào lên thì xác cũng thúi rồi.

    Sau này có một số mồ nó mới chôn, nó chôn trước chôn sau, thúi ơi là thúi. Chị có tưởng tượng không, cái lỗ mũi tôi thúi, giống như bị nước xác chết, thúi, thúi! Khi đó, phải bôi dầu, bôi mỡ mà kéo mấy cái xác đó lên, vừa kéo vừa khóc. Tới ngay mấy cái mộ mà mình đào, mình chôn người ta, tôi còn nhớ những bộ áo quần lúc đêm người ta mặc, nhớ những con mắt người ta ngó lên… Ám ảnh, ám ảnh, ám ảnh… Tôi thành con người khốn khổ…

    Suốt thời gian ấy giúp mấy anh đó đi chỉ mộ cho họ đào, đem xác người ta lên. Đó là những vùng mà tôi biết có những cái mộ mà chính tụi tôi tham dự đào dưới sự áp lực của giặc. Sau này có bao nhiêu mồ chôn tập thể, nhiều lắm chị ạ.

    Phải khôi phục danh dự người chết.

    Nhiều lúc mình ngồi mình suy nghĩ lại: những người chết ở dưới mồ, làm sao mình khôi phục lại được danh dự cho người ta. Nó nói những người đó là có tội với cách mạng, có tội với nhân dân, có tội với đất nước, thành ra nó chôn người ta. Nhưng dưới mắt tôi, tôi thấy tội lắm! Rõ ràng là nó vô, nó dùng vũ lực bắt người ta đi chôn. Bởi vậy do đó, tôi nói với chị, 40 năm rồi chưa có một ai lên tiếng để đòi hỏi nhân quyền, danh dự cho những người chết tại Huế và tại đất nước VN trong Mậu Thân.

    Bởi vậy lòng đau canh cánh hoài, mỗi lần đến Tết là cứ canh cánh, canh cánh. Con người tôi giống như vật vờ, vật vờ, sống mà bị ảo tưởng của mộng và thực, mộng và thực. 40 năm rồi tôi vẫn thấy con mắt của những người dưới hố, nhìn một cách căm hờn. Một nhát cuốc đánh vào đầu, họ không chết đâu chị. Việt Cộng đánh họ không chết đâu, vẫn còn sống chứ; nhưng những cái lấp đất của mình, lấp từ từ, từ từ, đất nó tràn qua, không có không khí thở, tại vì người ta phải nằm dưới đó! Tội nghiệp…

    Mỗi lần nhắc tới… Tôi ước mơ lần này là lần cuối cùng, tôi không bao giờ muốn nhắc nữa đâu! Mỗi lần nhắc tới, lòng tôi khốn khổ lắm, nó khốn khổ giống như nhắc về một tội ác mà mình tham dự vào. Chị Nam Dao ơi, mong chị hiểu cho tôi. Tôi khốn khổ lắm! Bây giờ tôi giống như là cạn kiệt rồi. Khi Tết về, tôi cầu nguyện cho mấy oan hồn đó siêu thoát, đạo nào siêu thoát theo đạo đó đi. Tôi cầu nguyện có được một câu trả lời: tại sao người Việt Nam mình ác với nhau làm chi vậy? Ác quá, ác thiệt! Ác quá chị Nam Dao ơi, ác quá! Không có một sách sử nào có thể diễn tả được.

    ND: [ngậm ngùi] Thưa anh, trước tiên ND rất là xin lỗi anh đã tới xin anh kể lại những thực tế đã làm cho anh đau lòng mỗi lần anh nhắc tới. Nhưng hồi nãy, anh có nói một câu, anh bảo là anh muốn khôi phục lại danh dự cho những người dân oan bị chôn sống, thì thưa anh, việc ngày hôm nay anh nhắc lại những điều đó tức là anh đã tìm cách khôi phục lại danh dự cho đồng bào mình. Có lần nói chuyện, anh bảo thà là anh chết đi, nhưng cái đó không đúng đâu thưa anh. ND nghĩ là lịch sử và định mệnh đã giao cho anh cái vai trò là anh còn sống sót để mà anh đại diện lên tiếng nói cho những người đã bị chôn sống. Anh đại diện cho những ánh mắt uất ức. Người ta không nói được cho thế giới thấy [ND cũng khóc] cái tội ác của cộng sản VN. Thành ra, anh can đảm sống anh nhé, và anh có trách nhiệm đối với tổ quốc, đối với dân tộc, là anh đi nói cho đồng bào, cho tất cả mọi người, cho thế giới thấy tội ác này để trả lại lịch sử đúng đắn cho VN mình. Đây không phải là cuộc chiến thắng Mậu Thân, mà đây là thảm sát Mậu Thân, một tội ác của Cộng sảng đã làm nhơ nhuốc trang sử ngày hôm nay. Anh can đảm lên anh nhé!

    Sao tôi lại hèn vậy?

    PVT: Dạ cảm ơn chị. Tôi thú thật với chị là suốt 40 năm, kể từ ngày mà tôi như một cậu bé bị tụi nó bắt phải chôn sống đồng bào tôi, những ánh mắt căm hờn, những ánh mắt lạy lục – trong ánh mắt đó có lạy lục, van xin đừng lấp nữa, và căm hờn cũng có: tại sao mày làm như vậy – thú thật nó cứ đeo đuổi tôi hoài. Hôm nay mặc dù chị nói vậy, tôi cũng nghĩ mình có tội. Có tội tại vì mình hèn đó chị [bật khóc], thật là tôi đã cầm cuốc đánh nó được rồi, rồi nó bắn tôi cũng vậy thôi, nhưng tôi hèn tôi không làm được, chị biết không. Cuối cùng tôi phải làm cái trò đi chôn sống đồng bào tôi.

    Tôi nghĩ mình hèn chớ. Nếu như nói người ta ai cũng chết, tại sao không phản kháng, tại sao mình lại tiếp tay cho nó, khiến đồng bào mình chết? Tôi khổ lắm, tôi cứ dằn vặt, dằn vặt giữa cái xấu và cái tốt. Tự nhiên bây giờ mình lớn tuổi bị dằn vặt rất nhiều, cứ sống bị ảo mộng, bị ác mộng. Mặc dầu nói thì dễ, nhưng nhiều lúc mình nghĩ: đáng lẽ mình làm vậy, đáng lẽ mình làm vầy…

    Hồi đi lính, tôi cũng là một chiến sĩ. Mặc dầu là một sĩ quan pháo binh, nhưng tôi cũng đã chiến đấu hết lòng. Trong lúc Việt Cộng bắn đồng đội tôi, bắn nhân dân tôi, tôi cũng phải bảo vệ nhân dân tôi, tôi cũng đâu có tiếp tay để VC nó sát hại nhân dân tôi! Tại sao tôi đi lính tôi làm được việc đó, mà lúc đối diện với kẻ thù khi 16 tuổi, tôi lại hèn như vậy? Tôi nghĩ nếu tôi có đủ can đảm, chắc là tôi cũng không phải ngồi lại bây giờ mà nhớ những nhát cuốc, nhát đất mà đồng bào tôi, những người dưới hố nhìn tôi bằng con mắt căm hờn, con mắt van xin tôi đừng làm. Nó khốn khổ lắm! Chị phải ở trong hoàn cảnh chị mới thấy.

    Sống là sao? Sống là chuẩn bị một hành trình để mình chết cho nó dễ, mình đi cho nó dễ. Tại vì ở đây chỉ có chỗ ở tạm mà thôi; tôi quan niệm sống là ở tạm mà thôi, sống gởi thác về. Hành trình mình còn đi xa lắm. Thành ra khi tôi thấu được điều này, tôi cảm thấy kiếp này tôi mắc nợ nhiều lắm. Tôi mắc nợ mười mấy đợt chôn sống người ta. Và tại sao tôi lại khốn khổ như thế này? [bật khóc] Tại sao không phải là người khác mà lại là tôi? Bởi vậy do đó tôi cứ cầu nguyện hoài, cầu nguyện Ơn Trên. Tôi đang chuẩn bị hành trình tôi phải đi để rời quả điạ cầu này. Một lúc nào đó cũng phải đi thôi, nhưng cái tâm của mình không biết làm sao cởi bỏ được đây! Tại sao, tại sao, tại sao?

    Tôi ước mơ một lúc nào đó tôi sẽ phá được cái u minh trong đầu tôi, tôi thấy được Chân lý để có thể cảm thấy bình an tâm hồn, chứ thiệt ra tâm hồn tôi không có bình an suốt mấy chục năm nay!

    Tôi giấu giếm đủ thứ chị ơi, giấu giếm vợ con tôi. Tôi đâu dám nói với con tôi, không dám nói chuyện với người vợ đầu tiên của tôi, không dám nói chuyện với bạn. Vậy mà hôm nay tự nhiên làm sao, chắc tuổi già rồi, tự nhiên tôi nói, nói, nói… Khi tôi thấy lá cờ CSVN tung bay ở trên tivi SBS, tôi tức quá tôi mới nói, tôi chịu không được nữa rồi. Vậy bây giờ tôi mới nói, từ hồi mình đánh cái vụ VTV4 tôi mới nói, chứ tôi giấu đó chị. Chẳng ai biết tôi dính dáng ba cái chuyện đó đâu. Tại vì mình nghĩ mình dính cái tội, mà mình lại hèn quá, mình không làm gì được. Tức quá, tức quá, tức quá! Nhưng tôi muốn nói lên tội ác của CSVN, tôi không muốn nhìn mặt cái thằng khốn nạn Nguyễn Sinh Cung Hồ Chí Minh trên cái ti vi của nhà tôi nữa. Bởi vậy tôi mới lên tiếng đấu tranh trong vụ VTV4 năm 2005.

    Bởi vậy, chính từ khi tôi nói ra thì tôi nói ra luôn, chứ đáng lẽ chuyện này tôi giấu, tôi giấu kín, tôi không dám nói…

    Huế sợ con ma Mậu Thân.

    Tội quá đi ! Mỗi lần nghĩ tới, tự nhiên sao cái đầu tôi -trời ơi chị biết không- như đầy dòi bọ thúi tha, giống những người đã chết oan uổng. Dòi bọ trong hốc mắt, dòi trong lỗ tai, dòi bọ trong mũi. Ruồi – Huế nóng lắm – ruồi, ruồi, dòi, dòi, thúi cả một thành phố. 40 năm về trước nó thúi cả thành phố Huế. 40 năm sau, hôm nay tụi khốn nạn cầm quyền nó ăn mừng đại thắng. Tôi nói thật với chị : có điều tôi không hiểu làm sao, cũng con người với nhau, tại sao cái tư tưởng con người nó khác nhau nhiều vậy? Làm tôi bứt rứt quá! Mỗi lần nó nói chuyện đại thắng Mậu Thân, tự nhiên tôi cảm thấy tôi khốn nạn lắm, tâm hồn tôi cảm thấy khốn nạn vô cùng, không cách gì mà diễn tả được….

    ND: Thưa anh, anh nên nhìn khía cạnh tích cực hơn, tại vì ND nghĩ ở cái tuổi đó, lúc anh 16 tuổi, mà anh đã từng lên tiếng phản đối rồi, nó đã lấy lưỡi lê nó đâm vào anh rồi, ND nghĩ sự anh chọn lựa anh ở lại anh chôn…

    PVT: [ngắt lời ND] Lúc đó tôi ngừng, tôi không lấp đất! Tôi khóc, tôi đứng đó tôi khóc! Tại vì nó kêu lấp mà! Tôi không lấp, tôi đứng tôi khóc, tôi chống nó tôi khóc. Tại vì tôi không thể làm chuyện này – tôi nói trong bụng mà – tôi không thể làm chuyện này. Tôi khóc, không làm, thì nó mới lấy báng súng AK nó dộng lên lưng tôi. “Lấp lẹ lẹ, lấp lẹ lẹ ![ông T. nói ngọng theo kiểu giọng Bắc] ĐM! ĐM!” nó chửi thề như vậy. Xong rồi đánh. Nói thật lúc đó cũng đau chị ơi, nhưng đâu có đau bằng thấy đồng bào mình dưới đó! Thành ra tôi đứng đó, nhưng mà hồi sau nó lấy lưỡi lê nó đâm vào sườn tôi, tôi mới đau. Lúc đó hết rồi, hết đứng được rồi, phải lấp thôi. Bởi vậy chị có thấy không, tôi không chống đối nó. Nếu tôi chống đối nó, tôi quay cuốc tôi đánh nó, thì nó sẽ bùm bùm cắc cắc tôi một vài phát thì tôi cũng chết. Nhưng chẳng thà vậy đi! Bây giờ tôi nghĩ chẳng thà vậy đi! Mình chết thì chết, nhưng mình làm vậy tội lắm, tội lắm… Con cá mà mình bóp cổ, nó ngóp, nó ngóp, mình còn chờ cho nó chết mình mới chôn! Đàng này người ta còn sống mà! Ác quá! Ác quá!

    Bây giờ hai thằng bạn tôi sống đâu rồi, tụi nó không biết ở đâu rồi, phiêu bạt giang hồ chỗ nào? Làm ơn giúp tôi đi, giúp tôi một tay, làm nhân chứng trong vụ này. Tôi vái trời cho tụi nó còn sống…

    Phiêu bạt giang hồ, tôi bỏ Huế tôi đi từ hồi đó tới giờ, không bao giờ về… Tôi sợ Huế chị ạ! Không phải tôi sợ quê hương tôi, nhưng tôi sợ cái quá khứ khốn nạn mà CSVN gieo rắc vào quê hương tôi. Mỗi lần nhắc tới Huế, tôi tắt radio. Nhạc mà hát về Huế, tôi tắt. Nói tiếng Sàigòn đi, chị mà nói tiếng Huế, tôi sợ tôi đi. Ở Huế mà sợ Huế, không có chị ơi! Huế không phải sợ Huế, mà Huế sợ cái con ma Mậu Thân Huế. Cái bóng ma Mậu Thân Huế 40 năm nó vẫn theo tôi. Ai nói tiếng Huế tôi giật mình. Chị nói anh người Huế, ai nói tiếng Huế anh thích, không có

    ..

  7. thụyvi says:

    2 / CÂU CHUYỆN CỦA NGUYỄN THỊ THÁI HÒA:

    Kính thưa quý vị,

    Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung, thay cho tất cả những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đảng CSVN, và bè lũ khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v…

    Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8- đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.

    Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương… thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm… Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.

    Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ. Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm. Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.

    Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…

    Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30 Anh hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.

    Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.

    Nhưng qua nửa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…

    Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3, 4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngỏ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cã những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.

    Tronglúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba… rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.

    Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tứ bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà Sơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có Sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.

    Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà Sơ, và mấy người nữa.

    Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.

    Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay họ đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.

    Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy Sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…

    Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm… cầm hơi!

    Tôi quyết định chạy về tìm gia đình.Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hãi, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.

    Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống.Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gần. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam) nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.

    Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.

    Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.

    Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.

    Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.

    Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời HPNP nói.

    Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chỗ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.

    Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn Khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô Bv cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chỗ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.

    Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương!

    Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh dấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.

    HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thìVăn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.

    Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.

    HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẫy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.

    Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chiếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.

    Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhã đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều. Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại nồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.

    Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.

    Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “đi, mau ngó chi!”

    Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.

    Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.

    Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…

    Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.

    Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!

    Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.

    Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.

    Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.

    Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nổi ni…

    Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

    Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến.

    Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi, thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!

    Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

    Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!

    Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.

    Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai, ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…

    Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc Anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

    Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính.

    Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lạy, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mắt mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẫm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của ông nội đang ở trong nhà.

    Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rủ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!

    Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hậu còn dấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.

    Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.

    Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin họ đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Họ bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.

    Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nĩ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Họ không cho. Họ phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…

    Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồng ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuốc xẻng đang đào đất. Tâm rí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…

    Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.

    Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu,bức tai, giọng tức tưởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.

    Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa.

    Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.

    Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nĩ tôi rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

    Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọnVC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.

    Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tội như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.

    Sau khi Huế được giải thoát, ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cử hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn đươc nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.

    Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần đường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.

    Thưa Quý Vị,

    Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.

    Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…

    Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của CSVN ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.

    Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.

    Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người thân yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát.

    Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết

    Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:

    Tên ông nội: Nguyễn Tín, 70 tuổi.
    Ba người anh: Nguyễn Xuân Kính, sinh năm 1942, sinh viên y khoa, .
    Nguyễn Xuân Lộc, sinh năm 1946, sinh viên luật,
    Nguyễn Thanh Hải, sinh năm 1949, sinh viên Văn Khoa,
    Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.

    Nguyễn Thị Thái Hòa

  8. thụyvi says:

    Mời đọc bài phân tích của Huy Phương về đoạn phim trên:

    Vào những ngày đầu năm Âm Lịch ở Little Saigon, khi không khí những ngày Tết hải ngoại còn vướng vất đâu đây, tôi nhận được qua điện thư một đoạn phim (chưa edit) trong loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer). Chúng ta cũng đừng quên rằng trong thời gian Tết Mậu Thân, Tường là Tổng Thư Ký của “Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình” do Lê Văn Hảo làm chủ tịch.
    Để trả lời câu hỏi: “Ông có thể mô tả biến cố về cuộc nổi dậy tại Huếvà đặc biệt liên quan đến cuộc thảm sát từ khi ông có mặt tại đây”, Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) đã trả lời vòng vo, ấp úng trong 12 phút với một luận điệu gian dối, vu vạ, sai sự thật một cách đáng khinh bỉ. Là một người lính có mặt ở Huế trong 21 ngày Cộng Sản chiếm cứ cố đô, sau đó, với tư cách phóng viên báo chí, đã trở lại đi theo những chuyến đào mộ tập thể, cũng như đã có dịp phỏng vấn nhiều nhân vật liên quan đến vụ thảm sát ở Huế, như ông Võ Văn Bằng, Chủ tịch Uỷ Ban Truy Tầm & Cải Táng Nạn nhân CS Mậu Thân, tôi thấy cần phải viết một vài dòng về bộ mặt và tâm địa độc ác của một “người” mang danh trí thức Cộng Sản như HPNT.
    Điều phải nói trước tiên là Tường đã nói dối khi phủ nhận sự có mặt của y trong những ngày bộ đội CS vào Huế. Về sau này, trước dư luận và sự tấn công của báo chí hải ngoại, qua các nhân chứng xác nhận HPNT hiện diện tại Huế ngay trong các vụ xử án trong vùng Gia Hội, Tường đã chối rằng trong những ngày này, y đang ở trong khu an toàn trên núi. Chính câu hỏi của phóng viên đài truyền hình ờ đầu bài đã xác nhận sự thật, vì nếu Tường không có mặt ở Huế, sẽ không có cuộc phỏng vấn này cũng như nội dung câu hỏi được đăt ra ở trên. Mặt khác, sau này chính y không nhớ là mình đã thú nhận chuyện có mặt ở Huế vào phút thứ 6 của đoạn phim này, vào năm 1982, khi Tường mô tả chuyện y đang đi trong những con đường hẻm vùng Đông Ba và đã nói những câu “khi chúng tôi rút lui” hay “tôi là một chứng nhân” nghe rất rõ ràng.
    Câu nói vào đề của Tường là vụ thảm sát ở Huế “do chính Mỹ gây ra” nhưng lại đổ cho tội lỗi của “cách mạng”, và xem đây như là một bửu bối để đưa ra trước cuộc hoà đàm Paris để bôi nhọ “Cách Mạng Việt Nam”.
    Để nói về những người bị giết, Tường cho biết, trong số đó hiển nhiên là “có một số người” do du kích và “quân đội cách mạng” thi hành bản án tử hình tại chỗ, vì căm thù đã lâu, bị tra tấn, cả gia đình phải đi ở tù, và khi cách mạng bùng lên, họ (CS) lấy lại được thế của người mạnh, nên phải giết. Mặt khác đây là những tên ác ôn đã từng giết nhiều gia đình cách mạng, có khi cả nhà 10 người, nay “cách mạng” chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng. Chính những người chỉ huy của cách mạng không thể kiểm soát nổi họ, và chính họ (cấp dưới) đã thi hành bản án đối với kẻ thù của mình.
    Sau khi cho rằng “khối lớn người chết đã làm nên những nấm mồ, đã được Mỹ Nguỵ quay phim và đưa ra công luận”, Tường đã lớn tiếng đặt câu hỏi:“Những xác chết nằm ở dưới đó là ai?” và tự giải thích:
    1. Nhân dân đã bị bom Mỹ trong các đợt phản kích chiếm lại Huế. Tường dẫn chứng Mỹ đã thả bom một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba (?), “đúng” 200 người vừa chết vừa bị thương. Trong đêm tối y đã đi trên những đường hẽm, lội trong một vũng lầy, mà y tưởng là bùn, nhưng khi rọi đèn pin lên thì đó toàn là máu lầy lội, và trong những ngày “chúng tôi rút ra” thì chúng nó (Mỹ hay Nguỵ) đã gom lại và đem đi chôn.
    Dân chúng Huế đã hiểu đây quả là một điều dối trá, và nhờ câu nói này chúng ta biết rằng, người Cộng Sản thường lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh.
    2. Hằng loạt gia đình có con em tham gia cách mạng, đi lên rừng sau Mậu Thân thì chúng (Nguỵ) đã bắn chết và cũng chôn vào trong những hố đó.
    3. Xác của quân giải phóng mà chúng tôi không kịp mang theo thì cũng được chôn vào đó.
    4. Có những đoàn thanh niên và thường dân bị lưu giữ, mà chúng tôi không hề có ý định giết nhưng vì đi thành một đám đông nên bị máy bay Mỹ cương quyết tìm cách tập kích vào để không còn ai có thể sống sót, chết nằm ở bìa rừng, kể các các cán bộ, binh sĩ hộ tống đoàn người đó cũng bị chết luôn. (Luận cứ này đã dược Bùi Tín lặp lại trong một lần trả lời báo chí năm 2007.)
    5. Ba năm sau 1975, chúng tôi đi làm thuỷ lợi đã đào được những hầm gọi là “thảm sát Mậu Thân” mà trong đó đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng.
    Để kết luận, Tường cho đây là sự ranh mãnh của thực dân mới, bắn một mũi tên được hai mục tiêu: che dấu tội ác đã làm và đổ tội tất cả cho quân giải phóng. Một cách thiếu luận cứ, Tường cho rằng “thảm sát mậu Thân” là một kế hoạch tuyên truyền rất lớn có tính cách chiến lược do Kissinger đề ra và nước Mỹ đã tốn một ngân sách rất lớn để dùng cho vấn đề gọi là Mậu Thân ở Huế.
    Sau khi chối quanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở lại nói rằng đối với những người mà nhân dân đã thi hành bản án là lẽ đương nhiên vì lòng căm thù, và khi đối diện với kẻ thù, trước họng súng, “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi, thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.
    Tường cho rằng chiến dịch “Thảm Sát Mậu Thân” do chính quyền Mỹ bịa ra, dựng lên để “đổi trắng thay đen” và để “lừa bịp nhân loại”.
    Chúng ta, đồng bào Huế, gia đình các nạn nhân và nhất là các phóng viên báo chí quốc tế đã có mặt trong những ngày đào mộ và cải táng những nấm mồ tập thể tại Huế sau Tết Mậu Thân, và căn cứ vào danh sách nạn nhân, cách giết người, cách trói người trong các hầm tập thể, đã thấy những lời nói của HPNT là gian dối. Trong các hố chôn tập thể này chúng ta đã tìm thấy thi thể các giáo sư y khoa người Đức, các giáo sư trung học, các vị linh mục, sư huynh, tu sĩ, sinh viên, học sinh, công chức, quân nhân và cảnh sát không vũ khí, y tá, học sinh, thường dân… đầu bị bể nát hay thủng vì vết đạn, bị trói xâu chùm bằng giây điện thoại, thép gai, giây lạt tre. Phải chăng họ là những tử thù của các đồng chí của HPNT? Và trong 22 hầm chôn tập thể được khám phá không hề có một đôi dép râu, cái nón cối hay cái mũ tai bèo nào. Chúng ta nếu muốn lên án hay đổ lỗi cho Cộng Sản cũng không thể nguỵ tạo hay che dấu được điều gì trước sự quan sát của các phái đoàn quốc tế đến Huế. Bản chất “đổi trắng thay đen” để “lừa bịp nhân loại”, dối trá, vu vạ là những đòn chính trị lâu đời của Cộng Sản, mà những tên học trò tay mơ như HPNT không thể qua mặt được ai.
    Trong phần cuối của cuốn phim, HPNT đã lên án chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mặc dù không liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân, chúng tôi nêu ra đây, để thấy thêm sự xảo trá, quá quắt của y.
    -Thứ nhất, y nói rằng “hằng năm đến ngày Tết, tất cả giáo sư đại học, trí thức, nguỵ quyền, đều phải mặc “áo xưa” (ý y muốn nói đến áo thụng) đến quỳ ở trước sân để tung hô chúc thọ, mừng tuổi cho cả gia đình họ Ngô kể cả Ngô Đình Diệm ngồi trên những cái ngai vàng.”
    -Thứ hai, muốn loại những ảnh hưởng của cách mạng tháng 8 ngay trong thành phố này (Huế), “những gia đình có con đi tập kết ra Bắc lần lượt bị tù đày và bị tra tấn.”
    -Thứ ba, với “những gia đình có chồng đi tập kết để lại một đứa con ở trong bụng thì chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài (sic)!
    Người viết bài này và HPNT đều là công chức dưới thời TT Ngô Đình Diệm (năm 1966 Tường mới ra bưng), bản thân Tường và Tường có thấy tôi đến quỳ trước sân nhà ông Ngô Đình Điệm ở Phủ Cam không?
    Về chuyện gia đình tập kết, một người bạn chung mà chắc Tường không thể không biết, là Tôn Thất Lan có cha đi tập kết, sau 1975 mới về. Lan và người em trai đều tốt nghiệp Y Khoa, Tôn Thất Lan nguyên là Thiếu Tá Quân Y phục vụ tại Long An, sau 1975 ở lại tiếp tục hành nghề ở Saigon . Em của Lan vượt biên sang Mỹ hiện làm việc tại Quận Cam. Ở miền Nam ai cũng biết, ông Dương Văn Minh và ông Trần Ngọc Châu đều có em trai đi tập kết theo Cộng Sản, mà người làm đến Tổng Thống, người là Tỉnh Trưởng rồi Dân Biểu. Vậy mà ở miền Bắc, HPNT nói điều này ra chắc cũng có người tin, mới biết chính sách tuyên truyền của Cộng Sản điêu ngoa, chà đạp lên sự thật đến dường nào.
    Điều cuối, ghê tởm nhất là Tường vu cáo những người đàn bà mang thai có chồng đi tập kết bị chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài. Trước hết, sự thật, nếu HPNT dẫm lên bụng một người đàn bà mang thai, cái thai có văng ra ngoài được không? Trong thành phố Huế này, nơi mà tôi và HPNT đã lớn lên dưới thời Vua Bảo Đại, qua thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà, có ai nghe, chứ chưa nói đến chuyện thấy hành động độc ác, chỉ có trong trí tưởng tượng của những con người Cộng Sản, và dùng nó để tuyên truyền cho đám dân ngu dưới chế độ CS Bắc Việt, chứ ở miền Nam, nói chuyện này, ai tin!
    Người xưa gọi thái độ này của HPNT là “ngậm máu phun người” (hàm huyết phún nhân), và dân Huế có câu “nói mà không sợ cây nó mọc trong họng,” nôm na đặc sệt Huế nhất lại có thành ngữ “một lời nói là một đọi (bát) máu!”
    Người trí thức phải đặt sự thật lên tất cả phe phái, không uốn lưỡi vì danh lợi, phải “yêu ai thì nói rằng yêu, ghét ai thì bảo rằng ghét.” như Phùng Quán, đừng vì sợ hãi, lập công trạng mà bỏ sự thật. Muốn có một xã hội tốt đẹp không cần phải đào tạo con người theo “mô hình xã hội chủ nghĩa” mà phải đào tạo những con người chân thật, biết yêu sự ngay thẳng, ghét điều gian trá. Những con người tự nhận là nghệ sĩ, trí thức XHCN như HPNT sẽ đưa đất nước này càng ngày càng đi vào con đường tồi tệ. Những ai là người dân Huế một thời với HPNT, những ai đã sống và biết đến tấn thảm kịch Mậu thân, sẽ phải đau lòng và cũng buồn cười trước những lời phát biểu của HPNT.
    Tường ơi! Huế oan khuất, đau đớn lắm. Mi phải trả giá những gì mi đã tạo ra, nghiệp khẩu và hành động đã đưa mi đến tình cảnh ngày hôm nay. Đã đến lúc ăn năn, hối lỗi đi là vừa, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”

  9. quang phan says:

    Những lời thuật lại của anh Phan Văn Tuấn và chị Nguyễn Thị Thái Hoà là những must-read mà mọi người Việt cần đọc để biết qua về giai đoạn tăm tối này của đất nước.
    Mong rằng sẽ được dịch ra Anh ngữ để cho những người nước ngoài có thể đọc và hiểu thêm được về hoạ Cộng sản.

  10. Văn Chung - Pháp says:

    ” ….tôi thấy cần phải viết một vài dòng về bộ mặt và tâm địa độc ác của một “người” mang danh trí thức Cộng Sản như HPNT…” COMMENT : cộng sản không phải là ” người ” chúng là quỉ, đã là quỉ thì chúng sẽ xuất hiện bằng đủ mọi hình thái, thượng và hạ cám từ dân ngu cu đen cho đến trí thức ( Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng..) nhà tu hành đạo đức ( quốc doanh !? ) cho tới quân du côn đâm thuê chém mướn ( với công an cảnh sát để cướp đất cướp nhà dân ), HPNT cũng không ngoài qui luật này, nó là một con quỉ đội lốt trí thức ! Dù là ngu hay trí thức thì quỉ bao giờ cũng HẠI người chứ không khi nào quỉ lại ” GIÚP ” người !

  11. Văn Chung - Pháp says:

    Xin được dùng phép Tam Đoạn Luận, ( Syllogisme ) để xác đinh bản chất của con người cộng sản :
    — ” Giết ! Giết nữa hai bàn tay không phút nghỉ ngơi
    Cho ruộng đồng lúa tốt xanh tươi
    Cho Đảng bền lâu rộng bước chung lòng
    Thờ Mao chủ Tịch, Thờ Xít-ta-Lin bất diệt !
    — Tố Hữu là cộng sản ( cũng trí thức !?)
    — vậy người cộng sản chỉ biết có chém giết không lúc nào nghỉ tay để đạt mục đích : ” …cho Đảng bền lâu… trèo đầu trèo cổ dân lành, cho thỏa chí chốn chui chốn lủi mãi trong hang trong hốc, trong rừng sâu nước độc ! ” . Người cộng sản chỉ biết có chém giết, mà HPNT là cộng sản vậy HPNT cũng chỉ biết có chém giết, oan nỗi gì mà còn chối quanh rõ là ” Trí thức hèn, trí thức ” chồn lùi ” thì có, xấu hổ, mắc cỡ quá đi !

  12. [...] bạn là như thế này, một cái người như vậy, thì chính họ đã giết gia đình kia mười người thì bây giờ người ta chỉ giết lại một người mà thôi như [...]

 
 

Leave a Comment