Quán ăn, quán nhậu khắp nơi từ bình dân đến cao cấp, ẩm thực Việt ngon là một điểm cộng. (Ảnh: internet, via Vinpearl)
Mục lục
1. Về tôi
2. Việt Nam hiện đại trong mắt người trở về
3. Về rồi lại ra đi
4. Chất lượng sống thấp
5. Y tế ở Việt Nam không như bạn nghĩ
6. Cộng đồng và tình người
7. Nhũng nhiễu và “hành là chính”
8. Tuyên truyền và tẩy não
9. Công an trị
Loạt bài về chủ đề 51 năm ngày 30/4/1975
Trong vài năm gần đây, có một hiện tượng khá đáng chú ý. Một số người Việt ở hải ngoại, sau vài chục năm định cư tại Mỹ, Canada, Úc hoặc các nước châu Âu, đã quyết định trở về Việt Nam sinh sống.
Đây không còn là những chuyến về thăm quê ngắn hạn, vài tuần hay vài tháng, mà là sự lựa chọn nghiêm túc: bán nhà, thu xếp tài sản, rời bỏ cuộc sống đã ổn định ở nước ngoài để quay về quê hương.
Tôi cũng là một người trong dòng người thiểu số đó.
Điều này khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Bởi trong số đó, có những người từng ra đi trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Có người đã từng vượt biển trên những chiếc thuyền nhỏ, đánh đổi mạng sống để tìm đường đến một vùng đất tự do và an toàn hơn. Họ từng chấp nhận mất mát, chia ly, thậm chí đối diện với cái chết để rời khỏi Việt Nam.
Vậy mà sau nhiều thập niên sống ở phương Tây, khi đã có nhà cửa, quốc tịch, con cháu và một đời sống tương đối ổn định, họ lại muốn quay về chính nơi mình từng tìm cách rời đi bằng mọi giá.
Tuy tôi không bán tài sản ở Mỹ để về Việt Nam, nhưng tôi đã về Việt Nam sống hơn 1 năm. Và tôi đã quay lại Mỹ. Trong thời gian sống ở Việt Nam, tôi đã có dịp quan sát và suy nghĩ về cuộc sống bên nhà để viết nên bài này.
1. Về tôi
Trước hết, tôi xin tự giới thiệu đôi chút về bản thân để quý độc giả có thể đặt bài viết này trong bối cảnh cá nhân của tôi.
Tôi lớn lên ở miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1975, khi người cộng sản chiếm miền Nam, tôi 16 tuổi. Ba tôi là sĩ quan cấp tá trong Quân lực VNCH. Má tôi là một công chức bậc trung trong ngành ngân hàng ở Sài Gòn. Sau năm 1975, ba tôi bị bắt đi “cải tạo”, má tôi mất việc. Gia đình tôi nhanh chóng rơi vào cảnh khó khăn. Kinh tế suy sụp, tương lai mờ mịt, và không khí xã hội lúc đó đầy sợ hãi.
Em tôi phải nghỉ học đi theo Má phụ bán hàng. Riêng tôi, dù thi đậu vào Đại học Bách khoa TpHCM, nhưng không được cho học vì “lý lịch xấu”. Chỉ vì là con của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, tôi bị xem như một thành phần không đáng tin cậy trong chế độ mới. Lúc đó, anh em tôi hiểu rằng mình khó có tương lai trong xã hội cộng sản. Cánh cửa học hành, nghề nghiệp và thăng tiến gần như bị đóng lại trước mặt chúng tôi.
Năm 1978, gia đình gom góp tiền bạc để tôi vượt biên. Tôi đi bằng đường biển và đến được Malaysia. Chưa đầy một năm sau, tôi được chấp thuận định cư tại Mỹ. Về sau, tôi bảo lãnh ba má và em tôi sang Mỹ đoàn tụ. Như rất nhiều người Việt tỵ nạn khác, tôi bắt đầu lại từ con số không trên một đất nước xa lạ, với một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới, và rất nhiều khó khăn của đời sống tỵ nạn.
Ở Mỹ, tôi cố gắng đi học lại. Tôi tốt nghiệp kỹ sư ngành biomedical engineering tại University of California, Irvine (UCI). Ở Việt Nam, ngành này thường được gọi là kỹ thuật y sinh. Sau đó, tôi học tiếp và lấy bằng MBA cũng tại UCI. Tôi làm việc nhiều năm trong lĩnh vực quản lý kỹ thuật và thiết bị y tế cho một bệnh viện lớn gần Los Angeles. Công việc của tôi liên quan trực tiếp đến hệ thống bệnh viện, thiết bị y khoa, an toàn bệnh nhân và cách vận hành của một nền y tế hiện đại.
Năm 2023, tôi quyết định về hưu. Sau vài chuyến về Việt Nam để thăm gia đình chú bác, bạn bè và đi du lịch, tôi bắt đầu có ý nghĩ trở về Việt Nam sống trong những năm tháng hưu trí. Giống như nhiều người Việt xa xứ khác, tôi muốn tìm lại một phần quê hương, một phần ký ức, một phần cảm giác thân thuộc mà đời sống ở Mỹ, dù ổn định và an toàn, không phải lúc nào cũng đem lại được. Năm 2024, bất chấp sự phản đối của vợ con và em tôi, tôi quyết định về Việt Nam sống thử.
Ở Việt Nam, tôi thuê một căn hộ chung cư tại Quận 7, với giá 14 triệu đồng một tháng. Cộng thêm tiền quản lý chung cư, điện, nước, internet, tổng chi phí ở là 16 triệu đồng một tháng. Căn hộ khá hiện đại, đầy đủ tiện nghi. Quận 7 là một khu vực mới, tương đối sạch sẽ, có nhiều chung cư, trung tâm thương mại, quán ăn, quán cà phê, và cũng là nơi có khá đông người Hàn Quốc sinh sống. Vợ con tôi có về Việt Nam xem nơi tôi ở. Họ thấy căn hộ cũng được, khu vực cũng không tệ, nhưng vẫn lắc đầu không đồng tình với quyết định của tôi.
Phải nói công bằng rằng cuộc sống vật chất của tôi ở Việt Nam không khó khăn. Tôi không giàu, nhưng cũng không quá bận tâm về tiền bạc. Tôi thừa khả năng tài chính mua hẳn một căn hộ loại sang, nhưng do thủ tục quá phức tạp và hạn chế quyền sở hữu nên tôi chọn mướn. Những ngày đầu, tôi bị sốc vì thời tiết nóng bức, ẩm ướt và ngột ngạt, nhưng sau đó cũng dần quen. Tôi ít nấu ăn ở nhà, chủ yếu ăn uống bên ngoài. Việc đi lại bằng Grab khá tiện. Tôi có nhiều bà con và bạn ở Việt Nam và gặp họ thường xuyên. Tôi đi du lịch nhiều nơi, từ miền Nam ra miền Trung, miền Bắc, vừa đi vừa quan sát, ghi chép và suy nghĩ.
Trong thời gian sống ở Việt Nam, tôi cũng có những trải nghiệm không vui. Tôi từng phải nhập viện hai lần, một lần ở bệnh viện công và một lần ở bệnh viện tư. Tôi không bị công an đe dọa hay bắt bớ, nhưng bị họ làm phiền bởi những thủ tục rườm rà, vô lý và thiếu minh bạch. Tôi cũng gặp nhiều chuyện nhỏ nhặt nhưng gây mệt mỏi: hàng hóa không đúng như quảng cáo, dịch vụ thiếu trung thực, bị hét giá, bị gây khó dễ trong giấy tờ, và cảm giác luôn phải cảnh giác trong nhiều sinh hoạt hằng ngày.
Sau hơn 12 tháng sống ở Việt Nam, đến năm 2025, tôi quyết định quay lại Mỹ. Tôi hiểu rằng mình không thích hợp với cuộc sống và môi trường xã hội ở Việt Nam hiện nay. Tôi vẫn sẽ về Việt Nam để thăm bà con, gặp bạn bè, ăn những món mình nhớ và đi du lịch. Nhưng sống lâu dài ở đó thì không.
Bài viết này là kết quả của hơn một năm sống ở Việt Nam và hơn 3 tháng suy nghĩ, ghi chép, sắp xếp lại những điều tôi quan sát được. Tôi viết không phải để khuyên ai nên hay không nên về Việt Nam sống. Mỗi người có hoàn cảnh, nhu cầu, sức khỏe, tài chính và khả năng chịu đựng khác nhau. Tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm thật của mình để những người Việt ở hải ngoại, nhất là những người đang nghĩ đến chuyện hồi hương khi về hưu, có thêm một góc nhìn trước khi tự mình quyết định.
Nói ngắn gọn, tôi nghĩ như sau:
* Nếu bạn có tiền hoặc có lương hưu ổn định, ưu tiên ăn uống, vui chơi, gặp gỡ bạn bè, không có bệnh nặng hoặc có bảo hiểm tốt, không quá quan tâm đến đời sống tinh thần, không đặt nặng tự do tư tưởng, và có thể nhắm mắt trước nhiều chuyện chung quanh, thì Việt Nam có thể là một nơi đáng sống.
* Nhưng nếu bạn có thu nhập thấp, không có bảo hiểm, có bệnh mãn tính, quan tâm đến chất lượng sống, cần một hệ thống y tế đáng tin, cần luật pháp minh bạch, có thói quen suy nghĩ đúng sai, và nhất là còn giữ lòng tự trọng của một con người tự do, thì bạn sẽ rất khó sống thoải mái ở Việt Nam.
2. Việt Nam hiện đại trong mắt người trở về
Có nhiều lý do để chọn Việt Nam sinh sống. Bên cạnh yếu tố kinh tế, còn có yếu tố tinh thần. Khi tuổi đã cao, nhiều người bắt đầu cảm thấy cô đơn nơi xứ người. Con cái lớn lên, có đời sống riêng, ít gần gũi cha mẹ như trước. Hàng xóm láng giềng ở phương Tây thường lịch sự nhưng xa cách. Trong khi đó, Việt Nam lại gợi nhớ đến tuổi thơ, tiếng nói mẹ đẻ, món ăn quen thuộc, họ hàng thân tộc và cảm giác thuộc về một nơi nào đó. Với họ, trở về Việt Nam không chỉ là thay đổi nơi ở, mà còn là tìm lại một phần ký ức, một phần căn cước đã bị đời sống lưu vong làm cho phai nhạt. Tôi cũng từng nghĩ như vậy, và trong những ngày đầu sống ở Việt Nam, tôi rất vui.
Những câu chuyện như của tôi trở thành chất liệu rất hấp dẫn cho báo chí trong nước. Truyền thông Việt Nam thường thích khai thác những trường hợp Việt kiều bỏ cuộc sống ở Mỹ, Úc hay Bắc Âu để về Việt Nam định cư. Một gia đình rời Na Uy, một cặp vợ chồng từ Mỹ trở về, hay một người từng sống mấy chục năm ở Đức nay quyết định sống tuổi già tại Việt Nam. Những câu chuyện như thế dễ dàng được trình bày như bằng chứng cho thấy Việt Nam ngày nay là một nơi đáng sống, thậm chí đáng sống hơn nhiều quốc gia phát triển. Cách kể đó không hẳn là sai, nhưng thường chưa đầy đủ. Nó cho thấy một phần sự thật, nhưng không phải toàn bộ sự thật. Tôi sẽ nói sau.
Không thể phủ nhận rằng Việt Nam hôm nay đã thay đổi rất nhiều so với thời tôi vượt biên. Thời xa xưa đó, Việt Nam là một nước nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế suy sụp, chánh sách công an trị khắc nghiệt, và những người cai trị mới từ miền Bắc hành xử với người miền Nam như là những kẻ thực dân da vàng biết nói tiếng Việt.
Những hình ảnh đó không còn nữa, hay có còn thì cũng “dễ thở” hơn. Việt Nam ngày nay không còn là một đất nước nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu như trong ký ức của nhiều người ra đi từ vài chục năm trước. Việt Nam ngày nay năng động hơn, đông đúc hơn, hiện đại hơn và có nhịp sống nhanh hơn rất nhiều.
Cảnh nhộn nhip ở TPHCM về đêm. (Ảnh của mia.vn)
Ở những thành phố lớn như TpHCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang hay Hải Phòng, các khu đô thị mới mọc lên liên tục. Những tòa nhà cao tầng, trung tâm thương mại, chung cư cao cấp, khách sạn sang trọng và khu nghỉ dưỡng ven biển tạo nên một diện mạo rất khác. Có những căn hộ hiện đại với hồ bơi, phòng gym, bảo vệ, siêu thị và quán cà phê ngay trong khuôn viên, không thua kém nhiều khu dân cư ở các nước phát triển.
Đường phố cũng phản ảnh sự thay đổi đó. Xe hơi ngày càng nhiều, trong đó có không ít xe đời mới của Nhật, Hàn Quốc, châu Âu. Ở các thành phố lớn, người ta có thể bắt gặp những chiếc xe sang như Mercedes, BMW, Lexus, Porsche, thậm chí cả Rolls-Royce, Lamborghini hay Ferrari. Những hình ảnh ấy khiến nhiều Việt kiều, nhất là những người lâu năm chưa về nước, không khỏi ngạc nhiên. Họ thấy một Việt Nam giàu có hơn, tiêu dùng mạnh hơn và tự tin hơn.
Ẩm thực cũng là một điểm hấp dẫn rất lớn. Việt Nam có thể được xem là một thiên đường ăn uống. Từ quán vỉa hè, hàng rong, quán bình dân cho đến nhà hàng cao cấp, món ăn ở Việt Nam vừa phong phú vừa có giá cả dễ chịu hơn nhiều nước khác. Một tô phở, một ổ bánh mì, một ly cà phê sữa đá, một bữa hải sản ven biển hay một bữa ăn gia đình đều có thể đem lại cảm giác thân thuộc mà người Việt xa xứ khó tìm thấy ở nước ngoài.
Những cảnh như thế này được báo chí Việt Nam trưng bày và ca ngợi như là một đất nước hiện đại. Tuy nhiên, đó là hình ảnh về đêm khi mọi thứ đều lung linh và mờ ảo, còn ban ngày thì TPHCM là nơi kẹt xe kinh niên vì giao thông hỗn loạn. (Ảnh của Báo Tuổi Trẻ)
Đời sống về đêm ở các thành phố lớn cũng rất sôi động. Khi màn đêm buông xuống, các tòa nhà sáng đèn, quán xá đông người, đường phố vẫn nhộn nhịp. Người ta đi ăn, đi uống cà phê, gặp bạn bè, mua sắm, dạo phố. Với nhiều người Việt hải ngoại đã quen với cảnh thành phố phương Tây vắng vẻ sau 6 hoặc 7 giờ tối, không khí ấy tạo cảm giác sống động và gần gũi.
Vì vậy, không khó hiểu khi nhiều Việt kiều cảm thấy Việt Nam là một nơi hấp dẫn để sống, đặc biệt là khi họ đã về hưu và không còn phải lo chuyện kiếm sống hàng ngày. Họ có thời gian, có tiền hưu, có nhu cầu hưởng thụ, và Việt Nam dường như đáp ứng được nhiều điều trong số đó. Tôi cũng thấy như vậy trong những ngày đầu về Việt Nam sống.
Tôi thử lấy một trường hợp tiêu biểu. Một người sau 30 năm làm việc ở Mỹ về hưu. Có thể anh ta hưởng “lương hưu” 2000-2500 USD một tháng. Nếu ở Mỹ, anh ta có nhà cửa và có bảo hiểm thì cuộc sống tương đối thoải mái. Nhưng nếu không có nhà cửa và không có bảo hiểm thì với đồng lương hưu đó anh ta sẽ có thể gặp khó khăn.
Nhưng cũng với đồng lương hưu đó, anh ta có thể sống thoải mái ở Việt Nam. Chúng ta thử tính toán nhé:
- Tiền mướn căn hộ 2 phòng ngủ, bậc trung ở Sài Gòn (các quận như 4, 5, 6, 8) giá khoảng 15 đến 20 triệu đồng / tháng.
- Tiền ăn sáng, trưa, chiều: khoảng 500 ngàn đồng một ngày, tức 15 triệu / tháng.
- Tiền đi lại (xe Grab) trung bình 5 triệu / tháng.
- Tiền đi du lịch đây đó: 5 triệu / tháng.
Tính đơn giản như trên, chi phí trang trải mỗi tháng là chừng 45 triệu đồng, tương đương với chừng 1700 USD. Tôi là một người như thế. Số tiền tôi chi mỗi tháng chỉ bằng phân nửa số lương hưu trí của tôi.
Lương hưu từ 2000-2500 USD/tháng, thì quả thật cuộc sống của anh Việt kiều khá thoải mái.
Đó chính là lý do mà có nhiều Việt kiều khi về hưu chọn sống ở Việt Nam. Trong số đó, có những người từng ra đi trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Có người đã từng vượt biển trên những chiếc thuyền nhỏ, đánh đổi mạng sống để tìm đường đến một vùng đất tự do và an toàn hơn. Họ từng chấp nhận mất mát, chia ly, thậm chí đối diện với cái chết để rời khỏi Việt Nam. Vậy mà sau nhiều thập niên sống ở phương Tây, khi đã có nhà cửa, quốc tịch, con cháu và một đời sống tương đối ổn định, họ lại muốn quay về chính nơi mình từng tìm cách rời đi bằng mọi giá.
3. Về rồi lại ra đi
Khi về Việt Nam sống, nhiều Việt kiều tỏ ra khá ồn ào. Họ làm video cho thấy họ sống thoải mái ở Việt Nam ra sao. Họ quay những cảnh họ mới mua một căn hộ đẹp, một miếng đất lý tưởng, đang ngồi bên cạnh bờ biển, bên cạnh bạn bè trong bàn tiệc nhậu ở đồng quê miền Tây, và mỉa mai những ai nói họ là “Việt kiều thất bại”.
Nhưng cũng chính những người đó sau một thời gian sống ở Việt Nam rồi âm thầm về Mỹ. Về không kèn, không trống. Họ về trong âm thầm. Họ không muốn nói chuyện về quyết định của họ. Một số thì công khai rằng họ đã quyết định sai về Việt Nam sống.
Tôi là một người như thế. Như nói trên, tôi đã về Việt Nam sống hơn 12 tháng, bất chấp những lời khuyên và phản đối của gia đình tôi ở bên Mỹ. Tôi có thể nói ra lý do tại sao tôi bỏ Việt Nam về Mỹ. Nói ngắn gọn: thức lâu mới biết đêm dài. Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Đối với Việt Nam, người ta không cần ở lâu để nhận ra một thực tế: đây không phải là nơi đáng sống cho người cao tuổi.
Lý do lớn nhất là vấn đề y tế. Ở tuổi già, khi bệnh nặng, nhiều người muốn quay lại hệ thống bác sĩ, bệnh viện, bảo hiểm và hồ sơ y tế quen thuộc ở Mỹ. Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo rằng cơ sở y tế và cấp cứu ở Việt Nam thường không đạt chuẩn quốc tế; bệnh nặng có thể cần chuyển viện ra nước khác; bệnh viện thường yêu cầu trả tiền ngay. Medicare của Mỹ cũng thường không chi trả dịch vụ y tế ở nước ngoài.
Lý do thứ hai là quy chế cư trú không đơn giản như “về ở luôn”. Việt kiều có thể xin giấy miễn thị thực nhiều năm; Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ nói giấy miễn thị thực có thể có giá trị đến 5 năm. Nhưng sống lâu dài, đăng ký thường trú, dùng hộ chiếu/quốc tịch nào, khai báo tạm trú, nhà đất, giấy tờ cá nhân vẫn là cả một hệ thống thủ tục. Mà ở Việt Nam có nạn “hành là chính”, bạn sẽ mệt mỏi với thủ tục của người cộng sản.
Lý do thứ ba là kỳ vọng khác thực tế. Khi về chơi vài tuần thì vui; sống lâu dài lại khác: khí hậu, ô nhiễm, giao thông, tiếng ồn, nếp sinh hoạt, cách làm việc, quan hệ họ hàng, chuyện tiền bạc, và cảm giác “mình vừa là người Việt vừa là người ngoài”. Người về có thể bị nhìn như du khách, Việt kiều, người nước ngoài, hay người “không hoàn toàn thuộc về đâu cả.”
Dưới đây, tôi sẽ mô tả chi tiết những cảm nhận của tôi tại sao Việt Nam không phải là địa điểm đáng sống cho những người ưu tiên đời sống tinh thần, tự do tư tưởng, và tự trọng.
4. Chất lượng sống thấp
Những Việt kiều chọn về sống ở Việt Nam thường nói rất nhiều về cuộc sống thoải mái: giá sinh hoạt tương đối rẻ, đồ ăn ngon, dịch vụ nhanh, thuê người giúp việc dễ, đi ăn ngoài không quá tốn kém, muốn cà phê, massage, làm tóc, sửa móng tay, gọi xe, giao đồ ăn đều có ngay. So với đời sống ở Mỹ, Canada, Úc hay châu Âu, nơi cái gì cũng đắt đỏ và phải tự làm lấy, Việt Nam quả thật có một vẻ hấp dẫn rất riêng.
Nhưng khi ở một thời gian, tôi nhận ra một điều mà nhiều Việt kiều và người nước ngoài ít nói ra, hoặc cố tình không để ý đến: chất lượng sống.
Giá rẻ không đồng nghĩa với sống tốt. Dịch vụ nhiều không đồng nghĩa với môi trường sống lành mạnh. Một bữa ăn ngon ngoài đường không có nghĩa là thực phẩm an toàn. Một căn hộ cao cấp có hồ bơi, phòng gym, bảo vệ, lễ tân không có nghĩa là bạn đang sống trong một xã hội văn minh, sạch sẽ và đáng tin cậy.
Nói thẳng ra, chất lượng sống ở Việt Nam rất kém. Đó là một sự thật mà báo chí trong nước hiếm khi nói đầy đủ. Họ có thể viết về “thành phố đáng sống”, “Việt Nam năng động”, “kinh tế phát triển”, “du lịch bùng nổ”, nhưng rất ít khi dám nói thẳng về những thứ mà người dân phải chịu mỗi ngày: không khí ô nhiễm, nước không an toàn, thực phẩm bẩn, tiếng ồn triền miên, giao thông hỗn loạn, y tế quá tải, giáo dục bất ổn, và một môi trường xã hội đầy bất trắc.
Một cảnh ô nhiễm ở TPHCM. Cảnh này ngày càng phổ biến ở TPHCM và nhất là Hà Nội. (Ảnh của Báo Thanh Niên)
Ở các thành phố lớn của Việt Nam, ô nhiễm không khí đã trở thành một vấn nạn kinh niên. Năm này qua năm khác, người dân vẫn phải hít thở khói bụi, khí thải xe cộ, bụi công trình, khói đốt rác, khói công nghiệp. Có những ngày ở Hà Nội, bạn không còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời. Bầu trời chỉ là một màu xám đục, nặng nề, như thể cả thành phố bị phủ bởi một tấm màn bụi. Người ta mở điện thoại ra xem chỉ số không khí, rồi thở dài, đeo khẩu trang và tiếp tục sống như không còn lựa chọn nào khác.
Tôi nhận ra một điều mà nhiều Việt kiều và người nước ngoài ít nói ra, hoặc cố tình không để ý đến: chất lượng sống.
Ở TPHCM, tình hình cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Thành phố lúc nào cũng ồn ào, nóng bức, kẹt xe, khói bụi. Xe máy chen chúc trên đường, xe tải, xe buýt, công trình xây dựng, hàng quán vỉa hè, rác thải, nước cống, tất cả tạo thành một thứ hỗn hợp rất đặc trưng của đô thị Việt Nam: náo nhiệt nhưng ngột ngạt.
Một cảnh kẹt xe ở TPHCM. Thật ra, cảnh này khá phổ biến và xảy ra mỗi ngày ở các thành phố lớn như TPHCM và Hà Nội. (Ảnh của Báo VnExpress
Người mới về có thể thấy vui, thấy “có sức sống”, thấy “đông vui”. Nhưng sống lâu rồi mới hiểu: cái đông vui đó cũng bào mòn sức khỏe và tinh thần con người từng ngày.
Ở Việt Nam, bạn không dám uống nước trực tiếp từ vòi nước. Đó là một chi tiết nhỏ nhưng nói lên rất nhiều điều. Ở nhiều nước phát triển, mở vòi là có thể uống. Còn ở Việt Nam, nước máy có thể chỉ dùng để tắm, giặt, rửa chén, thậm chí nhiều người còn không hoàn toàn yên tâm với những việc đó. Muốn uống thì phải mua nước lọc, nước đóng bình, nước đóng chai, hoặc lắp máy lọc nước. Nấu ăn cũng phải dùng nước đã lọc. Rửa rau, nấu canh, pha sữa cho con, pha cà phê, tất cả đều phải tính đến chuyện nước có an toàn hay không.
Một số người sẽ nói: “Có tiền thì giải quyết được hết.” Đúng, có tiền thì bạn có thể mua nước tốt hơn, mua máy lọc tốt hơn, ở chung cư cao cấp hơn, ăn nhà hàng đắt hơn. Nhưng xin hỏi: một xã hội mà muốn có không khí sạch, nước sạch, thức ăn sạch đều phải trả thêm tiền thì đó có phải là một xã hội có chất lượng sống tốt không? Những thứ căn bản nhất cho đời sống con người lại trở thành đặc quyền của người có tiền. Đó không phải là tiện nghi. Đó là sự thất bại của hệ thống.
Có người lại lo rằng ở Mỹ ăn cái gì cũng độc. Họ bảo thực phẩm bên đó toàn hóa chất, ăn vào dễ bị ung thư. Họ còn giải thích rằng ở Mỹ có nhiều bệnh viện ung thư là vì người Mỹ ăn uống độc hại quá. Nghe qua mà tôi muốn bật ngửa và tự hỏi: “Anh chị có lộn không?”
Ở Mỹ, thực phẩm đúng là không hoàn hảo. Không nơi nào hoàn hảo cả. Nhưng ít nhất hệ thống kiểm soát, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn vệ sinh, ghi nhãn thành phần, cảnh báo dị ứng, quy định sản xuất và trách nhiệm pháp lý đều rõ ràng hơn rất nhiều. Bạn mua một hộp sữa, một gói thịt, một chai nước sốt, một hộp cereal, bạn biết nó được sản xuất ở đâu, hạn dùng là khi nào, thành phần gồm những gì, lượng đường, lượng muối, lượng chất béo bao nhiêu. Nếu có vấn đề, sản phẩm có thể bị thu hồi, công ty có thể bị kiện, cơ quan chức năng có thể vào cuộc.
Việt Nam có thể cho bạn cảm giác vui. Nhưng vui không phải là bình an. Náo nhiệt không phải là văn minh. Rẻ không phải là tốt. Đông đúc không phải là đáng sống.
Còn ở Việt Nam thì sao? Từ mớ rau ngoài chợ đến miếng thịt trên sạp, từ chai nước mắm trên kệ đến gói mì trong tiệm tạp hóa, bạn có dám chắc mình biết nó đến từ đâu không? Bạn có dám chắc trong đó không có “bonus” hóa chất không? Bạn có dám chắc rau không bị phun thuốc quá liều, thịt không có chất cấm, cá không bị ướp hóa chất, trái cây không bị ngâm thuốc, nước mắm không bị pha chế bậy bạ, tương ớt không có phẩm màu độc hại?
Ở Việt Nam, người ta phải dùng cụm từ “thực phẩm sạch”. Chỉ riêng cụm từ đó thôi đã đủ chua chát. Vì nếu có “thực phẩm sạch”, thì mặc nhiên cũng có rất nhiều thực phẩm dơ bẩn. Ở những nước có hệ thống kiểm soát tốt, người dân không cần phải săn lùng “rau sạch”, “thịt sạch”, “cá sạch” như một đặc sản dành cho người có tiền. Thực phẩm bán ra thị trường mặc định phải đạt chuẩn an toàn. Còn ở Việt Nam, muốn ăn sạch thì phải quen chỗ, phải biết nguồn, phải mua đắt hơn, phải nghe truyền miệng, phải tự trấn an mình.
Vài tuần trước, nhà chức trách phát hiện hàng tấn mì được sản xuất tại Tân Tạo, tỉnh Long An, có sử dụng hóa chất độc hại cho sức khỏe. Nhưng đó chỉ là một vụ bị phát hiện. Còn bao nhiêu cơ sở khác đang làm ăn kiểu đó mà chưa bị phát hiện? Bao nhiêu cơ sở đã “đi đêm” với thanh tra? Bao nhiêu vụ không bao giờ lên báo vì đã được dàn xếp? Bao nhiêu bài báo bị gỡ xuống vì chủ doanh nghiệp biết cách “quan hệ”? Người dân chỉ thấy phần nổi của tảng băng. Phần chìm mới là điều đáng sợ.
Cái “lượng” ở Sài Gòn có thể rất hấp dẫn: nhiều quán ăn, nhiều món ngon, nhiều chỗ chơi, nhiều dịch vụ, nhiều người phục vụ. Nhưng cái “phẩm” thì sao? Ăn ngon nhưng có an toàn không? Rẻ nhưng có sạch không? Nhanh nhưng có đáng tin không? Tiện nhưng có bền không? Một ly cà phê vỉa hè có thể rất thú vị trong vài tuần đầu mới về nước. Một tô phở nóng giữa đêm có thể làm người xa xứ xúc động. Một buổi ngồi quán nhậu với bạn bè có thể khiến bạn thấy đời sống ở Việt Nam thật vui.
Nhưng sống không chỉ là ăn uống và tụ tập. Sống còn là được thở không khí sạch. Được uống nước an toàn. Được ngủ yên không bị tiếng karaoke tra tấn. Được đi bộ trên vỉa hè mà không phải né xe máy. Được ra đường mà không sợ bị tông. Được mua thực phẩm mà không phải nghi ngờ.
Việt kiều khi mới về Việt Nam thường rất ấn tượng với không khí nhộn nhịp của Sài Gòn. Đèn màu rực rỡ, quán xá mở khuya, cà phê vỉa hè, xe cộ tấp nập, bạn bè gọi nhau đi ăn bất cứ lúc nào. Cả thành phố như không bao giờ ngủ. Nhưng năng lượng đó có thể đánh lừa bạn. Đi chơi vài tuần thì vui. Sống vài tháng thì bắt đầu mệt. Sống vài năm thì mới thấy cái giá phải trả. Bạn không thể tối nào cũng lang thang ngoài đường, uống cà phê, ăn nhậu, gặp bạn bè, rồi xem đó là chất lượng sống. Cuối cùng, con người vẫn cần một nơi bình yên để trở về. Một căn nhà yên tĩnh. Một khu phố sạch sẽ. Một môi trường an toàn. Một hệ thống đáng tin. Một đời sống không phải lúc nào cũng cảnh giác.
Việt Nam có thể cho bạn cảm giác vui. Nhưng vui không phải là bình an. Náo nhiệt không phải là văn minh. Rẻ không phải là tốt. Đông đúc không phải là đáng sống.
5. Y tế ở Việt Nam không như bạn nghĩ
Tôi có “cơ hội” vào bệnh viện ở TPHCM như là một bệnh nhân. Xin nhắc lại rằng tôi từng có kinh nghiệm trong môi trường bệnh viện như là một người làm quản lý kỹ thuật. Tôi biết bệnh viện Việt Nam có nhiều vấn đề, nhưng tôi vẫn sốc khi tận mắt thấy cảnh bệnh nhân nằm la liệt và thái độ của bác sĩ và điều dưỡng. Nhưng trước khi nói chi tiết tôi sẽ đặt vấn đề trong bối cảnh chung.
Một lý do rất phổ biến khiến nhiều Việt kiều Mỹ nghĩ đến chuyện hồi hương là chi phí y tế ở Mỹ quá mắc. Điều này thì đúng quá, không thể cãi. Ở Mỹ, chỉ cần đi cấp cứu một lần mà không có bảo hiểm tốt, cái hóa đơn gửi về nhà có thể làm bạn muốn… nhập viện lần hai vì sốc. Một lần khám chuyên khoa, vài xét nghiệm máu, một cái CT scan, một đêm nằm bệnh viện, tất cả có thể trở thành một cơn ác mộng tài chính.
Cho nên khi nghe Việt kiều than rằng “ở Mỹ bệnh không dám đi bác sĩ”, tôi hiểu. Khi họ nói “về Việt Nam khám bệnh rẻ hơn nhiều”, tôi cũng hiểu. Nhưng vấn đề là: rẻ hơn không có nghĩa là tốt hơn.
Và quan trọng hơn nữa, y tế là chuyện mạng sống, chất lượng sống, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm pháp lý, khả năng chẩn đoán, năng lực điều trị, hệ thống cấp cứu, chăm sóc sau điều trị, và quyền của bệnh nhân. Y tế không phải chỉ là chuyện giá tiền.
Ở Mỹ, chi phí y tế đúng là kinh khủng. Nhưng ít nhất ở đó vẫn có bảo hiểm y tế, Medicare, Medicaid, các chương trình hỗ trợ, bệnh viện từ thiện, chính sách miễn giảm viện phí, payment plan, và nhiều cơ chế bảo vệ bệnh nhân nếu họ biết cách tìm hiểu. Hệ thống Mỹ rất rối rắm, rất đắt đỏ, nhiều khi vô lý đến phát điên. Nhưng nó vẫn có những tầng bảo vệ pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp mà bệnh nhân có thể bám vào.
Còn ở Việt Nam thì sao?
Ở Việt Nam, bệnh viện công đông đúc, quá tải, chen chúc, mệt mỏi. Bạn bệnh đã khổ rồi, nhưng vào bệnh viện công có khi còn khổ hơn. Người nhà phải đi theo để giữ giường, mua thuốc, đóng tiền, chạy giấy tờ, hỏi bác sĩ, hỏi y tá, chờ xét nghiệm, lấy kết quả, mua cơm, thay đồ, canh bệnh nhân. Bệnh nhân nằm hành lang không phải là chuyện lạ. Hai ba người một giường cũng không phải là chuyện lạ. Tiếng ồn, mùi thuốc sát trùng, tiếng rên rỉ, cảnh chen lấn, thái độ lạnh lùng của y bác sĩ, tất cả tạo thành một thứ áp lực tinh thần rất nặng nề.
Muốn được chăm sóc tử tế hơn? Nhiều người sẽ nói nhỏ với bạn: phải biết “đi cửa sau”, phải quen người này người kia, phải gửi phong bì, phải biết điều với y tá, phải nói chuyện mềm mỏng với bác sĩ, phải biết ai là người có quyền quyết định. Một hệ thống y tế mà bệnh nhân phải vừa lo bệnh, vừa lo tiền, vừa lo quan hệ, vừa lo thái độ của nhân viên y tế, thì đó không còn đơn thuần là chữa bệnh nữa. Đó là một cuộc thử thách về sức chịu đựng.
Bệnh viện tư thì sao? Sạch sẽ hơn, lịch sự hơn, phòng ốc đẹp hơn, nhân viên cười nhiều hơn, lễ tân nói chuyện nhẹ nhàng hơn. Bạn bước vào một bệnh viện tư lớn ở Sài Gòn hay Hà Nội, cảm giác ban đầu có thể rất ấn tượng: máy lạnh mát rượi, sảnh lớn như khách sạn, bác sĩ mặc áo blouse trắng tinh, nhân viên hướng dẫn tận nơi, phòng bệnh có tivi, sofa, nhà vệ sinh riêng, thực đơn đẹp mắt. So với cảnh chen chúc ở bệnh viện công, bệnh viện tư đúng là một thế giới khác.
Nhưng đừng để cái vẻ ngoài đó đánh lừa.
Nhiều bệnh viện tư ở Việt Nam thực chất là những cỗ máy làm tiền. Họ bán cho bệnh nhân cảm giác sang trọng, cảm giác được phục vụ, cảm giác “chuẩn quốc tế”. Nhưng y tế không phải khách sạn. Một bệnh viện đẹp không đồng nghĩa với chẩn đoán giỏi. Một phòng bệnh sang không đồng nghĩa với điều trị đúng. Một cái máy MRI đời mới không đồng nghĩa với bác sĩ biết dùng kết quả đó một cách hợp lý. Một bảng giá cao không đồng nghĩa với chất lượng y khoa cao.
Bệnh viện tư ở Việt Nam rõ ràng có chất lượng phục vụ tốt hơn bệnh viện công. Điều này không cần tranh cãi. Nhưng trình độ chuyên môn của bác sĩ ở bệnh viện tư không phải lúc nào cũng hơn bệnh viện công. Trên thực tế, nhiều bác sĩ giỏi nhất vẫn nằm ở các bệnh viện công tuyến đầu, nơi họ gặp ca khó mỗi ngày, mổ nhiều, xử lý biến chứng nhiều, có kinh nghiệm thực chiến nhiều. Bệnh viện tư nhiều khi phải mời bác sĩ công sang làm ngoài giờ, hoặc thuê danh tiếng của vài bác sĩ nổi tiếng để làm thương hiệu.
Tất cả các bệnh viện công đều như thế này. Hai, ba bệnh nhân nằm chung giường. Có khi bệnh nhân phải nằm dưới giường vì không có chỗ. Phía ngoài thì số người chờ còn nhiều hơn nữa. Môi trường như thế này rất dễ dẫn đến nhiễm trùng cho bệnh nhân. (Ảnh của Báo Người Lao Động)
Nhiều bệnh viện tư ở Việt Nam thực chất là những cỗ máy làm tiền. Họ bán cho bệnh nhân cảm giác sang trọng, cảm giác được phục vụ, cảm giác “chuẩn quốc tế”
Vấn đề là khi vào bệnh viện tư, bạn phải trả một số tiền rất lớn. Lớn như thế nào? Có khi chi phí lên đến 50, 70, thậm chí 100 triệu đồng một ngày, tùy bệnh tình, tùy phòng, tùy can thiệp, tùy số lượng xét nghiệm, tùy thuốc men và thiết bị sử dụng. Với người có tiền, họ có thể xem đó là cái giá phải trả để được thoải mái. Nhưng với đa số người dân trong nước, đó là con số khủng khiếp. Còn với Việt kiều, họ tưởng Việt Nam rẻ, nhưng khi gặp bệnh nặng mới hiểu: y tế tư nhân cao cấp ở Việt Nam không hề rẻ. Có khi cộng lại còn không thua gì một bệnh viện tiêu biểu ở Mỹ.
Nhiều bệnh viện tư ở Việt Nam thích khoe máy móc. Họ quảng cáo rằng họ có MRI đời mới nhất, CT scan nhiều lát cắt nhất, robot phẫu thuật hiện đại nhất, phòng mổ chuẩn quốc tế, xét nghiệm tự động, công nghệ nhập từ Mỹ, Đức, Nhật, Hàn. Điều này có phần đúng. Có những máy móc rất đắt tiền mà một số bệnh viện ở Mỹ chưa chắc đã có, nhưng bệnh viện tư ở Việt Nam thì lại có.
Nhưng vấn đề không nằm ở cái máy. Vấn đề nằm ở người dùng máy và lợi ích thật sự cho bệnh nhân.
Một cái máy MRI không tự nó cứu người. Một cái CT scan không tự nó làm cho chẩn đoán đúng hơn nếu bác sĩ chỉ định bừa bãi. Máy móc hiện đại có thể là công cụ tuyệt vời trong tay người thầy thuốc giỏi, nhưng cũng có thể trở thành phương tiện móc túi bệnh nhân trong tay một hệ thống chạy theo doanh thu.
Nếu làm một cuộc kiểm kê lâm sàng nghiêm túc, tôi tin rằng tỷ lệ bệnh nhân ở Việt Nam được chỉ định MRI, CT, xét nghiệm máu, siêu âm, nội soi, điện tim, xét nghiệm chức năng này chức năng kia có thể thuộc hàng rất cao. Có những người chỉ đau đầu nhẹ cũng được đề nghị chụp. Đau lưng cũng chụp. Đau bụng cũng chụp. Mệt mỏi cũng xét nghiệm một loạt. Khám tổng quát thì càng đáng sợ hơn: gói cơ bản, gói nâng cao, gói chuyên sâu, gói tầm soát ung thư, gói tim mạch, gói tiêu hóa, gói nội tiết, gói “cao cấp” cho doanh nhân. Nghe qua tưởng rất khoa học, nhưng nhiều khi chỉ là nghệ thuật bán hàng trong áo blouse trắng.
Đó là quá chỉ định. Quá chỉ định để làm tiền từ bệnh nhân.
Bạn vào bệnh viện tư khám bệnh, giá tư vấn ban đầu có thể chỉ vài trăm ngàn đồng. Nhưng sau đó, bác sĩ chỉ định xét nghiệm này, chụp chiếu kia, kiểm tra nọ, tái khám thêm, thuốc thêm, dịch vụ thêm. Cuối cùng cái bill từ vài trăm ngàn có thể thành vài triệu, rồi vài chục triệu. Có khi bệnh nhân bước vào chỉ để “kiểm tra cho chắc”, nhưng bước ra với một xấp kết quả mà chính họ cũng không hiểu, kèm theo một hóa đơn dài như sớ.
Bạn có thể chở con đi tiêm vaccine. Bạn nghĩ chỉ vài trăm ngàn đồng hay 1-2 triệu là tối đa. Vậy mà khi vào đó, họ ép bạn chọn “gói vaccine” này, gói chăm sóc nọ, và cuối cùng bạn phải trả 20 triệu đồng. Hai chục triệu đồng là tương đương với 1/3 lương hưu của một Việt kiều Mỹ.
Đó là một dạng thương mại hóa y tế rất nguy hiểm. Vì bệnh nhân không phải là khách mua điện thoại, mua xe hay mua bảo hiểm. Bệnh nhân đang yếu, đang sợ, đang thiếu kiến thức chuyên môn. Khi bác sĩ nói “nên làm xét nghiệm này cho chắc”, mấy ai dám từ chối? Khi bệnh viện nói “nên chụp để loại trừ nguy cơ”, mấy ai đủ bình tĩnh để hỏi: “Có thật sự cần thiết không?” Y tế là lĩnh vực có sự bất cân xứng thông tin rất lớn. Bác sĩ biết nhiều hơn bệnh nhân. Bệnh viện biết nhiều hơn bệnh nhân. Vì vậy, nếu thiếu đạo đức, họ có thể biến nỗi sợ của bệnh nhân thành lợi nhuận.
Điều dưỡng mà không là điều dưỡng
Một điểm rất quan trọng mà nhiều Việt kiều không để ý là vai trò của điều dưỡng. Điều dưỡng ở Việt Nam không giống hình ảnh điều dưỡng mà bạn quen thuộc ở Mỹ. Ở Mỹ, điều dưỡng không chỉ là người chích thuốc hay đo huyết áp, họ là người theo dõi tình trạng bệnh nhân từng giờ, phát hiện dấu hiệu nguy hiểm, báo bác sĩ khi có bất thường, hướng dẫn thuốc men, giúp bệnh nhân đi vệ sinh, tắm rửa, xoay trở, tránh té ngã, tránh loét da, và bảo đảm bệnh nhân được chăm sóc trong một môi trường tương đối an toàn.
Nói cách khác, điều dưỡng ở Mỹ là một phần rất quan trọng của hệ thống chăm sóc y tế. Họ không hẳn “làm theo lệnh bác sĩ”; họ có trách nhiệm chuyên môn riêng, có quyền lên tiếng nếu thấy điều gì không ổn, và có thể là người cứu mạng bệnh nhân trong những giây phút đầu tiên trước khi bác sĩ xuất hiện.
Việt Nam có thể làm được một số kỹ thuật y khoa cao, có thể mổ được những ca khó, có thể mua được máy móc hiện đại. Nhưng chăm sóc bệnh nhân hằng ngày — từ một ly nước, một lần xoay người, một lần đi vệ sinh, một lời nói nhẹ nhàng — lại là nơi bộc lộ rất rõ sự yếu kém và thiếu nhân bản của hệ thống y tế.
Còn ở Việt Nam, vai trò điều dưỡng trong nhiều bệnh viện vẫn rất khác. Nhiều người mang danh điều dưỡng nhưng thực tế chủ yếu làm vài việc kỹ thuật như chích thuốc, truyền dịch, đo huyết áp, phát thuốc, thay băng, ghi hồ sơ. Những việc chăm sóc căn bản cho bệnh nhân như đỡ đi tiêu, đi tiểu, tắm rửa, thay đồ, xoay người, đút ăn, lau người, theo dõi sát sao từng thay đổi nhỏ, phần lớn lại đẩy cho người nhà làm. Vì vậy mới có cảnh ở bệnh viện Việt Nam, bệnh nhân nằm viện nhưng người nhà còn cực hơn bệnh nhân. Người nhà phải ngủ dưới gầm giường, ngồi ngoài hành lang, chạy đi mua thuốc, mua vật dụng, đút ăn, thay tã, lau người, đưa đi xét nghiệm, canh truyền dịch, hỏi bác sĩ, hỏi điều dưỡng, đóng tiền, lấy kết quả.
Nếu không có người nhà đi theo, bệnh nhân rất dễ rơi vào cảnh bị bỏ mặc. Người già, người bệnh nặng, người sau mổ, người không tự đi lại được là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Một hệ thống y tế mà bệnh nhân nằm viện vẫn cần cả gia đình túc trực ngày đêm thì không thể gọi là hệ thống chăm sóc hoàn chỉnh.
Thái độ của đa số điều dưỡng ở bệnh viện công đối với bệnh nhân rất tệ. Không ít bệnh nhân từng trải qua cảnh bị quát mắng, nạt nộ, sai khiến, thậm chí bị đối xử như người làm phiền. Nếu bạn vào bệnh viện mà bị một cô điều dưỡng bằng tuổi con cháu mình quát vào mặt, thì cũng đừng quá ngạc nhiên. Điều này nghe rất chua chát, nhưng nó phản ánh một thực tế tồn tại lâu nay trong nhiều bệnh viện công: bệnh nhân không được xem là người cần được chăm sóc, mà như một gánh nặng trong một guồng máy quá tải.
Dĩ nhiên, không phải điều dưỡng nào ở Việt Nam cũng như vậy. Vẫn có những người rất tử tế, tận tâm, chịu khó, thương bệnh nhân và làm việc trong điều kiện vô cùng áp lực. Nhưng vấn đề nằm ở hệ thống. Khi bệnh viện quá đông, lương thấp, đào tạo không đồng đều, văn hóa phục vụ yếu, trách nhiệm nghề nghiệp không rõ, và bệnh nhân không có quyền phản ánh hiệu quả, thì thái độ hách dịch rất dễ trở thành bình thường. Người tốt thì bị kiệt sức. Người vô cảm thì tồn tại khỏe. Còn bệnh nhân thì phải chịu đựng.
Ở một nền y tế văn minh, điều dưỡng là người đem lại cảm giác an toàn cho bệnh nhân. Nhưng ở Việt Nam, trong nhiều trường hợp, bệnh nhân lại phải sợ điều dưỡng. Sợ hỏi nhiều bị mắng. Sợ bấm chuông không ai tới. Sợ truyền dịch hết mà không ai để ý. Sợ người nhà đi vắng thì không ai giúp. Sợ làm phiền rồi bị nạt. Đó là một sự đảo lộn rất lớn trong quan hệ chăm sóc y tế.
Vì vậy, Việt kiều đừng tưởng rằng vào bệnh viện ở Việt Nam là chỉ cần có tiền thì sẽ được chăm sóc như ở Mỹ. Ở Mỹ, bệnh nhân có thể phàn nàn về hóa đơn, nhưng khi đã nằm viện, phần chăm sóc cơ bản thường thuộc trách nhiệm của hệ thống. Ở Việt Nam, dù bạn trả tiền, rất nhiều việc vẫn rơi lên vai gia đình. Nếu không có con cháu, người thân, hoặc người chăm bệnh thuê đi theo, bạn có thể rất khổ.
Đây là một khác biệt rất lớn giữa “điều trị” và “chăm sóc”. Việt Nam có thể làm được một số kỹ thuật y khoa cao, có thể mổ được những ca khó, có thể mua được máy móc hiện đại. Nhưng chăm sóc bệnh nhân hằng ngày – từ một ly nước, một lần xoay người, một lần đi vệ sinh, một lời nói nhẹ nhàng – lại là nơi bộc lộ rất rõ sự yếu kém và thiếu nhân bản của hệ thống y tế.
Bác sĩ Việt Nam giỏi?
Trước khi về Việt Nam, tôi đã nghe nhiều đồn đại rằng bác sĩ Việt Nam rất giỏi. Nhiều Việt kiều mới về Việt Nam cũng thường khen bác sĩ Việt Nam rất giỏi. Họ thậm chí chê bác sĩ Mỹ dở. Những câu chuyện phẫu thuật thành công trên báo chí: ghép tạng, mổ tim, tách song sinh, can thiệp thần kinh, cứu bệnh nhân nguy kịch, phẫu thuật robot, kỹ thuật cao này nọ. Báo chí ca ngợi và nghĩ rằng y khoa Việt Nam đã ngang tầm thế giới.
Nhưng để có cái nhìn tỉnh táo hơn, cần phải nhìn vào hệ thống đào tạo bác sĩ ở Việt Nam.
Ở bất cứ quốc gia nào, chất lượng bác sĩ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng trường y, bệnh viện thực hành, chương trình đào tạo, thầy hướng dẫn, số lượng ca bệnh được tiếp xúc, và văn hóa chuyên môn của cả hệ thống. Bác sĩ không thể giỏi chỉ nhờ mặc áo blouse trắng, đeo ống nghe, hay tốt nghiệp một trường có chữ “y khoa” trong tên gọi. Nghề y là nghề phải được đào tạo nghiêm ngặt, kéo dài, có giám sát, có thực hành lâm sàng thực chất và có trách nhiệm đạo đức rất cao.
Báo chí thường đăng ca mổ thành công, nhưng ít khi đăng phần sau của câu chuyện. Bệnh nhân sau mổ sống ra sao? Có biến chứng không? Có phục hồi chức năng không? Chất lượng sống thế nào? Có phải quay lại cấp cứu không? Có chết sau đó vài ngày không? Gia đình có kiệt quệ tài chính không? Có ai chịu trách nhiệm nếu điều trị sai không? Những câu hỏi đó hiếm khi xuất hiện trong các bài báo ca ngợi.
Ở Việt Nam, ngoài một số trường y lâu đời và có uy tín như các đại học y lớn ở Sài Gòn, Hà Nội, Huế, chất lượng của nhiều trường y khác là điều rất đáng lo ngại. Trong những năm gần đây, số trường có đào tạo ngành y tăng lên khá nhanh. Nhiều địa phương, nhiều đại học tư, nhiều cơ sở chưa có truyền thống y khoa cũng mở ngành đào tạo bác sĩ. Có những nơi, người đứng đầu một cơ sở đào tạo y khoa chưa chắc đã là một giáo sư y khoa đúng nghĩa hay có tầm vóc học thuật cao. Đội ngũ giảng dạy có khi phải mượn bác sĩ từ nơi khác, hoặc dựa quá nhiều vào những bác sĩ còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm lâm sàng. Khi người thầy chưa đủ sâu, người học khó có thể vững. Khi môi trường thực hành chưa đủ mạnh, sinh viên khó có thể trưởng thành thành bác sĩ giỏi.
Hãy thử tưởng tượng một sinh viên y khoa học lý thuyết trong giảng đường nhiều hơn là tiếp xúc bệnh nhân thật. Khi đi bệnh viện thực tập thì chỉ đứng nhìn từ xa, ít được hỏi bệnh, ít được khám, ít được theo ca bệnh từ đầu đến cuối. Ra trường, họ được giao khám bệnh trong một phòng khám đông nghẹt người. Mỗi bệnh nhân chỉ có vài phút. Họ không đủ kinh nghiệm để nhận ra dấu hiệu nguy hiểm, nên hoặc là cho thuốc đại khái, hoặc là chỉ định xét nghiệm tràn lan để “cho chắc”, hoặc là bỏ sót bệnh. Bệnh nhân nghèo, bệnh nhân ít hiểu biết, bệnh nhân ở tỉnh lẻ là những người dễ trở thành nạn nhân nhất.
Đó là lý do nhiều người đi khám ở Việt Nam hay gặp cảnh cùng một bệnh mà mỗi bác sĩ nói một kiểu. Người này bảo đau dạ dày. Người kia bảo rối loạn tiền đình. Người khác bảo thiếu máu não. Có nhiều nơi bác sĩ cho kháng sinh dù không cần. Có nhiều nơi bác sĩ cho cả chục loại thuốc trong một toa. Có những nơi bệnh nhân chỉ ho, sốt thông thường cũng được truyền dịch, chích thuốc, xét nghiệm đủ thứ. Ngược lại, có những trường hợp bệnh nặng thật thì lại bị xem nhẹ, cho về nhà, đến khi quay lại thì đã quá trễ.
Dĩ nhiên, Việt Nam vẫn có những bác sĩ giỏi. Có những ê-kíp rất đáng kính. Có những người làm nghề nghiêm túc, tận tụy, giỏi tay nghề và có lương tâm. Có những ca bệnh được cứu sống trong điều kiện khó khăn mà đáng lẽ phải được ghi nhận công bằng. Không nên phủ nhận công sức của những người làm y tử tế. Nhưng tôi e rằng số đó là rất ít.
Nhưng vấn đề là không thể lấy vài ca thành công để đánh giá toàn bộ hệ thống y tế.
Báo chí thường đăng ca mổ thành công, nhưng ít khi đăng phần sau của câu chuyện. Bệnh nhân sau mổ sống ra sao? Có biến chứng không? Có phục hồi chức năng không? Chất lượng sống thế nào? Có phải quay lại cấp cứu không? Có chết sau đó vài ngày không? Gia đình có kiệt quệ tài chính không? Có ai chịu trách nhiệm nếu điều trị sai không? Những câu hỏi đó hiếm khi xuất hiện trong các bài báo ca ngợi.
Một ca mổ thành công về mặt kỹ thuật chưa chắc là một ca điều trị thành công về mặt con người. Người thợ giỏi có thể cắt, nối, vá, thay, ghép rất khéo. Nhưng người thầy thuốc giỏi phải nhìn xa hơn đường dao mổ. Họ phải hỏi: bệnh nhân sau đó sống như thế nào? Có đau đớn không? Có đi lại được không? Có ăn uống được không? Có trở lại đời sống bình thường không? Có đáng để can thiệp như vậy không? Có lựa chọn ít xâm lấn hơn không? Có cần mổ không, hay chỉ vì bệnh viện muốn mổ?
Đó là khác biệt giữa “tay nghề” và “y khoa”. Tay nghề là kỹ thuật. Y khoa là khoa học, đạo đức, phán đoán, giao tiếp, theo dõi, chăm sóc và trách nhiệm. Một bác sĩ có thể rất khéo tay nhưng vẫn là một thầy thuốc tồi nếu họ không biết lắng nghe bệnh nhân, không giải thích rủi ro, không tôn trọng quyền lựa chọn, không quan tâm đến chất lượng sống, và chỉ xem bệnh nhân như một ca bệnh để xử lý.
Nhiều bác sĩ không còn nhìn bệnh nhân như một con người đang đau khổ, mà như một nguồn thu.
Một số bác sĩ Việt Nam rất tự hào rằng tay nghề của họ chẳng kém ai trên thế giới. Có thể đúng với một số người. Nhưng y khoa hiện đại không chỉ là “mổ giỏi”. Ở những hệ thống y tế trưởng thành, bác sĩ phải làm việc trong một môi trường có chuẩn mực: hồ sơ bệnh án rõ ràng, quy trình kiểm soát sai sót, hội chẩn đa chuyên khoa, hướng dẫn lâm sàng, trách nhiệm pháp lý, kiểm toán chất lượng, informed consent, quyền bệnh nhân, bảo mật thông tin, chăm sóc giảm đau, chăm sóc cuối đời, phục hồi chức năng, theo dõi sau xuất viện. Những điều đó ở Việt Nam còn rất yếu.
Một điểm yếu rất lớn của y tế Việt Nam là giao tiếp với bệnh nhân. Nhiều bác sĩ nói chuyện với bệnh nhân như cấp trên nói với cấp dưới, đặc biệt là bệnh viện công. Họ ra lệnh nhiều hơn giải thích. Họ khó chịu khi bệnh nhân hỏi. Họ xem việc bệnh nhân muốn hiểu bệnh của mình là phiền phức. Họ nói vài câu chuyên môn rồi bỏ đi, để bệnh nhân và gia đình ngồi đó hoang mang. Có khi bệnh nhân không biết mình bị gì, tại sao phải uống thuốc này, tại sao phải mổ, rủi ro là gì, lựa chọn khác là gì, tiên lượng ra sao.
Ở các nước có nền y tế văn minh, bệnh nhân có quyền hỏi. Bệnh nhân có quyền biết. Bệnh nhân có quyền từ chối. Bệnh nhân có quyền xin ý kiến thứ hai. Bác sĩ phải giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phải nói về lợi ích và rủi ro, phải tôn trọng quyết định của bệnh nhân. Còn ở Việt Nam, nhiều bệnh nhân vẫn mang tâm lý “bác sĩ nói sao nghe vậy”. Điều này rất nguy hiểm, vì khi quyền lực chuyên môn không đi kèm trách nhiệm đạo đức, bệnh nhân trở thành người bị động hoàn toàn.
Vấn đề y đức ở Việt Nam cũng là một nỗi nhức nhối. Không phải tất cả bác sĩ đều vô đạo đức. Nói vậy là không công bằng với những người tử tế. Nhưng phải thừa nhận rằng trong hệ thống hiện nay, có quá nhiều cơ hội để y đức bị tha hóa. Lương thấp, bệnh viện quá tải, cơ chế phong bì, áp lực doanh thu, hoa hồng thuốc, hoa hồng xét nghiệm, quan hệ với công ty dược, chạy chức, chạy suất, chạy chuyên khoa, chạy bệnh nhân, tất cả tạo ra một môi trường rất độc hại.
Nhiều bác sĩ không còn nhìn bệnh nhân như một con người đang đau khổ, mà như một nguồn thu. Một bệnh có thể được kê hai ba loại thuốc có tác dụng tương tự. Một toa thuốc có thể dài bất thường. Thuốc nội rẻ bị bỏ qua, thuốc ngoại đắt được ưu tiên. Thực phẩm chức năng được gợi ý khéo léo. Xét nghiệm được chỉ định quá mức. Bệnh nhân không biết đâu là cần thiết, đâu là thừa. Họ chỉ biết trả tiền vì sợ bệnh nặng hơn.
Quan hệ giữa bác sĩ và công ty dược là một vấn đề rất lớn. Các công ty dược có thể tài trợ hội thảo, du lịch, quà tặng, phong bì, “hỗ trợ khoa học”, “đào tạo chuyên môn”, nhưng cuối cùng mục tiêu vẫn là bán thuốc. Một số bác sĩ bị mua chuộc rất dễ dàng. Chỉ cần được mời đi hội nghị, đi nghỉ dưỡng, nhận chút lợi ích, họ có thể ưu tiên kê thuốc mắc tiền cho bệnh nhân. Người trả giá cuối cùng không phải công ty dược, không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Điều này giải thích tại sao bệnh nhân thường được cho những thuốc không cần thiết hay những “thực phẩm chức năng” không cần thiết, vì tất cả chi là lấy huê hồng từ công ty dược.
Đáng sợ hơn là bệnh nhân ở Việt Nam rất khó đòi công lý khi có sai sót y khoa. Ở Mỹ, bác sĩ và bệnh viện sợ kiện. Hệ thống kiện tụng có thể bị lạm dụng, nhưng nó cũng tạo ra một áp lực trách nhiệm. Bác sĩ phải ghi hồ sơ cẩn thận, phải giải thích kỹ, phải tuân thủ quy trình, phải nghĩ đến hậu quả pháp lý. Còn ở Việt Nam, khi xảy ra tai biến, gia đình bệnh nhân thường rơi vào thế yếu. Hồ sơ bệnh án nằm trong tay bệnh viện. Hội đồng chuyên môn có thể gồm những người cùng ngành. Báo chí có thể đưa tin một thời gian rồi im. Gia đình có thể bị khuyên “thông cảm”. Cuối cùng, người chết thì đã chết, người đau thì vẫn đau, còn hệ thống vẫn tiếp tục như cũ.
Một điểm nữa mà Việt kiều cần hiểu: cấp cứu ở Việt Nam không giống cấp cứu ở Mỹ. Ở Mỹ, dù hệ thống đắt đỏ, khi bạn vào emergency room với tình trạng nguy hiểm, bệnh viện phải tiếp nhận và xử lý. Quy trình cấp cứu có chuẩn. Xe cứu thương, phòng cấp cứu, bác sĩ trực, xét nghiệm khẩn, phẫu thuật khẩn — tất cả vận hành trong một hệ thống có tính pháp lý cao. Ở Việt Nam, cấp cứu có thể rất tùy nơi, tùy bệnh viện, tùy giờ, tùy người trực, tùy khả năng đóng tiền, tùy quen biết. Một ca nguy kịch mà gặp đúng bệnh viện, đúng ê-kíp thì may. Gặp sai nơi, sai giờ, sai người thì hậu quả rất khó lường.
Với bệnh mãn tính, vấn đề còn phức tạp hơn. Người lớn tuổi thường bị nhiều bệnh cùng lúc: tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch, thận, gan, xương khớp, thần kinh, ung thư. Ở một hệ thống tốt, các chuyên khoa phải phối hợp với nhau, thuốc phải được kiểm tra tương tác, hồ sơ phải liên thông, kế hoạch điều trị phải rõ ràng. Ở Việt Nam, bệnh nhân nhiều khi đi bác sĩ tim một toa, bác sĩ nội tiết một toa, bác sĩ thần kinh một toa, bác sĩ xương khớp một toa. Cuối cùng uống cả nắm thuốc mà không ai đứng ra chịu trách nhiệm tổng thể. Người bệnh thì tưởng uống nhiều là tốt, nhưng có khi chính thuốc làm họ yếu hơn và dễ chết hơn.
Coi chừng tai họa
Việt kiều về Việt Nam chữa bệnh cũng nên cẩn thận với tâm lý “bác sĩ Việt Nam hiểu người Việt hơn”. Hiểu văn hóa là một chuyện, còn điều trị đúng chuẩn là chuyện khác. Một bác sĩ nói tiếng Việt dễ nghe không đồng nghĩa với chuyên môn tốt. Một bệnh viện gần nhà không đồng nghĩa với an toàn. Một người quen giới thiệu không đồng nghĩa với phù hợp. Một bác sĩ nổi tiếng trên báo không đồng nghĩa với có trách nhiệm với từng bệnh nhân. Trong y tế, niềm tin cá nhân không thể thay thế hệ thống kiểm soát chất lượng.
Việt kiều chọn về Việt Nam sống thường phớt lờ những trường hợp bi thảm trong hệ thống y tế ở Việt Nam. Đã có nhiều Việt kiều về Việt Nam chữa bệnh, và một số họ mang tật suốt đời, thậm chí bỏ mạng. Vài trường hợp để suy nghĩ. Một Việt kiều từ Mỹ về Trà Vinh làm phẫu thuật thẩm mỹ đã phải bỏ mạng khi về lại Mỹ vì nhiễm trùng. Một Việt kiều Úc bị đột quỵ vào một bệnh viện tư ở TPHCM, sau 4 ngày và chi phí 450 triệu đồng, anh vẫn chết. Nhiều chuyên gia nghĩ rằng anh đáng lý ra đã sống sót nếu ở Úc.
Có những Việt kiều về Việt Nam làm răng, mổ mắt, phẫu thuật thẩm mỹ, điều trị ung thư, thay khớp, mổ tim, rồi sau đó phải quay lại Mỹ để sửa sai. Những câu chuyện này không phải lúc nào cũng lên báo. Người ta thường khoe khi thành công, nhưng im lặng khi thất bại. Vì thất bại trong y tế không chỉ là mất tiền. Nó là đau đớn, xấu hổ, hối hận, tàn phế, thậm chí mất mạng. Một ca làm răng rẻ có thể dẫn đến nhiễm trùng. Một ca thẩm mỹ rẻ có thể làm biến dạng khuôn mặt. Một ca mổ “nhanh gọn” có thể để lại biến chứng cả đời.
Điều đáng nói là ở Việt Nam, khái niệm chăm sóc sau phẫu thuật còn rất rất kém. Mổ xong là một chuyện, phục hồi ra sao là chuyện khác. Bệnh nhân xuất viện rồi ai theo dõi? Ai hướng dẫn phục hồi chức năng? Ai kiểm tra đau mãn tính? Ai đánh giá tâm lý? Ai giúp người già trở lại sinh hoạt bình thường? Nhiều nơi chỉ quan tâm đến việc can thiệp cho xong, còn phần sống tiếp sau đó thì bệnh nhân và gia đình tự xoay xở. Nếu nói bác sĩ phẫu thuật ở Việt Nam vô trách nhiệm thì quá đáng, nhưng tôi nghĩ câu nói đó không xa thực tế là bao nếu dùng tiêu chuẩn y khoa của Mỹ.
Y khoa còn là giúp người ta sống tử tế hơn sau khi được cứu. Một bệnh nhân ung thư không chỉ cần hóa trị, xạ trị, mổ xẻ. Họ cần giảm đau, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng, chăm sóc cuối đời, sự thật về tiên lượng, quyền được quyết định mình muốn điều trị tới đâu. Nhưng ở Việt Nam, nhiều gia đình vẫn giấu bệnh nhân, bác sĩ nói chuyện với người nhà thay vì bệnh nhân, quyết định điều trị được đưa ra trong mơ hồ. Người bệnh nhiều khi không có quyền làm chủ chính thân thể và những ngày cuối đời của mình.
Cho nên, khi Việt kiều nói “về Việt Nam chữa bệnh rẻ hơn”, câu hỏi cần đặt ra là: rẻ hơn ở cấp độ nào? Rẻ hơn cho khám vặt, xét nghiệm đơn giản, nha khoa cơ bản, thuốc thông thường? Có thể. Nhưng khi bệnh nặng, bệnh phức tạp, bệnh cần hệ thống theo dõi lâu dài, bệnh cần trách nhiệm pháp lý và chăm sóc đa chuyên khoa, thì câu chuyện hoàn toàn khác.
Đừng chỉ nhìn cái hóa đơn trước mắt. Hãy nhìn toàn bộ cái giá phải trả: rủi ro chẩn đoán sai, xét nghiệm thừa, thuốc không cần thiết, thái độ thiếu tôn trọng, thiếu minh bạch, thiếu quyền khiếu nại, thiếu chăm sóc sau điều trị, thiếu bảo vệ pháp lý, và thiếu sự an tâm.
Ở Mỹ, bạn có thể tức giận vì hóa đơn y tế. Ở Việt Nam, bạn có thể tức giận vì cảm giác bị đối xử như người xin xỏ trong chính lúc mình yếu đuối nhất. Ở Mỹ, bạn sợ bảo hiểm không trả. Ở Việt Nam, bạn sợ bác sĩ không nói hết, bệnh viện không minh bạch, và khi có chuyện thì không biết kêu ai. Ở Mỹ, hệ thống có thể lạnh lùng vì tiền. Ở Việt Nam, hệ thống vừa có thể lạnh lùng vì tiền, vừa có thể tùy tiện vì thiếu trách nhiệm.
Nói tóm lại, y tế Việt Nam không phải là thiên đường rẻ tiền như nhiều Việt kiều tưởng. Đúng, có một số bác sĩ giỏi. Đúng, có một số bệnh viện có máy móc hiện đại. Đúng, có những ca cứu người rất đáng nể. Nhưng vài điểm sáng không thể che được một hệ thống đầy bất cập: bệnh viện công quá tải, bệnh viện tư thương mại hóa, lạm dụng xét nghiệm, y đức suy đồi, bệnh nhân thiếu quyền, trách nhiệm pháp lý yếu, và chất lượng điều trị không đồng đều.
Việt kiều muốn về Việt Nam sống tuổi già thì phải suy nghĩ rất kỹ về y tế. Lúc còn khỏe, Việt Nam có vẻ vui, rẻ, tiện, ấm áp. Nhưng khi bệnh nặng, khi nằm trên giường bệnh, khi cần một hệ thống y tế đáng tin cậy, khi không còn sức để chạy chọt, không còn tỉnh táo để hỏi, không còn người quen để nhờ, lúc đó mới biết cái giá thật sự của việc sống trong một hệ thống y tế thiếu minh bạch.
Y tế không phải nơi để đánh bạc bằng niềm tin. Y tế không phải nơi để chọn chỉ vì rẻ. Và mạng sống con người không nên trở thành món hàng trong một thị trường bệnh viện biết cười, biết quảng cáo, nhưng không phải lúc nào cũng biết chịu trách nhiệm.
6. Cộng đồng và tình người
Có lẽ bạn cũng như tôi, đã từng nghĩ rằng ở Việt Nam, tình người ấm áp hơn ở Mỹ. Ở Việt Nam, người ta dễ hỏi han nhau hơn, dễ ghé nhà nhau hơn, dễ chia nhau một bó rau, một tô canh, một lời thăm hỏi. Còn ở Mỹ, nhiều khi nhà nào biết nhà nấy, hàng xóm sống cạnh nhau nhiều năm nhưng chỉ gật đầu chào qua loa, không can dự vào đời sống riêng của nhau.
Tôi nghĩ nhận xét đó đúng một phần. Ở Việt Nam, tình nghĩa bà con, chòm xóm, bạn bè vẫn còn đó. Trong một con hẻm nhỏ, người ta vẫn có thể biết nhà ai có đám giỗ, nhà ai có người bệnh, nhà ai mới mất việc. Khi có chuyện buồn, cả xóm có thể qua phụ dựng rạp, nấu ăn, tiếp khách. Khi có bão lụt, ta vẫn thấy nhiều người góp tiền, góp gạo, góp áo quần để gửi đi miền Trung. Những điều ấy rất đáng quý.
Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng thứ tình người ấy đang bị bào mòn. Cuộc sống ngày nay vội vã hơn, áp lực kiếm tiền nặng hơn, lòng tin giữa người với người yếu hơn. Người ta vẫn có thể tử tế với nhau trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhưng trong đời sống thường ngày, nhiều người lại đối xử với nhau bằng sự nghi ngờ, phòng thủ, thậm chí lường gạt.
Ở Việt Nam, giả dối và lừa gạt không phải là chuyện hiếm. Dĩ nhiên, xã hội nào cũng có người xấu, kể cả ở Mỹ. Ở Mỹ cũng có lừa đảo qua điện thoại, email giả, quảng cáo gian dối, công ty làm ăn bất chính. Nhưng điều làm tôi buồn là ở Việt Nam, sự gian dối nhiều khi xuất hiện trong những chuyện rất nhỏ, rất thường ngày, đến mức người ta dần xem nó là bình thường.
Tôi từng đặt mua một món hàng trên mạng, hình quảng cáo rất đẹp, lời mô tả rất hấp dẫn, nhưng khi nhận được thì chất lượng hoàn toàn khác. Vải mỏng hơn, màu khác, kích thước sai, đường may cẩu thả. Khi tôi hỏi lại, người bán hoặc im lặng, hoặc trả lời qua loa, hoặc đổ lỗi cho bên giao hàng. Không một lời xin lỗi nghiêm túc. Sau vài lần như thế, tôi không còn tin vào hình ảnh quảng cáo nữa.
Đi du lịch cũng vậy. Ở một số nơi, đặc biệt là ngoài Bắc, tôi thường xuyên bị hét giá. Một cuốc xe ngắn có thể bị tính gấp đôi, gấp ba. Một bữa ăn bình thường có thể bị kê thêm những món mình không gọi. Một món quà lưu niệm có thể được nói là “hàng thủ công đặc biệt”, nhưng thực ra là hàng sản xuất hàng loạt từ Trung Quốc. Ban đầu tôi bực mình. Sau đó, điều đáng sợ hơn là tôi bắt đầu xem chuyện bị chặt chém là bình thường vì tự biện minh rằng “mình là người miền Nam nên bị ăn hiếp”. Khi một xã hội khiến con người phải luôn đề phòng nhau, xã hội ấy đã mất đi một phần rất quan trọng của đời sống cộng đồng: lòng tin.
Có lần tôi suýt bị lừa một khoản tiền lớn chỉ vì dễ tin người. Họ nói chuyện rất ngọt ngào, trình bày rất chuyên nghiệp, hứa hẹn rất chắc chắn. Họ cho tôi cảm giác rằng họ hiểu mình, muốn giúp mình, đang đem đến cho mình một cơ hội tốt. Nhưng càng đi sâu, tôi càng nhận ra những điều họ nói không khớp với thực tế. Giấy tờ mập mờ. Cam kết không rõ ràng. Khi tôi hỏi kỹ, họ lảng tránh. Nếu lúc đó tôi không dừng lại, có lẽ tôi đã mất một số tiền rất lớn.
Điều làm tôi ngạc nhiên không chỉ là việc bị lừa, mà là thái độ của người lừa mình. Nhiều người không hề tỏ ra xấu hổ. Họ xem đó như một cách làm ăn. Họ nghĩ rằng ai khờ thì chịu, ai tin thì mất. Cái nguy hiểm của một xã hội không chỉ nằm ở chỗ có kẻ gian, mà nằm ở chỗ sự gian trá không còn bị xấu hổ. Khi người ta không còn thấy ngại vì lừa người khác, đạo đức xã hội đã xuống cấp rất sâu.
Một vấn đề khác là thói sống hai mặt. Trước mặt nhau, người ta nói lời tốt đẹp, hứa hẹn đủ điều, tỏ ra thân tình. Nhưng sau lưng, họ có thể nói khác, làm khác, thậm chí cười nhạo sự chân thành của mình. Trong công việc, có người hứa giúp đỡ rất nhiệt tình, nhưng đến khi cần thì biến mất. Trong quan hệ xã hội, có người tỏ ra quý mến mình, nhưng thực ra chỉ đang lợi dụng. Trong môi trường quan chức, sự hai mặt ấy càng dễ thấy hơn: lời nói thường rất đẹp, khẩu hiệu rất hay, nhưng hành động lại không đi cùng lời nói.
Điều này làm tôi suy nghĩ nhiều về căn nguyên của nó. Có thể một phần đến từ nghèo khó, từ áp lực sống, từ một nền kinh tế mà nhiều người cảm thấy nếu mình không khôn lỏi thì sẽ bị người khác qua mặt. Có thể một phần đến từ hệ thống giáo dục nặng hình thức, dạy con người nói những điều “đúng ý” hơn là nói thật. Có thể một phần đến từ môi trường chính trị và xã hội, nơi sự trung thực không phải lúc nào cũng được tưởng thưởng, còn sự luồn lách đôi khi lại giúp người ta tiến thân.
Khi một xã hội vận hành quá lâu bằng quan hệ, phong bì, lời hứa miệng, sự né tránh trách nhiệm và thói quen “biết vậy nhưng vẫn làm”, con người trong xã hội ấy sẽ bị ảnh hưởng. Người tử tế vẫn còn rất nhiều, nhưng họ thường phải sống dè dặt hơn. Người thật thà có khi bị xem là ngây thơ. Người ngay thẳng có khi bị cô lập. Người dám nói thật có khi gặp rắc rối. Lâu dần, ai cũng học cách tự bảo vệ mình bằng sự nghi ngờ.
Như nói trên, tôi cũng như nhiều Việt kiều trở về Việt Nam với mong muốn tìm lại một quê hương trong ký ức. Họ nhớ Sài Gòn cũ, nhớ tiếng rao buổi sáng, nhớ ly cà phê vỉa hè, nhớ tình hàng xóm, nhớ một miền Nam phóng khoáng, dễ thương và hào sảng. Nhưng khi trở về, họ nhận ra quê hương trong trí nhớ và quê hương ngoài đời không còn giống nhau nữa. Thành phố đã thay đổi. Con người đã thay đổi. Nhịp sống đã thay đổi. Những con đường cũ có thể vẫn còn tên, nhưng tinh thần cũ thì không dễ tìm lại.
Tuy vậy, tôi nghĩ cũng không nên kết luận rằng người Việt hôm nay đã mất hết tình người. Nói như vậy là bất công với rất nhiều người lương thiện vẫn đang sống tử tế mỗi ngày. Tôi đã từng gặp những tài xế trả lại đồ bỏ quên cho khách. Tôi đã từng gặp người bán hàng nghèo nhưng không lấy thêm một đồng dù biết khách không rành giá. Tôi đã từng thấy người xa lạ dừng xe giữa đường để giúp một cụ già, một em nhỏ, một người bị tai nạn. Tôi đã từng thấy những nhóm thiện nguyện âm thầm nấu cơm cho bệnh nhân nghèo, phát quà cho người vô gia cư, giúp trẻ em vùng sâu được đi học.
Có lẽ điều đau lòng nhất của người xa quê khi trở về không phải là thấy quê hương nghèo hay giàu, cũ hay mới, mà là cảm giác mình không còn biết phải tin ai.
Ở Mỹ, tình người có thể không biểu hiện ồn ào như ở Việt Nam. Hàng xóm có thể không bước vào nhà nhau tự nhiên. Người ta có thể giữ khoảng cách và tôn trọng đời sống riêng tư. Nhưng bù lại, xã hội ấy có nhiều cơ chế giúp con người tin nhau hơn: mua hàng có thể trả lại, hợp đồng rõ ràng, dịch vụ sai thì khiếu nại được, luật pháp bảo vệ người tiêu dùng, lời hứa có giá trị pháp lý. Tình người ở đó có thể lạnh hơn về bề mặt, nhưng lòng tin xã hội lại được xây dựng bằng luật lệ và trách nhiệm.
Còn ở Việt Nam, tình cảm cá nhân nhiều khi rất ấm, nhưng hệ thống lại thiếu minh bạch. Người ta có thể thương nhau trong gia đình, giúp nhau trong xóm, nhưng ra ngoài xã hội thì lại phải dè chừng. Điều này tạo ra một nghịch lý: trong vòng thân quen, người Việt có thể rất tình nghĩa; nhưng trong quan hệ xa lạ, người ta lại dễ nghi ngờ và dễ bị tổn thương.
Tôi biết nhiều trường hợp Việt kiều mất hàng tỷ đồng vì tin bà con mình mua dùm những căn hộ hoặc nhà cửa trong nước. Họ nhờ bà con đứng tên mua tài sản, và tin rằng sau đó sẽ chuyển tên. Nhưng họ lầm vì những người bà con lợi dụng luật pháp lỏng lẻo và quan hệ với công an chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng. Tình nghĩa bà con thời nay có khi là đắng như vậy.
Có lẽ điều đau lòng nhất của người xa quê khi trở về không phải là thấy quê hương nghèo hay giàu, cũ hay mới, mà là cảm giác mình không còn biết phải tin ai. Và có lẽ, điều cần được xây dựng lại ở Việt Nam hôm nay không chỉ là kinh tế, cầu đường hay cao ốc, mà là lòng tin, thứ nền móng âm thầm nhưng quan trọng nhất của mọi cộng đồng tử tế.
7. Nhũng nhiễu và “hành là chính”
Những người Việt sống ở hải ngoại, đặc biệt là tại các quốc gia dân chủ như Mỹ, Canada, Úc hay các nước châu Âu, thường cảm thấy rất khó chịu, thậm chí bực bội và bất lực, mỗi khi phải tiếp xúc với các cơ quan công quyền ở Việt Nam. Lý do không chỉ nằm ở thủ tục rườm rà, giấy tờ phức tạp hay cách làm việc chậm chạp, mà sâu xa hơn là ở thái độ của không ít viên chức trong bộ máy hành chính.
Tại những quốc gia dân chủ, người dân quen với quan niệm rằng chính quyền là bộ máy phục vụ xã hội. Công chức được trả lương bằng tiền thuế của dân, nên bổn phận của họ là hướng dẫn, giải thích và giải quyết công việc cho dân một cách minh bạch, đúng luật và tôn trọng. Nhưng khi về Việt Nam, nhiều Việt kiều lại gặp một thực tế hoàn toàn khác. Không ít cán bộ vẫn mang nặng tâm lý “quan phụ mẫu”, xem mình là người có quyền ban phát, cho phép hoặc gây khó dễ, thay vì là người có trách nhiệm phục vụ dân.
Trên giấy tờ, nhà nước lúc nào cũng nói đến khẩu hiệu “của dân, do dân, vì dân”. Ở đâu cũng có những câu tuyên truyền về đạo đức công vụ, về cải cách hành chính, về “lấy dân làm gốc”. Nhưng trong thực tế, khi người dân bước vào một cơ quan công quyền, nhiều khi họ không cảm thấy mình là chủ đất nước, mà giống như người đi xin xỏ. Một chữ ký, một con dấu, một tờ xác nhận, một thủ tục tưởng chừng đơn giản cũng có thể biến thành một cuộc hành xác tinh thần.
Nói thẳng ra, nạn tham nhũng và nhũng nhiễu trong bộ máy công quyền Việt Nam đã trở thành một vấn đề rất nghiêm trọng và kéo dài qua nhiều năm. Nó không còn là những trường hợp cá biệt, mà đã trở thành một thứ văn hóa ngầm trong nhiều nơi, nhiều ngành. Đặc biệt trong các lĩnh vực như công an, hải quan, thuế vụ, đất đai, xây dựng, đăng ký hộ khẩu, đăng ký lưu trú hay cấp giấy tờ, tình trạng vòi vĩnh, bắt bẻ và gây khó dễ gần như là chuyện quen thuộc.
Nhiều người dân hiểu rất rõ rằng có những việc nếu làm đúng quy trình thì sẽ bị kéo dài, bị yêu cầu bổ sung giấy này giấy nọ, bị soi mói từng chi tiết nhỏ. Nhưng nếu biết “đi cửa sau”, biết “bồi dưỡng”, biết đặt phong bì đúng chỗ, thì mọi chuyện bỗng trở nên dễ dàng. Một hồ sơ đang thiếu bỗng thành đủ. Một thủ tục đang vướng bỗng được thông qua. Một lỗi nhỏ đáng lẽ bị phạt nặng bỗng được bỏ qua. Chính vì vậy mà người dân mới chua chát gọi nền hành chính ấy không phải là “hành chính”, mà là “hành là chính”.
Đối với Việt kiều, sự phiền hà này đôi khi còn nặng nề hơn. Vì trong mắt một số cán bộ, Việt kiều thường bị mặc định là người có tiền, là “khúc ruột ngàn dặm” nhưng cũng là đối tượng dễ bị moi móc. Họ về Việt Nam thăm thân nhân, lo việc gia đình, làm giấy tờ nhà đất, đăng ký tạm trú, xin xác nhận này nọ, và rất dễ trở thành mục tiêu của những trò gây khó dễ.
Ngày nay, nhà cầm quyền yêu cầu người nước ngoài khi về Việt Nam phải đăng ký lưu trú với công an địa phương. Về nguyên tắc, đây có thể được giải thích là một thủ tục quản lý hành chính. Nhưng trên thực tế, cách thực hiện ở nhiều nơi lại khiến người ta có cảm giác như quay về thời Bao Cấp, khi mọi sinh hoạt cá nhân đều bị kiểm soát và người dân lúc nào cũng phải trình báo, xin phép. Đối với Việt kiều, việc đăng ký lưu trú đáng lẽ phải đơn giản, rõ ràng và nhanh chóng. Nhưng chỉ một chuyện nhỏ như vậy cũng có thể trở thành cơ hội để công an khu vực bắt bẻ, hạch hỏi hoặc gợi ý tiền bạc.
Có những trường hợp người dân bị hỏi đủ thứ: về ở bao lâu, về làm gì, có quốc tịch gì, giấy tờ đâu, chủ nhà có mặt không, tại sao chưa khai báo sớm, tại sao giấy này thiếu dấu kia. Nhưng khi có tiền “cà phê”, mọi thứ bỗng nhẹ nhàng hơn hẳn. Cái chưa đúng bỗng được cho là có thể châm chước. Cái thiếu bỗng không còn quan trọng. Cái khó bỗng được giải quyết nhanh chóng. Chính sự tùy tiện ấy mới là điều làm người ta phẫn nộ nhất, vì nó cho thấy luật lệ nhiều khi không phải để bảo vệ trật tự xã hội, mà để tạo ra quyền lực cho người thi hành công vụ.
Ngay cả ông Nguyễn Phú Trọng, khi còn sống, cũng từng nhiều lần nói đến tình trạng cán bộ, công an, viên chức nhũng nhiễu người dân. Chính gia đình ông cũng bị nhũng nhiễu! Chiến dịch chống tham nhũng được tuyên truyền rầm rộ trong nhiều năm, với khẩu hiệu “đốt lò” được nhắc đi nhắc lại. Nhưng thực tế cho thấy, việc bắt một số quan chức cấp cao không đồng nghĩa với việc làm sạch được bộ máy từ gốc. Tham nhũng lớn ở cấp trên gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, nhưng tham nhũng vặt ở cấp dưới lại trực tiếp làm khổ người dân mỗi ngày.
Một người dân bình thường có thể không bao giờ gặp một bộ trưởng tham nhũng, nhưng họ có thể thường xuyên gặp một cán bộ phường hách dịch, một công an khu vực vòi tiền, một nhân viên thuế gây khó, một cán bộ đất đai ngâm hồ sơ. Chính những va chạm hằng ngày ấy tạo nên cảm giác bất công, mệt mỏi và mất niềm tin. Người dân không chỉ mất tiền, mà còn mất thời gian, mất nhân phẩm và mất cả cảm giác được đối xử như một con người có quyền lợi chính đáng.
Với Việt kiều, sự va chạm càng cay đắng hơn. Nhiều người đã sống nhiều năm ở nước ngoài, quen với việc vào cơ quan chính phủ được hướng dẫn lịch sự, lấy số thứ tự, nộp hồ sơ, nhận kết quả theo đúng ngày hẹn. Khi trở về Việt Nam, họ dễ bị sốc trước cảnh chen lấn, chờ đợi, bị quát nạt hoặc bị đối xử như kẻ đi xin. Có người vì không hiểu “luật ngầm” nên bị làm khó. Có người vì thẳng thắn phản đối nên càng bị ghim. Có người vì không muốn rắc rối nên đành im lặng móc tiền cho xong chuyện.
Điều nguy hiểm là sự nhũng nhiễu không chỉ gây thiệt hại vật chất, mà còn làm băng hoại đạo đức xã hội. Khi người dân phải quen với việc đưa tiền để được yên thân, họ dần mất niềm tin vào công lý. Khi cán bộ quen với việc nhận tiền để làm việc vốn thuộc trách nhiệm của mình, họ dần xem quyền lực công là tài sản riêng. Khi cái sai được giải quyết bằng phong bì, thì luật pháp chỉ còn là hình thức. Một xã hội như vậy khó có thể phát triển lành mạnh, dù bên ngoài có bao nhiêu khẩu hiệu đẹp đẽ.
Chính quyền có thể nói rất nhiều về cải cách hành chính, chuyển đổi số, chính phủ điện tử, minh bạch hóa thủ tục. Nhưng nếu con người vận hành bộ máy vẫn giữ tư duy cửa quyền, nếu không có cơ chế kiểm soát quyền lực thật sự, nếu người dân không có quyền khiếu nại độc lập và được bảo vệ khi tố cáo tham nhũng, thì mọi cải cách chỉ dừng lại ở bề mặt. Máy móc có thể hiện đại hơn, biểu mẫu có thể đẹp hơn, nhưng nếu cán bộ vẫn có quyền gây khó dễ tùy tiện, thì bản chất “hành dân” vẫn không thay đổi.
Vì vậy, nếu Việt kiều muốn sống yên ổn lâu dài ở Việt Nam, có lẽ họ phải tập một điều rất khó: biết chịu nhục.
Họ phải học cách im lặng trước những câu nói hách dịch. Phải học cách nhẫn nhịn khi bị bắt bẻ vô lý. Phải biết mềm mỏng, biết “điều đình”, biết tránh va chạm với những người có chút quyền trong tay. Bởi trong một môi trường mà luật pháp không bảo vệ người yếu thế một cách hiệu quả, thì lòng tự trọng đôi khi trở thành một gánh nặng.
Đó là bi kịch của nhiều người Việt khi trở về quê hương. Họ yêu đất nước, nhớ gia đình, muốn gần gũi cội nguồn, muốn đóng góp hoặc an hưởng tuổi già trên mảnh đất mình sinh ra. Nhưng họ lại phải đối diện với một bộ máy công quyền lạnh lùng, cửa quyền và đầy bất trắc. Quê hương đáng lẽ phải là nơi đem lại cảm giác thân thuộc, nhưng nhiều khi lại trở thành nơi khiến họ thấy xa lạ và bất an.
Nói cho cùng, một quốc gia không thể chỉ được đánh giá bằng những tòa nhà cao tầng, những con đường mới mở hay những khẩu hiệu treo đầy ngoài phố. Một quốc gia văn minh phải được nhìn từ cách chính quyền đối xử với người dân trong những việc nhỏ nhất. Khi một người dân đi làm giấy tờ mà được hướng dẫn tử tế, khi một Việt kiều về thăm quê mà không bị công an gây khó, khi một thủ tục hành chính được giải quyết đúng luật mà không cần phong bì, lúc đó mới có thể nói đến một nền công quyền thật sự phục vụ dân.
Còn nếu người dân vẫn phải sợ cán bộ, vẫn phải đút lót để được việc, vẫn phải cúi đầu để được yên thân, thì mọi lời tuyên truyền về “nhà nước của dân, do dân, vì dân” chỉ là những câu nói rỗng tuếch. Và khi ấy, cụm từ “hành là chính” vẫn sẽ còn là một cách mô tả đau đớn nhưng chính xác về thực trạng của nền hành chính Việt Nam.
8. Tuyên truyền và tẩy não
Một điều khác làm tôi rất khó chịu trong những tháng sống ở Việt Nam là cảm giác mình đang sống trong một môi trường thông tin bị kiểm soát. Nói nặng hơn, có lúc tôi cảm thấy mình như đang bị tẩy não một cách âm thầm.
Ở Mỹ, tôi quen với việc đọc tin tức từ nhiều nguồn khác nhau. Tôi có thể đọc báo Mỹ, báo Anh, báo Pháp, báo Úc, báo Việt trong nước, báo Việt hải ngoại, đài quốc tế, truyền thông cánh tả, cánh hữu, trung lập, bảo thủ, cấp tiến. Tôi có thể so sánh, nghi ngờ, kiểm chứng, và tự mình rút ra nhận định. Không ai bắt tôi phải tin một nguồn tin duy nhất. Không ai nói với tôi rằng nguồn tin này là “phản động”, nguồn tin kia là “thế lực thù địch”, nguồn tin nọ là “xuyên tạc”. Tôi có quyền đọc, quyền nghi ngờ, quyền đồng ý, quyền phản đối.
Việt kiều có lòng tự trọng và có suy nghĩ sẽ không thể nào sống lâu dài được ở Việt Nam, vì họ thấy mình mất năng lực suy nghĩ và bị tẩy não hàng ngày. Còn những người không có lòng tự trọng, xu nịnh, ham ăn chơi thì họ hài lòng để được tẩy não dù họ nghĩ là không quan tâm đến chính trị.
Nhưng khi sống ở Việt Nam, tôi thấy điều đó không còn tự nhiên nữa.
Nhiều trang tin quốc tế bằng tiếng Việt như BBC, RFA, VOA hay một số cơ quan truyền thông độc lập rất khó truy cập. Dĩ nhiên, nếu biết kỹ thuật, người ta vẫn có thể vượt tường lửa. Nhưng tại sao một người dân bình thường lại phải vượt tường lửa chỉ để đọc tin tức? Tại sao đọc một bài báo khác quan điểm với nhà nước lại phải trở thành một hành động lén lút? Tại sao muốn nghe nhiều phía lại bị biến thành một chuyện mệt mỏi, bất tiện, thậm chí có cảm giác như mình đang làm điều gì sai?
Chỉ riêng điều đó đã nói lên rất nhiều về bản chất của môi trường thông tin ở Việt Nam.
Tin tức ở Việt Nam thì gần như chỉ đi theo một chiều. Báo nào cũng na ná báo nào. Cách dùng chữ giống nhau. Cách đặt vấn đề giống nhau. Cách ca ngợi giống nhau. Cách chỉ trích cũng giống nhau. Những vấn đề nhạy cảm thì hoặc không được nói đến, hoặc chỉ được nói theo đúng “định hướng”. Những sai lầm của chính quyền thường được trình bày như “thiếu sót”, “bất cập”, “cần rút kinh nghiệm”. Nhưng những chuyện ở Mỹ hay phương Tây thì được khai thác rất kỹ: bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, người vô gia cư, biểu tình, lạm phát, khủng hoảng chính trị, suy đồi đạo đức.
Tôi thấy điều này rất lạ, vì chính Mỹ và các nước phương Tây đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của Việt Nam ngày nay. Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nằm ở phương Tây. Công nghệ, đầu tư, giáo dục, kiều hối, thương mại, du học, hợp tác y tế, hàng không, ngân hàng, sản xuất, tất cả đều có dấu ấn rất lớn của Mỹ, châu Âu, Nhật, Úc, Hàn Quốc và các nền kinh tế tự do. Hàng triệu người Việt muốn cho con đi du học ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Pháp, Đức. Nhiều quan chức cũng gửi con cháu sang phương Tây học tập, mua nhà, định cư. Khi bệnh nặng, nhiều người có tiền vẫn muốn ra nước ngoài chữa trị. Khi cần công nghệ cao, Việt Nam vẫn cần phương Tây. Khi cần thị trường tiêu thụ hàng hóa, Việt Nam vẫn cần Mỹ và châu Âu.
Vậy mà về mặt tuyên truyền, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ một tinh thần chống Mỹ, chống phương Tây rất sâu trong bản chất. Họ có thể bắt tay với Mỹ vì lợi ích kinh tế và chiến lược, nhưng lại rất thân Trung Quốc. Họ có thể ký hiệp định thương mại, nhận đầu tư, gửi sinh viên đi học, mua máy móc, bán hàng vào thị trường Mỹ. Nhưng về tư tưởng, họ vẫn phải dựng Mỹ và phương Tây như một thứ đối tượng cần cảnh giác. Vì nếu người dân Việt Nam nhìn thấy quá rõ mặt tốt của các xã hội tự do, họ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi: tại sao người dân ở đó có quyền bầu chọn lãnh đạo, có báo chí độc lập, có tòa án độc lập, có quyền biểu tình, có quyền lập hội, còn người dân Việt Nam thì không?
Những Việt kiều chọn về Việt Nam sống thường thích nói về ăn chơi, đồ ăn ngon, giá sinh hoạt rẻ, cà phê vỉa hè, dịch vụ tiện lợi, nhịp sống sôi động. Nhưng có một chủ đề mà họ gần như luôn né tránh: chính trị.
Ở Mỹ, Canada, Úc hay các nước dân chủ phương Tây, nhiều người Việt có thể nói chuyện chính trị rất thoải mái. Họ có thể chê tổng thống, chê quốc hội, chê thống đốc, chê thị trưởng, chê cảnh sát, chê chính sách di trú, chê thuế má, chê cả hệ thống mà không sợ nửa đêm có người gõ cửa. Nhưng khi về Việt Nam, cũng chính những người đó bỗng trở nên rất “hiền”. Họ nói nhỏ lại. Họ né chữ “chính trị”. Họ bảo nhau: “Ở Việt Nam thì đừng nói mấy chuyện đó.” Họ biết sợ.
Và họ có lý do để sợ.
Việt Nam, về bản chất, vẫn là một nước cộng sản. Xin đừng biện minh rằng “Việt Nam bây giờ không còn cộng sản nữa”. Không đúng. Tên chính thức của đảng cầm quyền vẫn là “Đảng Cộng sản Việt Nam“. Cờ búa liềm vẫn được trưng bày khắp nơi. Tượng đài, khẩu hiệu, bích chương, biểu ngữ, hình ảnh lãnh tụ, những câu tuyên truyền chính trị vẫn hiện diện trong đời sống hằng ngày. Người dân có thể quen đến mức không còn để ý, nhưng chính vì không còn để ý nên mới đáng sợ. Khi tuyên truyền trở thành một phần của khung cảnh bình thường, người ta bắt đầu xem nó như không khí mình hít thở.
Một trong những đặc trưng căn bản của chế độ cộng sản là tuyên truyền và tẩy não. Ở Việt Nam, tuyên truyền không nằm ở một vài tờ báo hay một vài chương trình truyền hình. Nó có mặt khắp nơi: báo chí, tivi, radio, sách giáo khoa, phim ảnh, văn nghệ, bích chương, bảng hiệu, loa phường, hội nghị, trường học, cơ quan nhà nước, doanh trại, sân bay, tàu bè, xe hơi, mạng xã hội.
Bạn đi ngoài đường cũng thấy khẩu hiệu. Bạn mở tivi cũng nghe tuyên truyền. Bạn vào cơ quan hành chính cũng thấy hình ảnh chính trị. Bạn cho con đi học cũng gặp bài học chính trị. Bạn đọc báo cũng chỉ thấy một chiều.
Bạn không thể nào thoát khỏi vòng vây đó nếu sống lâu dài ở Việt Nam.
Tất cả các cơ sở truyền thông chính thống đều nằm dưới sự kiểm soát của Đảng. Điều đó có nghĩa là người dân không được tiếp cận một môi trường thông tin tự do đúng nghĩa. Báo chí có thể có nhiều tờ, nhiều kênh, nhiều giọng văn khác nhau, nhưng đường lối chung vẫn chỉ là một. Họ có thể khác nhau về hình thức, nhưng không khác nhau về quyền tự do căn bản. Không có báo đối lập. Không có truyền hình độc lập. Không có đài phát thanh độc lập. Không có một nền báo chí tự do có khả năng điều tra đến tận cùng những vấn đề liên quan đến quyền lực chính trị.
Ở các nước dân chủ, báo chí có thể điều tra chính phủ, phanh phui bê bối, chất vấn lãnh đạo, bảo vệ người dân trước quyền lực nhà nước. Ở Việt Nam, báo chí không được đứng bên ngoài quyền lực để giám sát quyền lực. Báo chí là một phần của hệ thống quyền lực. Vì vậy, cái gọi là “báo chí cách mạng” thực chất không phải là báo chí tự do. Nó là công cụ tuyên truyền được khoác áo thông tin.
Người dân tưởng rằng mình đang đọc tin tức, nhưng nhiều khi họ chỉ đang đọc những gì nhà nước muốn họ đọc. Họ tưởng rằng mình đang có quan điểm riêng, nhưng quan điểm đó đã được nhào nặn từ nhỏ qua sách giáo khoa, truyền hình, khẩu hiệu, phim ảnh, lễ lạc, các buổi sinh hoạt chính trị và cả những câu chuyện được lặp đi lặp lại trong xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam về bản chất vẫn giữ tinh thần chống Mỹ và thân Tàu và thân Nga trong nhiều tầng tuyên truyền, dù bên ngoài vẫn nói chuyện hội nhập, ngoại giao đa phương, hợp tác quốc tế. Trên báo chí, hình ảnh phương Tây, đặc biệt là Mỹ, thường được trình bày theo hướng đầy nghi ngờ: nào là suy đồi, khủng hoảng, bạo lực, phân hóa, vô gia cư, phân biệt chủng tộc, chiến tranh, bá quyền. Trong khi đó, các chế độ độc tài hoặc chống phương Tây lại thường được mô tả bằng một giọng điệu mềm mỏng hơn, thậm chí có lúc thiên vị rõ rệt.
Trong các cuộc xung đột quốc tế, người sống ở Việt Nam nếu chỉ theo dõi truyền thông trong nước rất dễ có cái nhìn méo mó. Họ có thể tưởng rằng Mỹ lúc nào cũng thất bại, phương Tây lúc nào cũng suy tàn, còn các chế độ độc tài thì luôn chính nghĩa, kiên cường, được nhân dân ủng hộ. Trong cuộc chiến Mỹ – Iran, nếu bạn chỉ đọc báo trong nước, bạn có thể có cảm giác Mỹ đang thua trận hoặc bị cô lập, vì nhiều nguồn tin được sử dụng lại có khuynh hướng nghiêng về phía các chế độ chống Mỹ hơn là từ những nguồn báo chí độc lập của phương Tây.
Cách làm này không mới. Nó rất giống mô hình tuyên truyền của các chế độ cộng sản khác, đặc biệt là Trung Quốc. Kiểm soát báo chí, kiểm soát truyền hình, kiểm soát radio, kiểm soát internet, kiểm soát trường học, kiểm soát xuất bản, kiểm soát văn hóa – tất cả đều nhằm một mục tiêu: bảo đảm chỉ có thông điệp của Đảng được xem là chính thống, còn mọi tiếng nói khác bị quy chụp là “phản động”, “thế lực thù địch”, “xuyên tạc”, “chống phá”.
Một xã hội bị tuyên truyền lâu ngày sẽ sinh ra phản xạ tự kiểm duyệt. Người ta không cần công an đứng cạnh mới sợ. Họ tự biết điều gì không nên nói. Họ tự xóa bài. Họ tự tránh dùng chữ nhạy cảm. Họ tự dặn con cái đừng bàn chuyện chính trị ở trường. Họ tự nhắc nhau đừng chia sẻ những bài viết “nguy hiểm”. Khi nỗi sợ đã đi vào trong đầu, nhà nước không cần đàn áp công khai mỗi ngày nữa. Người dân sẽ tự kiểm soát chính mình.
Đó chính là thành công lớn nhất của tuyên truyền và tẩy não.
Tẩy não không chỉ là bắt người ta tin vào điều sai. Tẩy não còn là làm cho người ta mất khả năng đặt câu hỏi. Tẩy não là khi một người nghe một câu tuyên truyền vô lý nhưng vẫn gật đầu vì đã nghe quá nhiều lần. Tẩy não là khi một đứa trẻ học lịch sử qua một phiên bản duy nhất và lớn lên tưởng đó là toàn bộ sự thật. Tẩy não là khi người ta được dạy phải yêu Đảng trước khi biết phân biệt giữa đất nước, dân tộc và chế độ. Tẩy não là khi mọi sai lầm của nhà nước được giải thích bằng “khó khăn khách quan”, còn mọi ý kiến phản biện đều bị xem là âm mưu phá hoại.
Ở Việt Nam, nhiều thế hệ đã bị nhồi sọ về lịch sử và văn hóa. Họ được dạy một thứ lịch sử một chiều, trong đó phe thắng trận luôn chính nghĩa tuyệt đối, còn phe Việt Nam Cộng Hoà và Mỹ thì bị bôi nhọ, bị xóa bỏ hoặc bị biến thành hình ảnh phản diện. Họ được dạy rằng người vượt biên là “phản động”, là “đu càng”, là kẻ bỏ nước ra đi, trong khi không được học đầy đủ về nguyên nhân vì sao hàng triệu người đã phải liều mạng vượt biển, chấp nhận chết đói, chết khát, bị hải tặc, bị sóng biển nuốt chửng, chỉ để tìm một đời sống tự do hơn.
Một xã hội tử tế phải biết đặt câu hỏi: Tại sao người ta bỏ chạy? Tại sao người ta dám đem cả gia đình xuống một chiếc ghe mong manh giữa biển? Tại sao người ta thà chết ngoài đại dương còn hơn ở lại dưới một chế độ mà họ không tin tưởng? Nhưng trong tuyên truyền cộng sản, những câu hỏi đó không được khuyến khích. Người ta chỉ được nghe kết luận có sẵn.
Việt kiều khi về Việt Nam lâu ngày cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường đó. Ban đầu họ có thể còn giữ được khoảng cách, còn thấy khó chịu trước tuyên truyền. Nhưng sống lâu trong một xã hội bị kiểm soát thông tin, giao du với những người chỉ nghe một chiều, đọc báo một chiều, xem truyền hình một chiều, dần dần họ cũng bị cuốn vào. Họ bắt đầu lặp lại những câu nói của nhà nước. Họ bắt đầu bảo rằng “chuyện cũ rồi, nhắc làm gì”. Họ bắt đầu nói “bên nào cũng có lỗi”. Rồi có người còn quay lưng 180 độ, phỉ báng Mỹ, phỉ báng chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà chính họ hoặc gia đình họ từng hưởng ân huệ.
Đó là một hiện tượng rất đau lòng. Những người từng sống trong tự do, từng được hưởng quyền công dân ở phương Tây, khi về Việt Nam lại học cách bênh vực cho một chế độ không cho người dân những quyền căn bản đó. Họ có thể chê nước Mỹ mỗi ngày, nhưng lại không dám chê công khai chính quyền Việt Nam. Họ có thể mắng tổng thống Mỹ trên Facebook, nhưng lại im thin thít trước một viên công an phường. Họ có thể nói về nhân quyền ở Mỹ rất hăng, nhưng khi nói đến nhân quyền ở Việt Nam thì bảo: “Thôi, đừng bàn chính trị.”
Việt kiều có lòng tự trọng và có suy nghĩ sẽ không thể nào sống lâu dài ở Việt Nam được, vì họ thấy mình mất năng lực suy nghĩ và bị tẩy não hàng ngày. Còn những người không có lòng tự trọng, xu nịnh, ham ăn chơi thì họ hài lòng để được tẩy não dù họ nghĩ là không quan tâm đến chính trị.
9. Công an trị
Trong thời gian sống ở Việt Nam, tôi có hai lần phải tiếp xúc trực tiếp với công an. Cả hai lần đều để lại cho tôi một ấn tượng rất xấu.
Lần thứ nhất là khi tôi làm thủ tục đăng ký lưu trú. Đây đáng lẽ chỉ là một việc hành chính rất đơn giản. Tôi về Việt Nam sống tạm thời, thuê căn hộ đàng hoàng, có địa chỉ rõ ràng, có giấy tờ tùy thân, có chủ nhà. Chuyện đăng ký lưu trú lẽ ra chỉ cần điền mẫu đơn, nộp giấy tờ và nhận xác nhận. Ở một quốc gia bình thường, thủ tục như vậy không nên trở thành vấn đề.
Nhưng ở Việt Nam, chỉ một việc nhỏ như thế cũng có thể làm người ta mệt mỏi.
Tôi điền mẫu đơn. Họ nói sai. Tôi điền lại. Họ vẫn nói sai. Khi tôi điền đúng thì họ lại bảo phải có con dấu. Mỗi lần như vậy, tôi có cảm giác họ không thật sự muốn hướng dẫn cho mình làm đúng ngay từ đầu. Họ chỉ bắt lỗi từng chút một, làm cho người dân rối trí, mệt mỏi, mất thời gian, rồi cuối cùng phải tìm đến một người “biết đường”.
Và đúng như vậy, sau cùng phải có một anh cò đứng ra lo giùm thì mọi việc bỗng trở nên nhanh chóng, nhẹ nhàng. Tôi đưa cho anh cò 500 ngàn đồng. Số tiền đó đối với tôi không lớn, nhưng vấn đề không nằm ở 500 ngàn đồng. Vấn đề là tại sao một thủ tục hợp pháp, đơn giản, đáng lẽ phải được giải quyết minh bạch, lại phải qua trung gian? Tại sao người dân phải trả thêm tiền cho một việc mà cơ quan công quyền có trách nhiệm làm? Và nếu anh cò nhận 500 ngàn đồng, ai dám chắc rằng trong đó không có phần phải chia lại cho người có quyền giải quyết hồ sơ?
Lần thứ hai tôi tiếp xúc công an là khi tôi bị mất một cái iPhone trong một quán cà phê. Tôi đến trình báo với hy vọng ít nhất họ sẽ ghi nhận sự việc, kiểm tra camera, liên hệ quán, hoặc có một hành động gì đó cho thấy người dân được bảo vệ. Nhưng trải nghiệm ấy cũng làm tôi thất vọng.
Họ yêu cầu tôi tường trình sự việc bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tôi làm theo. Tôi viết rõ mất ở đâu, thời gian nào, hoàn cảnh ra sao. Nhưng sau đó mọi việc rơi vào im lặng. Không ai gọi lại. Không ai thông báo tiến triển. Không ai cho tôi biết họ có kiểm tra gì hay không. Nói ngắn gọn là họ không giúp được gì cả.
Tôi không ngây thơ đến mức nghĩ rằng công an có thể tìm lại mọi cái điện thoại bị mất. Ở Mỹ hay bất cứ nước nào cũng vậy, một vụ mất điện thoại nhỏ có thể không phải là ưu tiên cao nhất. Nhưng ít nhất, ở một hệ thống có trách nhiệm, người dân phải có cảm giác rằng trình báo của mình được ghi nhận nghiêm túc, quy trình rõ ràng, thái độ tôn trọng, và nếu không tìm được thì cũng có phản hồi minh bạch. Còn ở đây, tôi có cảm giác mình chỉ làm thêm giấy tờ cho có, rồi mọi thứ biến mất vào một khoảng im lặng quen thuộc.
Hai kinh nghiệm đó cho tôi thấy một nghịch lý rất rõ. Khi người dân cần làm thủ tục, công an có thể làm cho việc đơn giản trở thành phức tạp. Nhưng khi người dân thật sự cần họ giúp đỡ, thì sự giúp đỡ lại rất giới hạn. Lúc cần họ đừng gây khó, họ gây khó. Lúc cần họ bảo vệ, họ im lặng.
Ấy vậy mà tôi vẫn nghe nhiều người, kể cả một số Việt kiều, khen rằng công an Việt Nam rất giỏi, thậm chí có người còn nói công an Việt Nam “giỏi nhất thế giới”. Tôi nghe mà không biết nên cười hay nên buồn. Giỏi ở điểm nào? Giỏi kiểm soát dân? Giỏi bắt người bất đồng chính kiến? Giỏi canh gác các phiên tòa chính trị? Giỏi theo dõi Facebook? Giỏi hỏi giấy tờ, bắt lỗi, gây khó dễ? Còn những việc căn bản của một lực lượng bảo vệ dân như tiếp nhận trình báo, điều tra trộm cắp, giúp người dân lấy lại tài sản, hướng dẫn thủ tục minh bạch, đối xử lịch sự và có trách nhiệm, thì tôi chưa thấy có gì đáng để ca ngợi.
Xã hội công an trị
Việt Nam là một nước công an trị. Cần phải nhấn mạnh điều đó. Trong một xã hội công an trị, công an là trụ cột quyền lực. Công an tự hào là “Còn đảng còn mình”. Nhiệm vụ số 1 của công an không phải là bảo vệ người dân, mà là bảo vệ đảng.
Công an ở Việt Nam có mặt trong mọi tầng nấc của đời sống: khu phố, hộ khẩu, tạm trú, cư trú, giấy tờ, an ninh mạng, biểu tình, tôn giáo, báo chí, hoạt động xã hội, doanh nghiệp, khoa học, văn hoá. Người dân không chỉ sợ luật; họ sợ công an. Vì trong thực tế, nhiều khi công an chính là người giải thích luật, áp dụng luật, bẻ cong luật, hoặc bỏ qua luật tùy hoàn cảnh.
Hãy nhìn vào hệ thống quyền lực hiện nay. Rất nhiều nhân vật chóp bu xuất thân từ ngành công an hoặc có quan hệ chặt chẽ với hệ thống an ninh. Ông Tô Lâm là công an. Ông thủ tướng là con của công an. Ông nguyên thủ tướng Phạm Minh Chính là công an. Chánh án toà án tối cao Nguyễn Hoà Bình là công an. Ông Nguyễn Duy Ngọc là công an. Còn nhiều nhiều nhân vật cấp cao là công an. Ở cấp tỉnh và thành phố, nhiều lãnh đạo cũng xuất thân từ ngành công an.
Khi những người làm công an nắm các vị trí cao nhất trong bộ máy chính trị, tư pháp và hành pháp, thì xã hội sẽ ngày càng bị quản lý bằng tư duy an ninh. Mà tư duy an ninh thì luôn xem người dân là đối tượng cần kiểm soát, chứ không phải là công dân cần được phục vụ.
Trong mắt hệ thống công an, Việt kiều luôn là một nhóm đáng nghi. Bề ngoài, họ có thể cười nói, bắt tay, khen Việt kiều yêu nước, khen Việt kiều đóng góp ngoại tệ, khen Việt kiều đầu tư, khen Việt kiều về xây dựng quê hương. Nhưng phía sau nụ cười đó là một sự cảnh giác thường trực. Họ biết Việt kiều từng sống ở các nước tự do. Họ biết Việt kiều có thể có suy nghĩ khác. Họ biết Việt kiều có thể tiếp cận thông tin ngoài luồng. Vì vậy, trong con mắt an ninh, Việt kiều luôn có “tiềm năng phản động”.
Ngay cả những Việt kiều xu nịnh chế độ cũng chưa chắc được tôn trọng thật sự. Họ có thể được dùng làm hình ảnh tuyên truyền, được mời phát biểu, được đưa lên báo như bằng chứng rằng “kiều bào tin tưởng vào đường lối của Đảng”. Nhưng sau lưng, họ vẫn chỉ là công cụ. Một người từng sống trong xã hội tự do mà lại quay sang bênh vực cho một chế độ kiểm soát dân chúng thì rất dễ bị chính những người trong hệ thống khinh thường. Họ có thể dùng anh, nhưng chưa chắc họ nể anh.
Ở Việt Nam, bạn có thể sống vui nếu biết im lặng. Bạn có thể sống yên nếu biết cúi đầu chịu nhục.Bạn có thể sống thoải mái nếu đừng đụng đến chính trị. Nhưng đó không phải là tự do. Đó chỉ là sự bình yên có điều kiện trong một cái lồng được trang trí bằng đèn màu, quán xá và những lời tuyên truyền.
Sống ở Việt Nam, bạn phải hiểu rằng quyền riêng tư của bạn rất mong manh. Bạn có thể ở trong một căn hộ tưởng là riêng tư, nhưng công an khu vực vẫn có thể kiểm tra tạm trú, hỏi chủ nhà, hỏi bảo vệ, hỏi hàng xóm. Bạn có thể dùng internet, nhưng không gian mạng không hề tự do. Bạn có thể viết Facebook, nhưng phải tự cân nhắc từng chữ. Bạn có thể có tài khoản ngân hàng, nhưng đừng nghĩ rằng mọi thứ thuộc về bạn đều được bảo vệ như ở Mỹ. Bạn có thể nghĩ rằng mình tự do tung tăng đây đó, nhưng không biết rằng công an chìm theo dõi bạn từng bước. Tất cả những chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài về giúp Việt Nam đều bị công an theo dõi. Bạn có thể nghĩ mình là người bình thường, không làm gì sai, nhưng trong một chế độ công an trị, “sai” hay “đúng” nhiều khi không do luật pháp độc lập quyết định, mà do nhà cầm quyền muốn hiểu thế nào.
Ở Mỹ, quyền công dân không phải là món quà của chính phủ, mà là quyền được hiến pháp bảo vệ. Bạn có quyền tự do ngôn luận. Bạn có quyền chỉ trích chính quyền. Bạn có quyền biểu tình. Bạn có quyền im lặng. Bạn có quyền có luật sư. Bạn có quyền đòi hỏi lệnh tòa trong nhiều trường hợp khám xét. Bạn có quyền kiện chính phủ. Bạn có quyền tiếp cận báo chí độc lập. Bạn có quyền bỏ phiếu thay đổi lãnh đạo.
Ở Việt Nam, những quyền đó hoặc không có, hoặc chỉ tồn tại trên giấy, hoặc bị giới hạn bởi những khái niệm rất mơ hồ như “an ninh quốc gia”, “lợi ích nhà nước”, “trật tự xã hội”, “chống phá”, “tuyên truyền chống nhà nước”. Khi nhà nước có thể dùng những khái niệm mơ hồ để xử lý người dân, thì không ai thật sự an toàn. Hôm nay bạn im lặng thì có thể yên. Nhưng ngày mai, nếu bạn nói một câu không đúng ý họ, viết một bài không đúng ý họ, tham gia một nhóm không đúng ý họ, gặp một người không đúng ý họ, bạn có thể gặp rắc rối ngay.
Đó là lý do nhiều Việt kiều về Việt Nam sống nhưng luôn tự nhắc mình: đừng nói chính trị. Họ sống bằng hai bộ mặt. Một bộ mặt khi ở Mỹ: tự do, mạnh miệng, thích tranh luận, thích phê phán. Một bộ mặt khi ở Việt Nam: im lặng, dè dặt, né tránh, biết điều. Sự thay đổi đó tự nó đã nói lên rất nhiều về bản chất của môi trường chính trị Việt Nam.
Một đất nước thật sự tự do không làm cho người dân sợ nói. Một chính quyền thật sự chính danh không cần tuyên truyền khắp nơi để bắt dân tin. Một chế độ thật sự vì dân không cần công an trị để giữ dân trong vòng kiểm soát. Và một xã hội thật sự văn minh không biến im lặng thành điều kiện để được sống yên thân.
Việt kiều có thể về Việt Nam để ăn ngon, sống rẻ, vui chơi, gặp bạn bè, tận hưởng tuổi già. Nhưng đừng tự lừa dối mình rằng Việt Nam là một xã hội tự do. Đừng lầm sự náo nhiệt ngoài đường với tự do trong đời sống. Đừng lầm vài quán cà phê đẹp, vài khu chung cư cao cấp, vài trung tâm thương mại sáng đèn với một nền văn minh chính trị. Đằng sau vẻ ngoài sôi động đó vẫn là một hệ thống kiểm soát rất chặt, một bộ máy tuyên truyền rất mạnh, và một nhà nước luôn đặt quyền lực của Đảng lên trên quyền tự do của người dân.
Ở Việt Nam, bạn có thể sống vui nếu biết im lặng.
Bạn có thể sống yên nếu biết cúi đầu chịu nhục.
Bạn có thể sống thoải mái nếu đừng đụng đến chính trị.
Nhưng đó không phải là tự do. Đó chỉ là sự bình yên có điều kiện trong một cái lồng được trang trí bằng đèn màu, quán xá và những lời tuyên truyền.
10. Kết luận
Một đất nước chỉ thật sự đáng sống khi người dân được sống trong phẩm giá, tự do và lòng tin. Đối với những Việt kiều từng ra đi để tìm tự do, câu hỏi cuối cùng không phải là “Ở Việt Nam có đáng sống không?” Câu hỏi đúng hơn phải là “Ở Việt Nam, tôi có còn được là chính mình không?”
Vậy Việt Nam có đáng sống không?
Số liệu của Bộ Tư Pháp Việt Nam cho thấy từ 2020 đến 2024 có 116 người xin nhập tịch Việt Nam. Trong cùng thời gian, số người xin thôi quốc tịch Việt Nam là 22,859 người. Số người thôi quốc tịch cao gấp 197 lần số người xin nhập tịch.
Số liệu thống kê của Bộ Tư Pháp cũng cho biết rằng trong thời gian 2020–2024, mỗi năm có khoảng 90,000 người Việt ra nước ngoài định cư. Chi trong năm 2023, Mỹ đã cấp 36,000 thẻ xanh cho người sinh ở Việt Nam. Từ 2021–2025, mỗi năm Úc cấp cho 5,600–6,700 suất thường trú cho công dân Việt Nam. Một số người đi định cư ở Mỹ và Úc là những quan chức về hưu cấp thứ trưởng, vụ trưởng.
Riêng cá nhân tôi, để trả lời câu hỏi “Việt Nam có đáng sống không”, tôi sẽ nói là: còn tùy bạn muốn sống kiểu gì, và bạn định nghĩa “đáng sống” là gì.
Nếu đáng sống chỉ có nghĩa là ăn uống ngon, giá sinh hoạt tương đối rẻ, bạn bè đông, quán xá nhiều, dịch vụ tiện, người giúp việc dễ thuê, đi lại bằng Grab nhanh chóng, tối nào cũng có thể ra ngoài cà phê, ăn nhậu, gặp gỡ, thì Việt Nam quả thật là một nơi hấp dẫn. Với một người Việt kiều có lương hưu ổn định từ Mỹ, Úc, Canada hay châu Âu, không còn phải đi làm, không phải nuôi con nhỏ, không có bệnh nặng, không quá quan tâm đến chính trị, không đòi hỏi nhiều về môi trường sống và có thể nhắm mắt trước những bất công chung quanh, Việt Nam có thể là một nơi sống khá thoải mái.
Nhưng nếu đáng sống có nghĩa là được hít thở không khí sạch, uống nước an toàn, ăn thực phẩm đáng tin, đi lại trong một môi trường trật tự, được chăm sóc y tế tử tế khi bệnh nặng, được luật pháp bảo vệ, được chính quyền tôn trọng, được nói thật điều mình nghĩ, được sống mà không phải cúi đầu trước công an hay cán bộ, thì Việt Nam chưa phải là một nơi đáng sống.
Đó là sự khác biệt căn bản giữa “sống vui” và “sống an tâm”.
Dòng người xếp hàng phía ngoài Lãnh sự quán Mỹ TPHCM để chờ xin visa. Ở các toà lãnh sự Hàn Quốc cũng có quang cảnh tương tự. (Ảnh của Hộ chiếu nhanh)
Một người có thể vui ở Việt Nam trong vài tháng. Đi ăn sáng với bạn bè, uống cà phê vỉa hè, đi Đà Lạt, Nha Trang, Phú Quốc, về miền Tây, ra Hà Nội, lên Sapa, nhìn quê hương đổi mới, thấy phố xá đông vui, thấy người thân gần gũi, nghe tiếng Việt mỗi ngày – tất cả những điều đó có thể làm lòng người xa xứ xúc động. Tôi hiểu cảm giác ấy, vì tôi cũng từng có cảm giác đó.
Nhưng sống lâu dài là một chuyện khác. Sống lâu dài là phải đối diện với bệnh viện khi mình bệnh, với công an khi có giấy tờ, với cán bộ khi cần thủ tục, với hàng xóm khi có tranh chấp, với ô nhiễm khi ra đường, với tiếng ồn khi muốn ngủ, với thực phẩm khi muốn giữ sức khỏe, với luật pháp khi cần công lý, và với chính lương tâm mình khi phải im lặng trước những điều sai trái.
Khi còn khỏe, Việt Nam có thể rất vui. Khi bệnh nặng, Việt Nam có thể rất đáng sợ.
Khi còn là du khách, Việt Nam có thể rất hấp dẫn. Khi trở thành người sống lâu dài, Việt Nam có thể rất mệt mỏi.
Khi còn tiêu tiền, bạn có thể được chào đón. Khi cần quyền lợi, bạn mới thấy mình yếu thế.
Khi chỉ nói chuyện ăn uống, Việt Nam rất dễ thương. Khi nói đến tự do, công lý và nhân phẩm, Việt Nam trở nên rất khó sống.
Quan trọng hơn, hãy tự mình hỏi một câu: tôi có thể sống lâu dài ở một nơi mà tôi không dám nói thật điều mình nghĩ không?
Nhiều Việt kiều khi mới về Việt Nam thường lầm giữa kỷ niệm và thực tế. Họ nhớ một Việt Nam trong trí nhớ, nhưng trở về một Việt Nam đã khác. Họ nhớ Sài Gòn cũ, nhớ tình làng nghĩa xóm, nhớ tiếng rao, nhớ quán cà phê, nhớ bạn bè, nhớ cảm giác thuộc về một nơi nào đó. Nhưng quê hương không đứng yên để chờ mình. Con người thay đổi. Xã hội thay đổi. Giá trị thay đổi. Cái mình tìm đôi khi không còn ở đó nữa.
Tôi không phủ nhận Việt Nam có nhiều người tốt. Tôi đã gặp nhiều người tử tế, chân thành, hiền lành và đáng quý. Tôi không phủ nhận Việt Nam có nhiều điều đẹp: món ăn ngon, phong cảnh đẹp, con người chịu khó, đời sống năng động, tình cảm gia đình sâu đậm. Tôi cũng không phủ nhận rằng nhiều người trong nước đang cố gắng sống tử tế trong một môi trường rất khó khăn.
Nhưng một quốc gia đáng sống không thể chỉ dựa vào lòng tốt cá nhân. Một quốc gia đáng sống cần một hệ thống đáng tin. Người dân không thể chỉ trông chờ gặp được bác sĩ tốt, cán bộ tốt, công an tốt, người bán hàng tốt, tài xế tốt. Xã hội văn minh phải có luật lệ và cơ chế để ngay cả khi ta gặp người không tốt, quyền lợi của ta vẫn được bảo vệ. Đó mới là nền tảng của một đời sống an toàn.
Ở Việt Nam không thiếu những toà nhà cao tầng, xe sang, nhà hàng đẹp hay khu đô thị mới. Những thứ đó ngày nay không thiếu. Cái thiếu lớn nhất là lòng tin và nỗi sợ. Người dân không tin thực phẩm. Không tin nước uống. Không tin quảng cáo. Không tin bệnh viện. Không tin cán bộ. Không tin công an. Không tin tòa án. Không tin báo chí. Không tin những lời hứa. Người dân cũng sợ. Họ sợ chính quyền địa phương. Sợ công an. Sợ vào bệnh viện. Sợ thực phẩm bẩn. Và khi một xã hội mất lòng tin, khi con người phải sống trong nỗi lo sợ, sống như vậy rất mệt.
Tôi viết bài này không phải để khuyên Việt kiều đừng về Việt Nam sống. Tôi hoàn toàn không có ý đó. Mỗi người có hoàn cảnh riêng. Có người có gia đình ở Việt Nam. Có người có tài sản ở Việt Nam. Có người thích khí hậu nóng. Có người chịu được tiếng ồn. Có người không quan tâm chính trị. Có người chỉ cần ăn ngon, vui với bạn bè, có người chăm sóc là đủ. Với họ, Việt Nam có thể phù hợp.
Nhưng tôi muốn nói với những người đang mơ mộng rằng hãy tỉnh táo. Đừng quyết định hồi hương chỉ sau vài chuyến du lịch vui vẻ. Đừng bán nhà ở Mỹ, Úc, Canada hay châu Âu quá vội. Đừng nghĩ rằng vì mình nói tiếng Việt nên mình hiểu Việt Nam ngày nay. Đừng nghĩ rằng có tiền là giải quyết được hết. Đừng nghĩ rằng bệnh viện tư đẹp là y tế tốt. Đừng nghĩ rằng chung cư cao cấp là xã hội văn minh. Đừng nghĩ rằng quán xá sáng đèn là tự do. Đừng nghĩ rằng người ta cười với mình là người ta tôn trọng mình.
Nếu thật sự muốn về Việt Nam sống, hãy thử sống trước một thời gian dài. Hãy ở đó 6 tháng, một năm, không phải như khách du lịch mà như một người dân bình thường. Hãy tự làm giấy tờ. Hãy tự đi bệnh viện. Hãy tự thuê nhà. Hãy tự mua đồ ăn. Hãy tự giải quyết tranh chấp nhỏ. Hãy sống qua mùa nóng, mùa mưa, mùa ô nhiễm, mùa kẹt xe. Hãy xem mình có chịu nổi tiếng ồn, khói bụi, thủ tục, thái độ cửa quyền, sự thiếu minh bạch và cảm giác phải tự kiểm duyệt hay không.
Quan trọng hơn, hãy tự mình hỏi một câu: tôi có thể sống lâu dài ở một nơi mà tôi không dám nói thật điều mình nghĩ không?
Với tôi, câu trả lời là không.
Tôi có thể về Việt Nam thăm thân nhân. Tôi có thể đi du lịch. Tôi có thể ăn những món mình nhớ. Tôi có thể ngồi cà phê với bạn bè. Tôi có thể yêu những kỷ niệm của mình. Nhưng sống lâu dài thì không. Tôi không muốn những năm tháng cuối đời của mình phải sống trong nghi ngờ, phải né tránh, phải chịu đựng, phải im lặng trước cái sai, phải tự nhủ rằng “thôi, đừng nói”, “thôi, bỏ qua”, “thôi, ở đây là vậy”.
Một đời người đã trải qua đủ biến động. Khi về già, điều tôi cần không chỉ là một tô phở ngon hay một ly cà phê rẻ. Tôi cần sự an tâm. Tôi cần một hệ thống y tế có trách nhiệm. Tôi cần luật pháp có thể bảo vệ mình. Tôi cần quyền được nói. Tôi cần quyền được im lặng. Tôi cần quyền được sống mà không sợ một viên chức nhỏ có thể làm khổ mình. Tôi cần một xã hội nơi lòng tự trọng không trở thành gánh nặng.
Việt Nam là quê hương của tôi. Điều đó không thay đổi. Nhưng quê hương và nơi đáng sống không phải lúc nào cũng là một. Người ta có thể yêu một nơi mà vẫn không thể sống ở đó. Người ta có thể nhớ một đất nước mà vẫn phải nhìn nhận rằng đất nước ấy chưa cho ta cảm giác an toàn. Người ta có thể thương người dân Việt Nam mà vẫn phải phê phán hệ thống đang làm khổ họ. Yêu nước không có nghĩa là tự lừa dối mình. Yêu quê hương càng không có nghĩa là phải im lặng trước những điều sai trái.
Một đất nước chỉ thật sự đáng sống khi người dân được sống trong phẩm giá, tự do và lòng tin. Đối với những Việt kiều từng ra đi để tìm tự do, câu hỏi cuối cùng không phải là: “Ở Việt Nam có đáng sống không?” Câu hỏi đúng hơn phải là: “Ở Việt Nam, tôi có còn được là chính mình không?”
Việt Nam, sau 51 năm thống nhất, vẫn là một quốc gia cộng sản và công an trị. Việt Nam có tham vọng trở thành một quốc gia giàu. Việt Nam có thể xây thêm đường cao tốc, xây thêm cao ốc, mở thêm khu công nghiệp, thu hút thêm dòng vốn, và tạo ra một tầng lớp trung lưu mới. Nhưng vấn đề là Việt Nam có trở thành một nơi mà con người có thể sống ngay thẳng, tự do và không sợ hãi hay không. Người Việt ở nước ngoài không chỉ cần một quê hương để nhớ, để thăm, hay để gửi tiền về. Họ cần một quê hương nơi họ có thể trở về mà không phải đánh đổi lương tâm, nhân phẩm và quyền được là chính mình. Khi thể chế vẫn đặt sự kiểm soát lên trên tự do, đặt sự phục tùng lên trên sáng tạo, và đặt nỗi sợ lên trên lòng tin, thì Việt Nam khó có thể thu hút nhân tài trở về lâu dài, dù khát vọng làm giàu có được lặp lại bao nhiêu lần đi nữa.
Tôi rời Việt Nam không phải vì tôi ghét bỏ Việt Nam, mà vì tôi hiểu mình không thể sống tử tế với chính mình trong môi trường đó. Có thể đối với một số người, Việt Nam là nơi đáng sống. Nhưng đối với tôi, Việt Nam hiện nay là nơi đáng về thăm, đáng nhớ, đáng thương, đáng suy nghĩ, nhưng chưa phải là nơi tôi có thể sống phần đời còn lại.
Paul Trần
Bắt đầu viết: 5/10/2025
Viết xong: 29/4/2026
Cảm ơn: Tôi chân thành cảm ơn nhiều bạn trong và ngoài nước đã giúp tôi soạn bài viết này. Họ không muốn nêu tên. Tôi cảm ơn bác sĩ Thanh ở Bắc California đã giúp tôi có thông tin nhiều hơn về hệ thống đào tạo bác sĩ ở Việt Nam. Không có họ tôi không thể soạn được một bài viết dài như thế này. Xin đa tạ.
Theo https://thekymoi.media ngày 2/5/2026

Be the first to comment