Mưa Đỏ – Chất Độc Trong Từng Con Chữ

Kỳ 1: Cái khung “cố định cứng” của tiểu thuyết tuyên truyền

Tôi đang có trong tay bản scan tiểu thuyết Mưa Đỏ của tác giả Chu Lai, ấn bản Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân, phát hành năm 2022, và tôi đang cố gắng đọc nó dù lâu lắm rồi tôi không đọc những tiểu thuyết tuyên truyền cho chế độ cộng sản và vì mục đích nhồi sọ quần chúng được xuất bản ở Việt Nam. Tôi sẽ không phung phí thời gian để đọc cuốn sách tuyên truyền đã bị quá nhiều cựu chiến binh phía Bắc cộng chỉ trích là “không đúng sự thật” những gì họ biết, họ chứng kiến khi chính bản thân họ đã từng tham gia chiến đấu trong trận thành cổ Quảng Trị.

Tuy nhiên, tôi vẫn phải đọc nó khi mà nhà cầm quyền CSVN tuyên bố đem phim Mưa Đỏ (do chính Chu Lai viết kịch bản phim) sang Mỹ “tham dự vòng sơ tuyển hạng mục Phim quốc tế xuất sắc tại Oscar lần thứ 98 (2026).”

Trong phạm vi bài viết này, tôi không nhắc lại những chỉ trích về nội dung phim “sai sự thật” mà nhiều người đã nói/viết rồi. Tôi sẽ phân tích về ngôn ngữ của tiểu thuyết Mưa Đỏ, vì tôi cho rằng tác giả tiểu thuyết và tác giả kịch bản phim là một người (Chu Lai) thì ngôn ngữ nhân vật trên phim không khác với ngôn ngữ nhân vật tiểu thuyết.

Ở trang cuối Mưa Đỏ, tác giả ghi “Viết tại các nhà sáng tác: Nha Trang – Đà Lạt – Tam Đảo. Lập thu 2015.” Có nghĩa là cuốn Mưa Đỏ này Chu Lai hoàn thành vào đầu mùa thu năm 2015, cách đây chẵn 10 năm, nhưng không hề gây tiếng vang trong giới đọc sách. Chỉ tới khi được “nhà nước ta” bỏ tiền tỷ tỷ ra đầu tư, giao hẳn cho xưởng phim Quân Đội làm, do chính “lãnh đạo trên cao” tuyển diễn viên (theo lời kể của một diễn viên). Phim ra rạp thì được ưu tiên chiếu vào những giờ thuận lợi đông khách. Trường học, công ty quản lý chợ thì lùa học sinh, sinh viên, tiểu thương phải mua vé coi. Các chủ công ty “được vận động” bỏ ra ít nhứt 30 triệu/mua vé cho cán bộ hưu trí, cựu chiến binh đi coi… Nói chung là tất cả những ai bị phụ thuộc vào quyền lực hành chánh nhà nước đều phải đi coi phim. Nên không có gì lạ khi doanh thu phim nhanh chóng vượt mặt những phim khác. Con số doanh thu được “nống lên” bằng quyền lực nhà nước đó là cái cớ (điều kiện) để đưa phim tranh giải Oscar 2026.

Ngoài làm phim bằng ngân sách nhà nước, tiểu thuyết Mưa Đỏ cũng tràn ngập trên mạng internet mà tác giả không cần “bảo vệ bản quyền”. Tháng trước tôi thấy đưa cả lên Amazon, nhưng hôm nay tôi kiểm tra lại thấy đã giựt sách xuống rồi. Nhạc phim Mưa Đỏ là thứ không cần phải có kho chứa hàng tại Mỹ (như sách) nên vẫn còn.

Chỗ này tôi phải giải thích rõ cho quý độc giả ở Hoa Kỳ hiểu rõ cụm từ “trại sáng tác”, “trại viết” trong chế độ cộng sản ở Việt Nam. Đó là hàng năm “nhà nước ta” cấp kinh phí cho Hội Nhà Văn để dẫn một số “nhà văn, nhà thơ” hội viên thuộc thành phần “tay chân hạ bộ” (tôi dùng chữ “hạ bộ”) tới một địa điểm du lịch nào đó vui chơi thăm thú bằng tiền ngân sách khoảng từ 1 tới 3 tháng. Sau đó, “nhà văn, nhà thơ” phải có “tác phẩm đỏ” để nộp cho ban tổ chức. Tất nhiên những ai được “đi trại viết” đã biết trước từ lâu, và đã viết một số linh ta linh tinh gì đó sẵn để đem theo, chớ có ai “đi trại viết” mà cứ ngồi lì trong phòng để viết bao giờ. Cuốn Mưa Đỏ này Chu Lai ghi ông đã đi tới ba “trại viết” chứng tỏ cuốn sách được viết khoảng năm 2010. Tuy nhiên, có nhiều tình tiết người ta dễ dàng kiểm chứng bằng công cụ Google, nhưng tác giả cố tình “sai”“sai” thì mới đúng “định hướng” nhằm mục đích tuyên truyền của “đảng ta”.

Người xưa có câu, “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng”, nghĩa là phải hiểu người hiểu ta tường tận thì mới biết ưu, nhược điểm hai bên thế nào, từ đó lấy sở trường của ta mà đánh sở đoản của đối phương mới thắng được địch. Nếu không nghiên cứu về đối phương, đánh khơi khơi trúng đâu thì trúng, không trúng thì thôi, phần thua chắc chắn là phía mình. Thời học phổ thông, tôi đã đọc rất nhiều tiểu thuyết ca ngợi “công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa thần thánh” ở miền Bắc Việt Nam, hoặc tiểu thuyết “chống Mỹ cứu nước”, cho tới ngày nay tôi thấy mấy cuốn tiểu thuyết đó chúng không hoàn toàn vô ích. Bỏ qua những đoạn giáo điều hô khẩu hiệu và nói láo thì cũng còn những cái rất thật.

– Thí dụ 1, cuốn tiểu thuyết Bão Biển của Chu Văn cho người đọc thấy dân miền Bắc làm ruộng theo kiểu hợp tác xã, đói tới mức gặt xong chia ngay lúa tươi cho xã viên mỗi người vài ký lô lúa mới gặt, đem về cho vô cối đá giã rồi lọc lấy nước bột khuấy chung với hành lá, cho thêm chút muối, nấu thành cháo rồi húp đỡ đói. Trong khi đó, dân miền Nam sống dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa kinh tế phồn thịnh, xã hội bình an đến mức Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng mơ ước Singapore của ông được như Sài Gòn.

– Thí dụ 2, cuốn tiểu thuyết Dưới Đám Mây Màu Cánh Vạc của tác giả Thu Bồn cho người đọc thấy “kách mệnh ta” rất sợ ấp chiến lược và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ấp chiến lược tồn tại thêm 2 năm nữa thì “kách mệnh ta” chết ngắt hết dưới hầm trú ẩn. Trung ương “đảng ta” ở Bắc kỳ chỉ đạo cấp dưới bằng mọi giá phải “phá ấp chiến lược” “tiêu diệt anh em nhà họ Ngô”. Điều này thì ông Thu Bồn không nói ngoa, trong sách giáo khoa lịch sử lớp 9 và Nghị quyết Trung ương 4 của “đảng ta” ở Bắc kỳ đưa vô Nam cũng nhấn mạnh miền Nam phải bằng mọi giá thực hiện mục tiêu hàng đầu là “phá ấp chiến lược” “tiêu diệt Ngô Đình Diệm.”

Lúc nhỏ 15-16 tuổi, tôi cũng đã từng đọc tiểu thuyết Nắng Đồng Bằng của Chu Lai. Nhân vật chính của tiểu thuyết là anh bộ đội tên Linh. Từ đầu tới cuối cuốn tiểu thuyết mô tả cách sống “tự sinh tự diệt” của bộ đội Bắc Việt, “đói vàng cả mắt”, “rét run cầm cập” vì sốt rét, có được viên thuốc ký-ninh (quinine) chữa sốt rét thì quý hơn cả tánh mạng, đào được cái củ mài, hái được nắm rau rừng đem nấu cháo với nắm gạo để húp thì mừng như cha mẹ chết đi sống lại. Còn anh bộ đội hễ có thời gian rảnh là mơ tưởng ngày “tiến về đồng bằng” trong cái nắng chan chứa mùi thức ăn ngon lành: “…Đã thấy gió từ sông Sài Gòn phả nhẹ vào mặt. Gió mang theo cái vị nồng nồng tanh tanh của dòng sông lắm tôm nhiều cá…”

Truyện nhằm ca ngợi “bộ đội cụ Hồ” dù gian khổ đói khát vẫn luôn luôn tin tưởng vào “đường lối lãnh đạo sáng suốt của đảng và bác Hồ vĩ đại.”

Tiểu thuyết Mưa Đỏ của Chu Lai cũng không nằm ngoài cái khung “định hướng cứng” của Nắng Đồng Bằng, khác ở chỗ là câu chuyện không còn trong rừng già Trường Sơn mà đã được Chu Lai rinh vô tận thành cổ Quảng Trị và gắn thêm nhiều chi tiết phi lý cùng với lối dùng câu chữ độc hại.

Ép mình vô cái khung định hướng “Mỹ-ngụy là xấu xa, đáng ghét” nên ngay từ đầu Chu Lai đã cố gắng dùng mọi cách để chửi xa chửi gần vô bằng cớ một cách ngoa ngoắt không khác gì “bà nông dân Bắc kỳ mất gà” mà chúng ta vẫn thường xem trên chiếu hề chèo dân gian.

Và vì phục vụ công việc nói- xấu- vô- bằng- cớ, Chu Lai đã không tiếc tuôn ra hàng đống ngôn từ ám chỉ, hằn học, bôi nhọ gắn vô miệng nhân vật, mà ta gọi là ngôn từ độc hại.

* * *

Kỳ 2: Ngôn từ độc chất

Từ điển Hán–Việt định nghĩa chữ văn có 16 nghĩa và 18 cách viết, nghĩa thông dụng nhứt của chữ văn là đẹp đẽ, hòa nhã, ôn nhu, lễ độ. Người xưa coi từng chữ, từng chữ đều là do thánh hiền sáng tạo ra, mỗi chữ đều mang một ý nghĩa sâu xa, đẹp đẽ, nên mới có câu “Chữ nghĩa Thánh hiền”. Nhiều chữ gộp lại thành câu, gọi là câu văn, nhiều câu gộp lại thành bài, gọi là bài văn. Lẽ ra, khi viết ra câu nào, tác giả cần tôn trọng câu ấy, không viết bừa bãi, phải viết đúng sự thật, bởi vì tôn trọng câu văn của mình là tôn trọng chính mình.

Tuy nhiên, ngay từ những trang đầu của tiểu thuyết, tác giả Chu Lai cố gồng lên viết những câu cố tình bóng bẩy, như vì nó không bóng lên được, thành ra khó hiểu. Nhân vật nam chính của phe đỏ là Cường, sinh viên năm thứ tư Nhạc viện Hà Nội, vừa giã từ Hà Nội bước qua Chương 2 của tiểu thuyết thì phải “qua sông” để rơi ngay vào chiến trường Quảng Trị, chiến đấu liên miên, viết vội cho người mẹ ở Hà Nội được hai lá thư và hy sinh, không hề có chi tiết Cường sáng tác nhạc ở chiến trường. Không hiểu sao trong Phần mở đầu (Chương 1) Chu Lai viết: “Bản giao hưởng hợp xướng mà các quý vị được nghe phần một vừa rồi là tác phẩm đầu tay nhưng cũng là tác phẩm cuối cùng của một nhạc sĩ tài hoa. Bởi vì trước, trong và sau bản nhạc này, anh đã chiến đấu và ngã xuống như một người lính dũng cảm trên chiến trường Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Bản nhạc này anh viết tặng mẹ…” Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, hoàn toàn không hiểu câu “trước, trong và sau bản nhạc này, anh đã chiến đấu và ngã xuống…”???

Nếu tìm hiểu lịch sử tôn giáo thế giới, chúng ta biết rằng chỉ có Công giáo mới có các “hiệp sĩ”, nổi tiếng nhứt là Hiệp Sĩ Dòng Đền (Knights Templar), Hiệp Sĩ Cứu Tế (Knights Hospitaller), Hiệp Sĩ Dòng Teuton (Teutonic Knights). Những hiệp sĩ này đã tham gia “Thánh chiến” để bảo vệ người hành hương tới đất thánh Jerusalem (bị người Hồi chiếm đóng). Hiệp sĩ thánh chiến được người châu Âu thời ấy tôn vinh vì lòng dũng cảm, sự trung thành và kỹ năng chiến đấu. Chu Lai so sánh nhân vật Cường “như một hiệp sĩ thánh chiến sẵn sàng lấy máu của mình để bảo vệ cho cái đẹp đang… ấy ở dưới kia” là một kiểu ăn nói xách mé, bẩn bựa với văn hóa truyền thống Công giáo, nhưng Chu Lai không dám công khai nói thẳng.

Sự hằn học với người miền Nam của Chu Lai khiến ngôn ngữ ông ta trở nên bệnh hoạn khi ông ta khẳng định “con người Huế có thêm sự cực đoan, hà khắc”. Không hiểu trong đời Chu Lai đã gặp, đã tiếp xúc, đã sống gần gũi với bao nhiêu người xứ Huế mà ông dám khẳng định họ “cực đoan”, họ “hà khắc”? Tôi không có nhiều bạn bè, nhưng tôi quen biết được vài người bạn gốc Huế thì tôi nhận thấy họ đều là người tốt tánh, cởi mở, suy nghĩ sâu sắc, thường giúp đỡ người hoạn nạn.

Tác giả Chu Lai

Nếu tiếng Anh đại từ nhân xưng ngôi thứ ba chỉ đơn giản là she/her, he/him, they/them, it, thì đại từ nhân xưng ngôi thứ ba trong tiếng Việt cực kỳ phong phú và phân biệt rõ ràng. Cũng đồng là ngôi thứ ba nhưng nếu người viết dùng chữ anh ta/ông ta/hắn/y, cô ta/bà ta/cô ả/ ả/y thị/mụ, nó, chúng nó/bọn nó/tụi nó… thì ngay từ đầu người đọc sẽ có cảm giác đó là người xấu.

Cái tên Quang, sĩ quan binh chủng dù VNCH, mới xuất hiện ở dòng đầu tiên với đại từ nhân xưng “anh ta”, đã được Chu Lai “dán nhãn” định hướng cho độc giả/khán giả Quang là người xấu trong bản chất. Ở Chương 2, tác giả không nói rõ gia đình thân sinh Quang là tín hữu Công giáo, nhưng qua mô tả cử chỉ luôn đeo chuỗi tràng hạt trên cổ, đưa tay lần tràng hạt của bà mẹ Quang, đã ngầm khẳng định đây là một gia đình có đạo Công giáo. Có ý kiến cho rằng người Phật tử cũng dùng tràng hạt. Tuy nhiên, tràng hạt đeo cổ của Phật tử là để tụng kinh và đếm kinh khi tụng. Người Công giáo đeo tràng hạt trên cổ không nhất thiết chỉ duy nhất để đọc kinh, sờ tràng hạt để nhớ bản thân mình là một tín hữu Công giáo, phải cư xử đúng mực theo lời Chúa dạy. Nhân vật Quang được Chu Lai cho sinh ra trong một gia đình quyền quý, sang trọng và có đạo, nhưng Chu Lai đã “mượn mồm” Quang chửi ko chừa một ai, từ “đám tướng lĩnh xôi thịt”, “mục ruỗng”, “khinh khi”, “nô lệ”, “sặc sụa mùi con buôn”, “hèn”, “lì lợm”, các cô gái miền Nam thì “xộc xệch”, “bốc mùi”, “xiêm y tất thảy các cô gái khác cứ mặc nhiên bị tuột ra”, người Mỹ thì “ngạo mạn”, xã hội miền Nam thì “tanh như mùi cá ươn”. Nhưng đồng thời, Chu Lai cũng mượn mồm Quang ca tụng phe cộng sản là “thế giới phải kiêng dè, hãi sợ”.

Mô tả về một cuộc họp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cấp dưới thì Chu Lai đều viết trỏng là “Thiệu,” trong cuộc họp thì Chu Lai cho các nhân vật tướng lãnh VNCH luôn rống lên thua trận khi đánh nhau với Bắc cộng là “nhục nhã.” Đọc tới đây tôi thấy cách viết của Chu Lai giống y như đội quân “bò đỏ 5 củ” của Ban tuyên giáo CSVN hiện nay. Chúng cứ nhảy xổ vô trang Facebook tôi mà comments lặp đi lặp lại hàng ngàn lần chữ “thua trận”, “thất bại” cứ như chính tôi là chỉ huy của cái trận thua nào đó.

Tôi đặt câu hỏi cho AI Google về những câu nói mà Chu Lai đã gán cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, AI nó trả lời rằng “Không có bằng chứng xác thực nào cho thấy Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói câu này. Câu nói được trích dẫn có vẻ như là một quan niệm sai lầm hoặc một sự diễn giải lại từ các diễn ngôn khác (tức là của người khác.) Nguồn gốc không rõ ràng: Câu nói này thường được nhắc đến nhưng không có nguồn chính thức hoặc ghi chép nào từ chính quyền Sài Gòn xác nhận nó là của ông Thiệu.”

Thì ra là vậy, một nhân vật lịch sử có thật như ông Thiệu mà Chu Lai còn dám “nhét chữ vào mồm” cho ông Thiệu nói những câu nhảm nhí, thì nhân vật không có thật như Quang hà cớ gì Chu Lai lại không dám biến Quang thành cậu thanh niên con nhà quyền quý có học hành tử tế nhưng hành xử lưu manh và mất dạy.

Có vẻ như Chu Lai rất mê bạo lực, máu me. Tả cảnh ăn uống của bộ đội phe đỏ trong rừng nhưng Chu Lai cũng tưởng tượng ra “con thú trở nên trắng nhễ nhại như một hình nhân bé nhỏ bị tùng xẻo”.

Toàn bộ tiểu thuyết Mưa Đỏ hơn 100 ngàn chữ, nếu không phải là những câu Chu Lai cố gồng chữ nghĩa lên ca tụng “phe ta” thì hầu như đều được tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ hằn học, độc địa, xấu xí mà tôi đã thượng dẫn.

Trong phạm vi một bài báo, tôi chỉ dẫn chứng bấy nhiêu cho quý độc giả “cỡi ngựa xem hoa”. Mới có 4 chương đầu tiên đã thấy ngôn từ dị hợm rồi, nếu liệt kê hết ra đây e rằng tôi cần phải viết một cuốn sách khoảng 100 ngàn chữ (bao gồm dẫn chứng và phân tích chữ) mới có thể lột tả hết từng loại “độc từ”.

Nếu xem những điều Chu Lai viết là bình thường, vô tình người đọc sách sẽ tự lừa chính mình với suy nghĩ gái miền Nam ai cũng làm đĩ, con nhà theo đạo Công giáo thì hỗn láo chửi cha, khinh mẹ, chơi bời gái gú để thỏa mãn bản năng. Cấp dưới thì khinh thường cấp trên, quan chức Mỹ thì khinh thường người Việt. Đó chính là thứ nọc độc mà Chu Lai đã “nhét chữ vào mồm” nhân vật để lừa độc giả/khán giả.

* * *

Kỳ 3: Đống hỗn độn tình tiết dối trá và mâu thuẫn

Phim vừa ra rạp, dân chúng Việt Nam xôn xao bởi tình tiết quân VNCH “thiêu sống” tù binh Bắc cộng. Chuyện lạ quá, nhà nước CSVN luôn tìm mọi cách bịa ra “tội ác” của đối phương, mà vụ “thiêu sống” này còn “hay” hơn vụ dựng tượng tù binh bị tra tấn thảm khốc (bịa ra) trưng bày ở Côn Đảo, vậy mà 50 năm qua nhà nước CSVN lại không hề “phơi bày tội ác Mỹ-ngụy”? Lập tức, có ông cựu chiến binh CSVN lên tiếng nói ông là người trực tiếp chiến đấu thời đó, không có vụ “thiêu sống”, trận chiến xảy ra ở khu vực xung quanh thành cổ chớ không phải bên trong lòng thành cổ như phim/tiểu thuyết mô tả. Lập tức, trang Facebook cá nhân của ông cựu chiến binh này bị tấn công, mạ lỵ rất vô học, đội quân bò đỏ còn kéo tới tận nhà ông đe dọa khiến cuộc sống ông bị ảnh hưởng, ông phải khóa trang Facebook.

Trả lời phỏng vấn của báo Dân Việt về tính xác thực của chi tiết “thiêu sống” trong Mưa Đỏ, Chu Lai nói: “Tôi không có câu trả lời cho vấn đề này. Muốn tìm ra sự thật phải có một hội thảo công phu”. Câu trả lời né tránh và đòi “hội thảo” của Chu Lai cho thấy ông thừa nhận rằng tình tiết đó do ông bịa ra, từ khi viết cuốn tiểu thuyết cho tới ngày trả lời phỏng vấn thì ông không có trong tay bất cứ bằng cớ nào.

Lúc đó, tôi nửa đùa nửa thật đăng trên Facebook rằng “Mọi người đừng lo, vài hôm nữa sẽ có vài “nhưn trứng” (nhân chứng) xuất hiện tại “hội thảo” để “làm trứng” cho coi”. Y chang như vậy, tôi phục tài “tiên tri” như thần thánh của tôi quá, thiệt tôi không biết để tôi vô đâu ngồi cho tôi lạy.

Ngoài chi tiết “thiêu sống” (bịa đặt) đó thì có rất nhiều tình tiết mà Chu Lai viết bừa, viết bịa để tâng bốc “thiên đường xã hội chủ nghĩa miền Bắc” và hạ bệ đời sống xã hội của dân miền Nam một cách trái sự thật.

Dân chúng sống ở Việt Nam ai đã từng trải qua “thời kỳ quá độ trước khi tiến lên xã hội chủ nghĩa” (mà dân gọi là “thời kỳ quá khổ”, “thời bao cấp”, cho tới đầu thập niên 90 thế kỷ 20 mới chấm dứt vì được tự làm chủ kinh tế tư nhân) đều biết rằng không một ai được phép làm chủ bất cứ tổ chức nào, cho dù tụm năm tụm ba nói chuyện phiếm cũng bị nghi ngờ “làm quốc sự chống nhà nước”, bị học tập cải tạo tư tưởng đến khốn khổ. Phần 1 tôi đã kể, thời học sinh tôi đã đọc rất nhiều sách “ca ngợi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc”, tuyệt nhiên không có tác phẩm nào đề cập tới việc đầu thập niên 70 mà ở Hà Nội lại có những võ đường Vovinam hoặc lò Quyền Anh (boxing) tư nhân, đây là Chu Lai đã bịa đặt quá xa thực tế nhằm ca ngợi “sự phồn vinh giả tạo” của Hà Nội lúc bấy giờ. Chu Lai còn “cho” các võ sinh “thân thể họ bay lên, sà xuống” tạo ra tiếng gió, một cú đá quét ngã một lúc bốn võ sinh khác, giống y như phim kiếm hiệp Kim Dung. Nếu đọc truyện Kim Dung quý vị sẽ thấy các nhân vật của Kim Dung tiên sinh chỉ là trí tưởng tượng mà thôi, võ công thực chiến không đánh được như vậy, nên Kim Dung chỉ lấy bối cảnh truyện của ông thời xưa xửa xừa xưa không ai đối chứng được. Chu Lai bắt chước Kim Dung, lại cả gan lấy bối cảnh thời hiện đại, nên bị độc giả/khán giả “nắm thóp” Chu Lai nói tào lao.

Kim Dung tiên sinh cũng có biệt tài đặt tên cho các chiêu thức võ công của ông rất là hay, thí dụ như Giáng Long Thập Bát chưởng, Đẩu Chuyển Tinh Di, Hấp Tinh Đại Pháp … Chu Lai cũng bắt chước Kim Dung nhưng bắt chước chưa tới, lại có vẻ không rành chữ Nho nên đặt tên chiêu thức vô cùng mâu thuẫn. “Bài quyền mang sắc thái trượng phu ly biệt này sẽ còn đi hết phần cao trào nếu như con mắt sáng rực của Cường không vấp phải một con mắt khác vừa xuất hiện ngoài cửa. Con mắt của một cô gái đẹp…” Đọc câu này tôi mắc cười cụm từ “trượng phu ly biệt” quá. Trượng phu ly biệt là “Nhủ rồi nhủ lại cầm tay, Bước đi một bước dây dây lại dừng” (Chinh Phụ Ngâm), đánh đấm kiểu không dứt khoát này chưa đánh đã nắm phần thua rồi mà Chu Lai ca ngợi quá xá. Còn chữ “con mắt” (thay vì phải là “đôi mắt”) được lặp lại ba lần khiến tôi nghĩ rằng Cường và “cô gái đẹp” cả hai người đều bị chột hết một mắt, hoặc họ giống như các nhân vật Cyclops trong thần thoại Hy Lạp với một mắt duy nhất nằm giữa trán?

Cũng thời bao cấp, miền Bắc không có “chị bán hàng” mà chỉ có “cô mậu dịch viên” ông Chu Lai à. Nam chính Đặng Cường của Chu Lai sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng hành xử như người từ cung trăng mới rơi xuống mặt đất, Cường không biết rằng muốn ăn “phở mậu dịch” (không bán mì) thì phải mua phiếu ăn trả tiền trước, làm gì có chuyện được phục vụ ăn rồi trả tiền sau như các tiệm mì Tàu ở miền Nam. Cường lại hỏi một câu ngô nghê: “Đây gọi là tô mì không người lái hả em?” Chu Lai sớm “quên” Hà Nội thời bao cấp quá. Hà Nội không có “mì không người lái”, chỉ có “phở không người lái”, tức là trong tô chỉ có bánh phở và nước lõng bõng, không có miếng thịt nào, một thứ “kỷ niệm” ám ảnh thời đói khổ mà dân Hà Nội thời đó khó quên được. Riêng chi tiết “Cường lại hồn nhiên húp sùm sụp vèo cái là hết” đặc trưng cho người “Hà Nội mới” mà tôi vẫn thường đọc thấy trên các báo nhà nước VN hiện nay khi “bốc thơm quá đà” cho món phở mà họ gọi là “quốc hồn quốc túy Việt Nam”. Người Nam kỳ không có thói quen “húp sùm sụp” bất cứ món ăn nào, cho dù đó là cao lương mỹ vị.

Kế tiếp, Chu Lai viết “Hình cha tóc bạc, hình anh trai tóc còn đen nhức, cả hai đều có một cái nhìn giống nhau, rắn rỏi, yêu thương xuống nhân quần. Cha mất trên giường bệnh, còn người anh hy sinh không tìm thấy thi thể ở vùng đất phía nam ngay từ những ngày đầu đánh Mỹ.” Chu Lai không nói rõ bố Cường làm công việc gì, chỉ biết ông qua đời vì bạo bệnh ở Hà Nội. Theo lý mà suy, bố Cường có thể làm bất cứ nghề “thượng vàng hạ cám” nào chớ chẳng phải là nhân vật “đỉnh đỉnh đại danh”. Anh trai Cường là một liệt sĩ, tức hy sinh khi chiến đấu, thì cũng bình thường như hàng vạn liệt sĩ khác đã bỏ mình trong chiến đấu khi quân Bắc cộng tấn công vào Nam, mà Chu Lai cho hai bố con nhà này “cả hai đều có một cái nhìn giống nhau, rắn rỏi, yêu thương xuống nhân quần” vị trí từ trên cao nhìn xuống như Chúa, như Phật, thiệt là tôi mắc cười quá trời luôn.

Bà mẹ Cường, được Chu Lai gán cho vai trò cán bộ nhà nước Bắc cộng cao cấp, dẫn đầu đoàn đàm phán đi Paris, nhưng lại không có lấy một thư ký, một giúp việc để nấu ăn, không có đồng nghiệp, sống cô đơn, phải phụ thuộc vào cô bạn gái của Cường, thật kỳ lạ. Bà mẹ đứng trước bàn thờ khấn rằng: “Ông ơi… thế là mai con nó đi rồi. Tôi không làm sao giữ được nó, chả ai giữ được nó mặc dầu có ông ở trên bàn thờ liệt sĩ kia rồi, lại là con một nó đâu phải đi.” Bàn thờ liệt sĩ đâu phải là chồng bà, mà là con trai cả của bà. Theo quy định thì anh trai Cường là liệt sĩ thì Cường không bị bắt buộc đi nghĩa vụ quân sự. Đầu óc bà mẹ lẩm cẩm như vậy, không hiểu sao bà lại đảm nhận được vai trò dẫn đoàn đàm phán “đấu trí” với “bọn Mỹ” được?

* * *

Kỳ 4: Đống hỗn độn tình tiết dối trá và mâu thuẫn

Chi tiết buồn cười hơn là Chu Lai cho Cường dùng chữ “supporter” khi nói chuyện với mẹ, trong khi thời ấy học sinh miền Bắc không được học tiếng Anh, tiếng Pháp, mà học tiếng Nga, tiếng Trung Quốc. Riêng giới “hột giống đỏ” được “cơ cấu” vô Học viện Ngoại Giao mới được tiếp xúc với thứ “ngôn ngữ thù địch” Anh, Pháp thôi. Việc cho phép học Anh, Pháp đại trà cả nước chỉ phổ biến từ khi Việt Nam được đế quốc Mỹ bỏ cấm vận. Tôi nghĩ rằng Chu Lai cố gán cho Cường tính chất một sinh viên học hành giỏi giang, bèn “nhét chữ vào mồm” Cường những câu nói nửa Tây nửa ta kiểu lớp choi choi ngày nay.

Trở qua nhân vật mẹ Quang, phu nhân sang trọng, vợ một sĩ quan cao cấp VNCH, lại có hiểu biết rất là ngô nghê: “Nhưng ba con nói đó là chiến trường khốc liệt nhất trên cả bốn vùng chiến thuật, thường chỉ dành cho lính cảm tử và những kẻ lao công đào binh bị đày ra đó để thí thân.” Hây dzà, lớp hậu sanh như tôi đây mà còn biết lao công đào binh là những người lính đào ngũ, bị bắt đưa ra tòa án binh xét xử, sau khi thụ án thì đưa ra dọn dẹp chiến trường. Nghĩa là khi trận chiến đã tàn, lao công đào binh được đưa ra làm vệ sinh, thu dọn xác chết của bên địch bị bỏ lại (trên vùng đất thuộc quyền chính phủ VNCH) đem chôn cất. Lao công đào binh không có vũ khí. Quân đội VNCH không giao vũ khí cho những người lính đào ngũ không muốn chiến đấu, lao công đào binh không bị mối nguy hiểm nào đe dọa tánh mạng thì làm gì có “thí thân.”

Nhân vật Quang, được Chu Lai “gắn lon” thiếu úy dù, được học hành đào tạo chính quy, nhưng Quang lặp đi lặp lại mấy câu rất là “dốt nát”: “Trong con có thể có cả chất cảm tử lẫn chất đào binh nhưng chắc chắn con không phải là một thằng có chất hèn.” “Để gặp lại được em, con sẵn sàng tụt xuống binh nhất hay đi lao công đào binh cũng được.” Ô hô! Không “hèn” mà có chất “đào binh”? Một quân nhân bị kỷ luật giáng cấp nhiều như vậy vì “cô gái phía bên kia” thì làm sao có quyền ở lại đơn vị cũ, chiến trường cũ mà gặp? Lao công đào binh không phải là người tự do, họ vẫn phải sống tập trung trong đơn vị, chờ lịnh cấp trên điều đi dọn dẹp tàn cuộc ở khắp mọi nơi.

Quang xuất thân quyền quý, gia đình gia giáo, có đạo Công giáo, đã có gia đình hai bên đính ước hôn nhân (qua câu “dễ bề ăn nói với hai bên gia đình đã nặng lòng thề ước”) nhưng lại là người sống hoang đàng, luôn luôn vi phạm điều răn Thứ Sáu “Chớ làm sự dâm dục,” khi Chu Lai cho bà mẹ Quang nói “Đây là cô thứ mấy con ruồng bỏ?” Chu Lai không hiểu gì về đạo Công giáo nhưng vẫn cố ý bịa ra để bôi nhọ đạo Công giáo. Tôi đi lễ Chúa Nhật ở nhà thờ, nhìn thấy những thanh niên cao to khỏe mạnh, những người đàn ông lực lưỡng cường tráng cùng gia đình họ đứng khoanh hai tay trước ngực đọc kinh một cách thành kính, nghiêm trang, nhu mì. Sanh ra trong gia đình có đạo, dù không phải nam nhân nào cũng hoàn hảo, nhưng một khi họ biết kính sợ Chúa thì họ không đến nỗi vô đạo đức hoàn toàn, không đắm chìm trong sắc dục và mở miệng ra nói những câu “mục hạ vô nhân” như Quang của Chu Lai.

Chu Lai cũng thể hiện trình độ tiếng Anh qua câu “thiếu nữ đẹp chói chang như bước ra từ những tờ Program Cinema Hồng Kông.” Viết đúng phải là Hong Kong Cinema Program, còn không rành tiếng Anh thì cứ viết nôm na như cánh bình dân vẫn nói là “Tờ chương trình phim Hồng Kông” thì đâu ai biết mình dốt tiếng Anh, ông Chu Lai nhỉ?

Chu Lai cũng không rành về các binh chủng của thể chế VNCH nên đã viết “Thiếu úy Quang đi đến bên mẹ, ôm khẽ lấy bờ vai mảnh dẻ của mẹ để yên một lát rồi vội chụp chiếc mũ dù nâu lên đầu.” Đã binh chủng dù mà “mũ nâu” thì sai bét rồi. Dân Nam kỳ biết rõ “Binh chủng mũ nâu,” phù hiệu Đầu Báo Đen nhe răng là của Biệt Động Quân QLVNCH, chiếc mũ màu nâu tượng trưng cho sự quyết tử. Quang quả là một “thiếu úy dù” kỳ dị khi lấy nón nâu của Biệt Động Quân đội lên đầu mình, mà không đội mũ đỏ? Lẽ ra trước khi viết câu này ông Chu Lai nên tra Google, viết văn là phải cẩn trọng từng chữ ông Chu Lai ạ. Thời nay độc giả/khán giả dễ dàng phát hiện ông “làm ăn cẩu thả” ngay lập tức.

Chu Lai cố tình mượn nhân vật Quang để miệt thị các binh chủng QL VNCH “đánh ê a kiểu bà giá thèm chồng.” “Bà giá” (góa) thì không có quyền lấy chồng khác sao? “Thèm chồng” cũng là nguyện vọng tìm hạnh phúc cá nhân chính đáng, vừa không phạm pháp vừa hợp đạo lý. Ai cho phép Chu Lai khinh thường những phụ nữ không may mắn trong hôn nhân? Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi cầu mong sao Bắc cộng Chu Lai “đụng trận” với tiểu đội của Mũ Nâu Trần Thy Vân cho Chu Lai được bài học nhớ tới tận vài kiếp sau, nếu may mắn Chu Lai còn sống sót.

Chu Lai còn cho “thiếu úy Quang” bỗng nhiên nhảy phắt sang chỉ huy “đại đội Hắc Báo” và tay thiếu úy (có vẻ như mắc bịnh thần kinh) khi đứng trước hàng quân oang oang nói những câu ca tụng binh chủng khác, hoàn toàn không liên quan gì tới đại đội do Quang chỉ huy “Phong độ lính dù là gì? Là tốc chiến tốc thắng, là can tràng, quyết liệt…” Lại một lần nữa cho thấy Chu Lai viết cẩu thả, viết lấy có mà không hề tìm hiểu về lịch sử. Để chỉ huy một đại đội trong QLVNCH thì cấp bậc người chỉ huy ít nhứt phải là Đại úy, không phải Thiếu úy như Chu Lai viết.

Qua đoạn Chu Lai mô tả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bằng câu: “Thiệu bất ngờ đập mạnh những ngón tay trắng hồng xuống mặt bàn” cũng rất là khôi hài. Ông Nguyễn Văn Thiệu sau khi rời ghế trường Trung học thì dấn thân vào con đường binh nghiệp, cho tới khi ông từ chức tổng thống. Ông đi lên từ chức vụ nhỏ trong quân đội, chưa từng một ngày làm “thầy thông, thầy ký,” làm sao ông Thiệu lại có “những ngón tay trắng hồng” như Chu Lai mô tả? Nếu Chu Lai không dám viết bàn tay ông Thiệu với những vết chai vì cầm súng thì Chu Lai nên lướt qua phần mô tả này, đừng cố bịa đặt vẽ ra một ông Thiệu ẻo lả có “những ngón tay trắng hồng” nhằm nói xấu người quá cố.

Chu Lai còn cố bịa thêm câu “Thoáng một ánh nhìn giễu cợt, khinh khi của viên cố vấn Mỹ dõi theo dán vào cái gáy lấm tấm mồ hôi đang căng ra của viên Tổng thống bản địa.” Tôi dám khẳng định Chu Lai không hề có mặt tại cuộc họp (mà Chu Lai mô tả,) Chu Lai cũng không đứng cùng một chỗ với “viên cố vấn Mỹ” thì làm sao Chu Lai nhìn thấy “ánh nhìn giễu cợt, khinh khi của viên cố vấn Mỹ”?

Chỉ trong vài chương đầu mà đã có vô số lỗi, thiết nghĩ quý vị không cần đọc hết cuốn tiểu thuyết giả trá Mưa Đỏ làm chi cho phí phạm thời gian.

Tóm lại, cuốn tiểu thuyết quá tệ về cách dùng ngôn ngữ, tình tiết câu chuyện tràn ngập mâu thuẫn và phi lý, lại được “Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam 2016,” dùng ngân sách dựng phim và dùng quyền lực nhà nước đẩy lên thành phim “Thiên hạ đệ nhất doanh thu,” đem phim chiếu ở các nước thiên tả, tranh giải Oscar, sau cùng là cho đọc free, chiếu free cho ai muốn coi thì coi, chỉ vì nhà nước CSVN đạt được mục đích bôi nhọ QLVNCH, tới đây cái mặt nạ “hòa hợp hòa giải” của đảng CSVN cũng rớt xuống cái độp luôn.

Tạ Phong Tần
(Little Sài Gòn, Nam California)

Ghi chú:
Ở Phần 1 tôi có viết là nếu viết về ngôn ngữ độc hại mà Chu Lai dùng để nguyền rủa, bôi nhọ miền Nam Việt Nam dưới thời VNCH, bôi nhọ QLVNCH thì tôi phải viết cuốn sách khoảng 100 ngàn chữ mới đủ. Qua Phần 3 và Phần 4 này thì tôi nghĩ để chỉ ra hết những chi tiết “lạc quẻ,” “râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhằm “hạ bệ” chế độ VNCH trong Mưa Đỏ, tôi cũng cần phải viết thêm 100 ngàn chữ nữa, tức tôi cần viết cuốn sách khoảng 200 ngàn chữ. Nếu có “nhà tài trợ” thì tôi sẽ viết, nhưng tôi cũng nghĩ rằng khó mà có ai chịu bỏ tiền ra “tài trợ” cho chủ đề này, vì sau khi đọc hết 4 kỳ của bài viết thì độc giả bị “ói” nhiều rồi. Tuy nhiên, để lột trần một “âm mưu cấp nhà nước” có ý đồ “đầu độc” hơn 100 triệu người Việt, âm mưu nhồi sọ những điều sai trái cho thế hệ trẻ người Việt, vì tương lai dân tộc Việt thì cũng cần có ai đó đặt vấn đề “giải độc tư tưởng” là mục tiêu quan trọng.

Theo https://baotreonline.com/author/tpt ngày 8, 11, 18 & 26/12/2025

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*