Những “CHỊ DẬU Thời Nay“

Ảnh: Những cuộc chạy trốn của người lao động tha hương (Nguồn: Đủ các báo)

Phần 1:

Sáng 15.8, coi hình ảnh từng đoàn mấy trăm người cần lao, chủ yếu là bạn trẻ, gia đình vợ chồng trẻ cùng con nhỏ, đùm đúm trên chiếc xe máy, cả gia tài đem theo, thậm chí con chó nhỏ cũng chất lên xe, nghĩa là tài sản sau nhiều năm mưu sinh chỉ có bấy nhiêu, không còn gì để lại, kéo nhau về quê để trốn dịch trốn đói, ai cũng phải động lòng thương xót.

Đã thế, nhà chức trách, công an, dân phòng, cán bộ tuyên truyền cầm gậy cầm loa ra chặn đường, dựng hàng rào, chăng dây ngăn, không cho họ tiếp tục chuyến hồi hương, thuyết phục họ quay trở lại. Đi cũng dở, ở không xong. Trở đi cách núi, trở lại cách sông. Tất cả đành lủi thủi về chỗ cũ, về nơi cuối đường hầm, không còn chút hy vọng.

Nhìn sự đời tang thương ấy, tôi sực nhớ cái tâm trạng của chị Dậu, người đàn bà cùng khổ điển hình, được cụ đầu xứ Tố tả trong truyện “Tắt đèn”. Không tiền nộp sưu cứu chồng, cả nhà nhịn đói triền miên, gia cảnh rách nát, địa chủ ức hiếp dồn đến chân tường, người đàn bà tên “chị Dậu” ấy buột mồm than: “Về thì đâm đầu vào đâu?”. Sáng 15.8 cũng vậy, cứ văng vẳng tiếng kêu tuyệt vọng “về thì đâm đầu vào đâu?”. Chắc chắn nó còn vẳng mãi nhiều ngày sau nữa.

Đây không phải lần đầu dân chúng lao động nhập cư “ra đi là sự đã liều/mưa mai chẳng quản, nắng chiều cũng cam”. Hồi tháng 7 đã diễn ra cuộc chạy trốn lớn thứ nhất, liều mạng phá vây dữ dội hơn lần này nhiều, hàng nghìn người, mấy nghìn người chạy xe, lội bộ, bồng bế, cõng, dắt díu nhau kéo đàn kéo lũ vội vàng bỏ miền đất hứa Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai, Long An để về quê nghèo miền Trung, miền Bắc. Có người “diện” xe máy bám đường thiên lý từ Đồng Nai về tới tận… Lào Cai, gần 2.000 cây số. Có người lội bộ cả nghìn cây. Có gia đình quyết định đạp xe đạp về Nghệ An quê bác…

Cứ về đã, chứ bản thân họ chưa biết tương lai ra sao nhưng hiện tại thì rõ quá, u ám, bi đát, cùng quẫn, bế tắc. Đã mấy tháng, nhà máy xí nghiệp đóng cửa, mất việc làm, không tiền lương, không khoản thu nhập nào, không tiền chi trả khoản thuê nhà trọ, tiền điện tiền nước, nước lã cầm hơi, mì gói xót lòng, những chút từ thiện bố thí của người tốt (chứ không phải của nhà nước) như muối bỏ bể, thuốc cam cho voi. Chỉ nghe nhà nước, chính quyền, ông nọ bà kia và báo chí tivi khuyên gào “ai ở đâu hãy ở đó” mà chẳng hề nói ở lại thì ăn bằng gì, sống bằng gì, tiền ai cho. Dịch đáng sợ nhưng không sợ bằng chết đói. Chỉ còn cách bỏ về, may thì sống, chứ ở lại có thể chết. Ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh khi xưa chả sổ toẹt thẳng băng “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Nay họ làm theo ông ấy.

Những năm xa, khi vùng kinh tế trọng điểm phía nam gồm Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ hình thành, phát triển, người lao động tứ xứ đổ về, trong đó đông nhất là từ miền Trung và miền Bắc. Điều đó dễ hiểu, bởi nước chảy chỗ trũng. Ở quê không sống nổi, cứ nghèo bền vững mãi, thì phải tìm nơi mưu sinh. Họ, hàng triệu người trẻ già nam nữ, đã chọn cách tha hương (hương là quê, tha là người khác, tha hương là quê của người khác, sống tha hương là mưu sinh ở quê người khác; còn tha phương cầu thực là tới chốn (phương) khác để kiếm miếng ăn). Yêu quê, ai chẳng yêu, nhưng quê nghèo đói không sống nổi thì đành ra đi.

Chưa thấy có nghiên cứu kinh tế hoặc xã hội học nào tìm hiểu sâu về cuộc dịch chuyển, di dân cơ học mang yếu tố kinh tế-xã hội này, diễn ra trong suốt mấy chục năm cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Các nhà nghiên cứu nước mình, những giáo sư tiến sĩ, thật lạ, cái gì cũng tỏ ra am hiểu, cũng biết, nhưng rút cục chả biết làm gì, ngoài ngồi phòng máy lạnh nghiên cứu. Những cuộc di dân thê thảm ấy có nhiều nguyên nhân, mà một trong những điều hệ trọng bị ém đi, là chính quyền những địa phương quê người bỏ xứ đã rất kém. Họ chỉ làm quan lãnh đạo, ông nọ bà kia, hưởng chức quyền bổng lộc nhiệm kỳ, chứ không mấy người có đầu óc tổ chức, quản lý, quản trị, khiến vùng đất mà họ trị nhậm cứ chìm mãi trong nghèo đói, lẹt đẹt. Nhiều tỉnh năm nào cũng xin trung ương cứu trợ, cứu đói, thu ngân sách không đủ dùng.

Hôm trước, bác Phạm Chuyên, một người luôn đau đáu với nội tình đất nước, thương xót dân chúng cần lao vất vả, đêm khuya gọi cho tôi bảo rằng, em ạ, những đứa ấy chúng nó có đủ các thứ, quyền, lợi, chức tước, tiền tài, địa vị, bổng lộc, sự hống hách, nhưng chúng thiếu thứ rất quan trọng, rất cần cho người lãnh đạo: khả năng quản trị. Đám quan lại mới bây giờ, từ lớn tới nhỏ, từ trung ương tới địa phương hầu như đều thiếu thứ quan trọng ấy. Nước nghèo, dân nghèo là không tránh khỏi, khi chúng nắm quyền.

Phần 2:

Phải nói thẳng rằng những cuộc trở về quê, hồi hương của hàng vạn lao động, chủ yếu là người trẻ, và gia đình họ hồi đầu tháng 7, rồi giữa tháng 8, rồi cuối tháng 9 đầu tháng 10 vừa xảy ra là những cuộc chạy trốn. Không có từ nào chính xác hơn.

Trốn dịch chỉ một phần, bởi với những người dưới đáy xã hội, lăn lộn vật vã kiếm sống quen rồi, dịch đối với họ chả là gì. Thứ mà họ sợ là đói, chết đói, không chỉ một mình mình mà cả nhà chết đói.

Khi mới bùng phát dịch lần 4, tâm lý chung là nó sẽ tan, như những lần trước. Lại cộng thêm những lời hứa, trấn an của nhà cầm quyền, của hệ thống chính trị nên người ta ráng chờ. Đếm ngày một ngày hai, tuần này tuần nữa, tháng này tháng sau, niềm hy vọng cạn dần. Nguy nhất là cạn tiền. Chủ công ty, xí nghiệp, nhà máy còn chết dở, huống hồ người làm thuê. Nhà nước chỉ hỗ trợ trên tivi, trên mồm cán bộ. Vài ba mớ rau con cá, thùng mì, chục ký gạo, mấy trăm bạc của hàng xóm láng giềng, nhà hảo tâm, người làm từ thiện, tổ dân phố giúp đỡ họ chỉ như muối bỏ bể. Không công ăn việc làm, mất thu nhập, gạo hết, tiền hết, không thể nợ mãi tiền thuê nhà, chi phí điện nước xăng dầu điện thoại, hàng trăm thứ bà rằn cần thiết. Có thể chịu đựng, thắt lưng buộc bụng, nhịn đói, sống dở vài tuần, một tháng, chứ không thể tháng này qua tháng khác. Chỉ còn cách duy nhất: Về.

Về thì đâm đầu vào đâu? Chưa biết. Người nhà nước, chính quyền, ông thủ tướng dăm ba ngày lại lên tivi khẳng định không bỏ ai lại phía sau. Người tha hương làm thuê không bị bỏ bởi gần như chính quyền không thực sự quan tâm tới họ, không coi họ có trên đời. Họ đang gánh bi kịch thời đại, chạy trốn, vượt biên ngay trên chính quê hương đất nước mình.

Gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, những dòng người di cư, bỏ quê đi làm thuê làm mướn ở khắp nơi ngày càng nhiều càng đông. Cuộc sống, xã hội, đất nước chỉ đẹp trên giấy, trên báo chí tivi, trên báo cáo, hội nghị, còn thực tế ra sao, ai cũng biết. “Cửa son rượu thịt để ôi/Bao người chết đói xương phơi trắng đường”, thơ xưa viết vậy, nay không đến nỗi thế nhưng cũng gần như thế. Nhà cai trị đã làm được gì cho dân trên khắp đất nước này khi để họ phải tha hương, dồn về Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai kiếm sống.

Lâu nay, người ta chấp nhận tha phương cầu thực, bỏ quê đi làm thuê xứ người với hy vọng đổi đời, tới miền đất hứa bán sức lao động để nuôi thân, nuôi gia đình, có chút tiền dành dụm gửi về đỡ bố mẹ, vợ con ở quê nhà. Tự cứu mình trước khi trời cứu, nhà nước cứu. Điều mà dư luận ít để ý, chính những người tha hương làm thuê ấy lại là lực lượng quan trọng gánh vác nền kinh tế nước này. Những con số tăng trưởng, thành tựu, GDP này nọ một phần nhờ họ. Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai phất lên, cờ đầu, đóng ngân sách nhiều nhất nuôi cả nước nhờ có họ. Ngân sách nuôi cả nước phần lớn dựa vào những tỉnh thành công nghiệp này, trong đó phần không nhỏ từ người lao động “tha phương cầu thực”. Chính ông Nên, ông Mãi trị nhậm Sài Gòn còn kêu gọi họ đừng bỏ về, hãy ở lại giúp thành phố. Ông Phó thủ tướng Đam cũng có lần nói trên báo Tuổi Trẻ rằng hãy giữ vững miền Tây để hỗ trợ cho TP.HCM. Sao lại chỉ đặt vấn đề “họ giúp” mà không là “giúp họ”. Lúc nào các ông ấy cũng chỉ nghĩ tới sự bóc lột. Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào có ai.

Thưa ông Đam, ông Chính, ông Mãi, ông Nên và đủ thứ ông bà, suốt mấy tháng qua các ngài đã bỏ mặc họ chống chọi xoay xở, giờ họ dưới vực rồi, có vuốt ve mơn trớn hay bạo lực dùi cui để giữ lại cũng chả được. Rồi sẽ biết tay nhau khi dịch nhạt, tổ chức lại sản xuất, có trải thảm rước họ trở lại cũng khó. Tất nhiên rồi các vị cũng kiếm được người thay thế họ, nhưng hắt hủi thợ lành nghề để làm lại từ số không, đó không phải là tư duy kinh tế.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện viết: Họ làm ra của cải cho TP.HCM. Họ làm ra GDP cho TP.HCM dẫn đầu cả nước. Vậy nhưng thành phố đã không cho họ niềm tin. Mất niềm tin là mất hết.

Nhìn cảnh đoàn người chạy trốn cái đói, xơ xác, thiểu não, khổ sở, vợ chồng con cái gia tài sau bao năm làm thuê chất cả lên chiếc xe máy vượt đường dài nắng nôi mưa gió rào chắn công an dân phòng, thật cám cảnh. Hỡi nhà cai trị, an dân, an sinh xã hội không phải lúc nào khác mà chính là lúc này, không phải trên tivi mậu dịch mà ở những chỗ này, không phải với đối tượng chung chung mà những con người cụ thể này.

Nhà báo Huy Đức nói không sai chút nào: Chống dịch chứ không phải chống lại con người. Phải đặt mình vào địa vị của những con người bị nhốt quá lâu trong khu vực bị phong tỏa, dịch bệnh đe dọa, nguồn sống cạn kiệt, cái chết tới gần thì mới hiểu tại sao lại có những người dám thách thức mạng sống của mình như thế.

Đi làm thuê làm mướn, không ai muốn bị mất việc. Cực chẳng đã, hết chịu nổi, bị cùng đường, bị bỏ rơi, mới phải mò về chốn cũ đói nghèo. Mọi hành động ngăn cản họ với lý do chống dịch đều vô cảm, nhẫn tâm. Con người công vụ không thể vô tri vô giác như cái hàng rào dây thép gai. Đám dài dân chúng xếp hàng quỳ lạy, cầm những bó nhang khấn vái người chức việc chỉ để xin được mở rào cho họ về quê chả nhẽ không làm động lòng mấy ông to bà nhớn tâm hồn chai sạn. Hãy thôi lý luận, thôi thuyết giáo những lời mị dân sáo rỗng để nghe tiếng kêu đứt ruột (đoạn trường tân thanh) của anh Nguyễn Văn Luân 28 tuổi người huyện Can Lộc, Hà Tĩnh: “Ở lại không chết vì bệnh thì cũng chết vì đói” (theo báo VnEpress ngày 23.9).

Đất nước này đang có hàng vạn, chục vạn anh Luân, những “chị Dậu thời nay”, dù biết “về thì đâm đầu vào đâu” nhưng vẫn phải về. Ông bạn tôi bảo chính phủ Phạm Minh Chính chỉ được cái võ mồm, trong cơn đại dịch này lộ ra cái tài lãnh đạo chỉ cỡ tầm xóm ấp.

Nguyễn Thông (Nguyễn Thông Cào)

Nguồn Phần 1: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1019096105591115&id=100024722048900

Nguồn Phần 2: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1047292666104792&id=100024722048900

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*