Phản Biện Bài Báo Của Ts Nguyễn Tiến Hưng Phủ Nhận Sự Đóng Góp Của Ông Joe Biden Đối Với Người Việt Tị Nạn

Trên mạng Người Việt Boston (nguoivietboston.com) vừa xuất hiện một tài liệu của TS Nguyễn Tiến Hưng nhan đề “Biden và Đồng Minh VNCH”, trích từ cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” mà ông đã xuất bản cách đây 15 năm. Mục đích của tác giả là cung cấp thêm dữ kiện về Nghị Sĩ Joe Biden và kế hoạch di tản người Việt tị nạn vào 1975 mà ông đã môt phần nào thu thâp được trong thời gian làm phụ tá đặc biệt cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và bộ trưởng Phát Triển Kinh Tế và Kế Hoạch trong chính phủ Nguyễn Văn Thiệu từ 1973-1975.

Phần lớn tài liệu của ông Nguyễn Tiến Hưng dựa vào hai cuốn hồi ký của Tổng Thống Gerald Ford và của cựu Phụ Tá Báo Chí Ron Nessen. Trong khi đó một số bài báo Việt phổ biến trước đây trên mạng Ái Hữu Luật Khoa, Đàn Chim Việt, Ba Sàm, Viễn Đông đều trực tiếp hay gián tiếp dựa vào bài báo bóp méo sự thật của Jerry Dunleavy trên Washington Examiner mà tôi đã bàn đến.

Tôi thấy nội dung của tài liệu do ông Nguyễn Tiến Hưng trích dẫn không có gì mới. Nhưng tên tuổi của ông làm một số người búc súc và yêu cầu tôi đóng góp một vài ý kiến.

Ông Nguyễn Tiến Hưng, trong tài liệu trích từ cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, viết rằng tại buổi họp với Tổng Thống Ford ở tòa Bạch Cung Nghị Sĩ trẻ tuổi Joseph Biden “đã mạnh mẽ chống đối việc di tản người Việt Nam”“ngôn từ của ông trong buổi họp thật là thiếu nhân hậu, nếu không phải là tàn nhẫn.”

Đặt câu nói của ông Joe Biden trong toàn bộ biên bản của buổi họp ngày 14-4-1975 tại Nhà Trắng, mới có thể hiểu ông Biden không như ông Nguyễn Tiến Hưng kết luận. Thật vậy Tổng Thống Ford muốn gộp chung bốn vấn đề vào một kế hoạch di tản: (1) di tản người Mỹ, (2) di tản người Việt, (3) viện trợ quân sự và (4) mang quân Mỹ trở lại Việt Nam để bảo vệ cuộc di tản. Ô. Ford chơi trò “được ăn cả, ngã về không’. Ông muốn Quốc Hội chấp thuận cả 4 điểm hoặc là bác tất cả. Trong trò chơi này ông Ford dùng người Mỹ còn ở lại Việt Nam như một thứ con tin.

Ngay cả điều khoản mang quân Mỹ trở lại Việt Nam cũng là một đòn để đánh lừa quân địch. Ngay trong buổi họp tại Nhà Trắng, Tổng Thống Ford đã xác nhận rằng “Chúng ta không muốn đem quân Mỹ trờ lại [Việt Nam] nhưng chúng ta phải có đủ ngân sách để làm ra vẻ chúng ta chuẩn bị ở lại một thời gian.”

(“We are not wanting to put American troops in but we have to have enough funds to make it look like we plan to hold for some period.”)

Ngay cả điều kiện Tổng Thống Ford xin viện trợ quân sự cho Việt Nam vào giờ chót cũng chỉ là hỏa mù để đánh lừa cả hai miền Bắc và miền Nam. Tổng Thống Ford muốn ổn định tình hình trước khi thực hiện di tản. Ông đã nói “Nếu buổi họp để bàn vế việc di tản, nó sẽ làm cho chính quyền Việt Nam hoảng sợ.”

Nghị Sĩ Jacob Javits (Cộng Hòa, New York) góp ý “Nói cho báo chí là chúng ta dự trù khoảng $200 triệu.”

Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện nói chung và ông Joe Biden nói riêng, muốn tách rời và giải quyết riêng rẽ bốn đòi hỏi của Tổng Thống Ford để có thể tiến hành ngay phần di tản vài ngàn người Mỹ đã được chuẩn bị đầy đủ trong khi tình thế ngày càng nguy ngập và số người Việt cần được di tản lên đến 175,000 người không phải là việc dễ dàng. Do đó ông Biden mới nói rằng:

“Tôi có cảm tưởng rằng tôi bị đặt trước một trường hợp tất cả hoặc không có gì cả. Tôi không muốn phải bỏ phiếu chấp nhận tất cả hoặc là từ chối tất cả. Tôi không chắc tôi có thể chấp thuận một ngân khoản để đưa quân trở lại trong một cho đến sáu tháng để di tản người Việt. Tôi sẽ bỏ phiếu thuận cho bất cứ ngân khoản nào đề mang người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tôi không muốn trộn lẫn việc này với việc di tản người Việt.”

(“I feel put upon in being presented an all or nothing number. I don’t want to have to vote to buy it all or not at all. I am not sure I can vote for an amount to put American Troops in for one to six months to get the Vietnamese out. I will vote for any amount for getting the Americans Out. I don’t want it mixed with getting the Vietnamese out.”)

Lời phát biểu này xem ra hợp tình và hợp lý, không có chỗ nào ông Biden chống đối việc di tản người Việt, không có gì có thể gọi là thiếu nhân hậu hay tàn nhẫn như ông Nguyễn Tiến Hưng nhận định.

Thực tế phũ phàng cho thấy lo lắng của ông Joe Biden là chính xác. chỉ hai tuần sau Saigon thất thủ. Hoa Kỳ chỉ kịp di tản những người Mỹ và một số ít người Việt. Cuối cùng thì việc di tản 175,000 người Việt một cách trật tự đã không thực hiện được. Thảm họa sau khi chiến tranh chấm dứt bắt đầu từ giờ phút này.

Người Việt tiếp tục vượt biên. Hàng trăm ngàn người đã chìm trong biển cả gây xúc động trên toàn thế giới. Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục bàn kế hoạch trợ giúp người Việt tị nạn. Sau khi Tổng Thống Ford bỏ hai điều kiện lên quan đến quân sự, Quốc Hội Mỹ đã chấp thuận Đạo Luật “Indochina Migration and Refugee Assistance Act” và Tổng Thống Ford đã ký thành luật ngày 23-5-1975.  Chỉ có hai nghị sĩ Cộng Hòa chống đạo luật này là Jessy Helm và William Scott.

Trước đó, Thượng Viện Hoa Kỳ đã ra nghị quyết S. Res. 148 “Chào Mừng Những Người Tị Nạn Mới Nhất Đến Đất Nước Chúng Tôi” vào ngày 8-5-1975. Ngoại trừ vài người vắng mặt tất cả các nghị sĩ bỏ phiếu trong đó có ông Joe Biden, đã ủng hộ nghị quyết này, trừ một nghị sĩ Cộng Hòa là William Scott của Virginia.

Sau này ông Joe Biden còn ủng hộ đạo luật “Refugee Act of 1980”. Các chương trình tị nạn Orderly Departure Program (ODP bao gồm HO, U11, V110), Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees (ROVR), Humanitarian Resettlement (HR) và American Homecoming (AH) được thiết lập để định cư người Việt tị nạn đều dựa theo Đạo Luật Người Tị Nạn.

Tài liệu “Biden và Đồng Minh VNCH” của ông Nguyễn Tiến Hưng không đề cặp đến bất cứ đạo luật tị nạn nào và ngay cả nghị quyết S. Res. 148 của Thượng Viện Hoa Kỳ. Đây là những tài liệu pháp lý trên giấy trắng mực đen chứng nhận ông Joe Biden giúp người Việt tị nạn. Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng không sử dụng trực tiếp đến biên bản của buổi họp ở Nhà Trắng ngày 14-4-1975.

Trong tài liệu của ông Nguyễn Tiến Hưng, tác giả có trích dẫn một đoạn trong hồi ký của cựu Phụ Tá Báo Chí Ron Nessen ghi lại lời tuyên bố của ông Joe Biden như sau:

“Nghị sĩ Joseph Biden nói toạc móng heo: ‘Tôi không muốn trả bất cứ món nào để đưa người Việt Nam đi, chỉ trừ khi ta không thể mang được người Mỹ nào ra mà không phải mua 174.000 người Việt Nam. Trong trường hợp đó, tôi sẵn sàng mua 174.000 người Việt Nam”

(“I am not willing to pay any money to get the Vietnamese out unless we can’t get any Americans without buying 174.000 Vietnamese. In that case, I’m willing to buy the 174.000 Vietnamese”).

Theo biên bản của buổi họp tại Nhà Trắng ông Joe Biden chỉ phát biểu vỏn vẹn có ba lần, tuyệt nhiên không có câu này. Trái lại không ai trong buổi họp phản đối việc di tản và cứu trợ người Việt. Đặc biệt Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Tổng Thống Ford còn nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ có trách nhiệm cứu trợ người Việt tị nạn.  Ngoài ra, ông Ron Nessen không có mặt trong buổi họp tối mật và quan trọng tại Nhà Trắng vào chiều ngày 14-4-1975.

Tài liệu lịch sử cho thấy Hoa Kỳ thật sự đã bắt đầu rút quân ngay từ sau Tết Mậu Thân, đặc biệt với kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh dưới thời Nixon vào 1969. Ông Joe Biden bắt đầu sự nghiệp vào năm 1973 vừa đủ 30 tuổi sau khi thắng cử nghị sĩ ba tuần trước khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết.

Điều không làm ai ngạc nhiên là ông Biden có cùng lập trường như đa số công chúng và các thành viên Quốc Hội Hoa Kỳ thời đó là chủ trương rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng ông không chống người Việt tị nạn. Tôi đang ở Mỹ vào lúc này. Tình hình quả là tuyệt vọng.

Điều đáng ngạc nhiên là những người lãnh đạo miền Nam Việt Nam vào thập niên 1970 xem ra đã không am hiểu tình hình.  Ngay cả sau Hiệp Định Paris, họ vẫn còn nuôi hi vọng, cho nên vẫn nghĩ rằng vài trăm triệu Mỹ kim vào giờ chót vẫn có thể cứu được miền Nam Việt Nam.

Nguyễn Quốc Khải
Ngày 30-8-2020

3 Comments

  1. Thật ra thì ” Memorandum ” là bản ghi nhớ chứ không là Biên bản như ghi chú trong bài báo nấy! Thôntg thường nếu là Biên bản ” minutes ” thì mới tường thuât nội dung buổi họp không thiếu 1 chi tiết nào và buổi họp vào 04/14/1975 có lẽ không ngắn gọn trong 11 hàng chữ cho 1 vấn đề nghiêm trọng với uy tín của Hoa-Kỳ như vậy! Thế thì có biên bản thật không?
    ” Tôi đang ở Mỹ lúc nầy ” như ông NQK nói về ông ấy! Thật ra quân dân VNCH cũng biết tình hình tuyệt vọng hơn ông khi Hiệp định Paris ký kết buộc đồng minh tháo chạy nhưng bộ đội cs miền Bắc thì vẩn đóng quân trên lảnh thổ VNCH!
    ‘Điều đáng ngạc nhiên là những người lãnh đạo miền Nam Việt-Nam vào thập niên 1970 xem ra đã không hiểu tình hình “! Ông NQK không ở đó nên đón mò kiểu sờ voi! TT Nguyễn văn Thiệu hiểu rõ mới không chấp thuận những điều kiện sơ khởi của Hiệp định Paris nên hoà đàm mới kéo dài từ 1968-1973!
    Còn việc Quốc-hội đồng minh Mỹ phản bội cam kết về viện trơ theo điều kiện đã ký kết trong Hiệp-định Paris trong đó có sự chống đối viện trợ cho nam Việt-Nam của Joe Biden và đồng viện từ 1974-1975 là sự thật không thể chối cải!

    • Tôi gọi là biên bản cho dễ hiểu vì tiếng việt không có chữ tương đương với memorandum. Có người dịch ra là giác thư sẽ không ai hiểu. Biên bản có thể ghi vắn tắt, không buộc phải ghi chi tiết. Memorandum of conversation không phải chỉ có 11 hàng chữ mà có tới 7 trang. Bài báo chỉ trưng hình của trang đầu.

      Trong đầu thập niên tôi không ở một nơi cố định. Nếu ở Việt Nam lại càng mù tịt hơn vì thông tin không tự do và đầy đủ như ở Mỹ. Chỉ những người có liên hệ, tiếp súc với chính giới Hoa Kỳ và báo chi Mỹ như NTH, HĐN mới có nhiều thông tin hơn mà sao vẫn ngây thơ. Những thứ anh và tôi thì kể như bỏ. Bây giờ nhờ tin tức giải mật mới thấy những người lãnh đạo miền Nam gốc quân nhân, những ông khoa bảng thiếu kinh nghiệm, là những tay mơ chính trị.

      Trong buổi họp tại Nhà Trắng, về hiệp định Paris, Kissinger nói trắng ra rằng “We never claimed an obligation; we never pleaded an obligation.” Ngay cả $722 triệu Tổng Thống Ford xin vào giờ chót cũng chỉ là thứ hỏa mù để ôn định tình hình cho cuộc di tản mà thôi. Không phải chờ đến Quốc Hội chống đối.

      Dân chúng Mỹ đã quay sang chống chiến tranh là phải hiểu tình hình đã tuyệt vọng. Miền Nam đã mất từ 1973, hoặc có thể nói sớm hơn nữa từ 1968-69 khi Việt Nam hóa chiến tranh bắt đầu và Mỹ bắt đầu âm thầm rút quân và giảm võ khí. Hiệp Định Paris chỉ là cách cho Mỹ rút quân một cách hệ thống. Xưa và tận bây giờ phe ta bám vào Hiệp Định Paris, bám vào viện trợ quân sự, không được vẫn còn oán hận, chứng tỏ là còn quá ngây thơ.

  2. Sáng nay lại thấy ông NQK viết thêm vào comment nầy mà lúc đầu chỉ có đoạn 1!
    Việc gọi memorandum là “giác thư” thì có lẻ chỉ mình ông gọi và hiểu chứ còn ai hiểu về hành chánh Viêt hay Tây phương không gọi như vậy và không thể ngây thơ nhầm lẩn giửa memorandum, hay minutes! Gỏ vào google thì trẻ thơ cũng làm được và hiểu rỏ sự khác biệt một trời một vực ngay!
    Sự thật tôi không chấp nhất để bỏ qua việc góp ý ngay nhưng ông NQK lại xúc phạm đến giới lãnh đạo và dân chúng VNCH nên tôi đành phải lên tiếng! Còn phần đúng sai giửa ông NQK hay NTH thì hảy để cho hai ông là những người trong cuộc đối đáp nếu thấy cần!
    NQK: Bây giờ tin tức giải mật mới thấy ngững người lãnh đạo miền Nam gốc quân nhân, những ông khoa bảng thiếu kinh nghiệm, là những tay mơ chính trị!
    “Bây giờ tin thức giải mật mới thấy” có nghĩa là khi đó đang ờ Mỹ mà ông NQK đã không thấy! Việc ông xem thường giới quân nhân về chính trị là ông nói theo csbv và đám phản chiến! Thời chiến tranh Việt-Nam không chỉ tại miền Nam mà Mỹ, Nam-Hàn… đều do giới cựu quân nhân lãnh đạo và họ ngăn chặn được sự xâm lăng, bành trướng của cộng sản Thế giới khiến Thế-giới cộng sản và tan tành! Sự kiện không bị áp đảo về Hiệp định Paris từ đầu đã cho thấy giới lãnh đạo VNCH thời đó rất sáng suốt về việc cọng sản xâm lăng! Theo chủ thuyết “Ngăn chặn” thì VNCH là tiền đồn chống cọng cho đến khi Mao và Nixon bắt tay tại Bắc-kinh vào tháng 04, 1972! Không ai hiểu csvn hơn quân nhân vì 21 năm chiến đấu ngày đêm chống họ! Không cần ở Mỹ mới có tin tức về chiến tranh VN tại Mỹ vì ngoài các viên chức Toà Đại sứ VNCH, các tờ báo lớn của Pháp như Paris Match, của Mỹ như Newsweek, NYT… bán đầy ờ hè phố Saì-Gòn… Radio BBC, VOA… phát thanh hành ngày về chiến tranh VN với Mỹ và đồng minh! Chỉ 1 mình ông NQK ngây thơ không biết như thế thôi!
    NQK: Xưa và tận bây giờ phe ta bám vào Hiệp định Paris, bám vào viện trợ quân sự, không được vẩn còn oán hận, chứng tỏ là còn quá ngây thơ!
    Hiệp định được ký kết thì bó buộc phải thi hành theo luật Quốc tế và Bang giao! Các Hiệp ước Mỹ/NATO, Mỹ/Đài-Loan, Mỹ/Đại-Hàn, Mỹ/ Mễ/ Canada… không ai bảo là ngây thơ mới tin vào! Việc viên trợ Quân sự là điều kiện đã được thoả thuận trong Hiệp định Paris nên sự kiện VNCH đòi hỏi Mỹ phải thi hành là chính đáng! Còn Mỹ không thi hành vì những TNS như Biden từ chối là sự sỉ nhục cho nước Mỹ! Cũng như việc “chống mỹ cứu nước” hay gọi VNCH là “Mỹ nguỵ” quả thật ngây thơ khi mà trong 25 năm qua nhà nuớc csvn cử đại diện sang Mỹ, nhận viện trợ Mỹ cho bệnh sida cho đến cúm Tàu, mua vũ khí Mỹ, nhận tàu chiến Mỹ cho không biếu không, con cái cán bộ tràn ngập sang Mỹ du học, tau tán tài sản sang Mỹ, mua nhà, đầu tư… TT Mỹ và nhân viên sang VN hà rầm! Ai nguỵ trước, nguỵ sau?
    Tại sao sau 75 năm mà Khối NATO, Nhật, Đại-Hàn… vẩn còn xin viện trợ Mỹ để giúp phòng vệ họ khi mà VCNH bị từ chối? Giả dụ Mỹ không thi hành các Hiệp định với họ như với VNCH xem Thế giới nầy sẽ ra sao? Khối NATO 2 năm nay với sự đòi hỏi của TT Trump, họ góp 130 tỷ đô/năm để phòng thủ họ thay vì Mỹ chi hết mà họ đã la làng! Mỹ rút 9000 quân từ Đức thì Thủ tướng Markel như gái ngồi phải cọc tre già!
    Cho nên “vẫn còn oán hận” việc Mỹ, csbv không thi hành Hiệp định Paris chiếu theo Công Pháp Quốc tế không có gì ngây thơ mà chỉ có những kẻ ngây thơ, thiếu kiến thức mới chấp nhận xé toạt Hiệp định khi chữ ký còn chưa ráo mực!

Leave a Reply to KQN Cancel reply

Your email address will not be published.


*