Tự nhiên hôm nay tôi muốn viết về nước mắt, một hiện tượng đời thường như mưa với nắng. Tôi tự hỏi: viết về tiếng khóc và nước mắt có ích lợi gì không? Rồi tôi lại nghĩ chẳng có gì đáng nói hay phải được nói, vì cuối cùng mọi sự cũng trở thành hư không. Có gì phi lý hơn là được sinh ra rồi phải chết, hay được sinh ra để mà chết? Nhưng ta vẫn sống; và bởi vì còn sống, ta vẫn cần nói ra, viết xuống những ý nghĩ của mình thành câu văn, thành dòng thơ trên bàn phím máy vi tính mỗi ngày. Nói ra, viết xuống, dù biết rồi mọi ý nghĩ cũng sẽ về với hư vô, như đời người cuối cùng cũng khép lại.
Chó khóc và voi cũng biết buồn. Đề tài về nước mắt, về tiếng khóc vừa bao la vừa gần gũi trong đời sống của ta. Khóc là câu trả lời trực tiếp của thân xác trước đau đớn, khổ sở, tuyệt vọng và hạnh phúc. Không chỉ con người mà động vật cũng có những phản ứng giống như khóc. Chúng thường biểu lộ cảm xúc qua âm thanh và hành vi, đôi khi cả qua nước mắt. Chó và voi đều có những biểu hiện mạnh mẽ, nhưng nước mắt ở hai loài này không mang cùng ý nghĩa. Trong một nghiên cứu năm 2022, Murata và cộng sự đo lượng nước mắt của 18 con chó trước và sau khi chúng gặp lại chủ sau hơn năm giờ xa cách. Lượng nước mắt tăng rõ rệt khi chó gặp lại chủ, nhưng không tăng khi chúng gặp một người quen không phải chủ. Việc nhỏ dung dịch oxytocin vào mắt cũng làm tăng lượng nước mắt, gợi ý rằng hormone gắn kết xã hội này có thể tham gia vào phản ứng ấy. Tuy vậy, nghiên cứu chỉ ghi nhận lượng nước mắt tăng trong một cuộc đoàn tụ vui vẻ, chứ không chứng minh rằng chó khóc vì buồn như con người (Murata và cộng sự, 2022; DOI: 10.1016/j.cub.2022.07.031).
Ở voi, Douglas-Hamilton và cộng sự theo dõi phản ứng của nhiều con voi trước cái chết của một con voi cái đầu đàn tại Khu bảo tồn Samburu ở Kenya. Khi con voi này ngã xuống, một con voi cái thuộc đàn khác đến gần, chạm vào cơ thể và cố nâng nó đứng dậy. Sau khi con voi đầu đàn chết, nhiều con voi thuộc các đàn khác nhau, kể cả những con không có quan hệ họ hàng gần, vẫn đến và dùng vòi chạm vào cơ thể nó. Từ các quan sát trực tiếp, dữ liệu GPS và dữ liệu lâu năm về quan hệ giữa các đàn, nhóm nghiên cứu cho rằng voi có thể biểu hiện lòng trắc ẩn và sự quan tâm trước cái chết của đồng loại. Tuy nhiên, họ không ghi nhận việc voi rơi nước mắt vì đau buồn; “tiếng khóc” của voi chủ yếu thể hiện qua tiếng kêu, sự tiếp xúc và những hành vi cố gắng giúp con voi đang hấp hối (Douglas-Hamilton và cộng sự, 2006; DOI: 10.1016/j.applanim.2006.04.014).
Tôi không bàn thêm về những giọt nước mắt hạnh phúc của chó khi gặp lại chủ, cũng không bàn về tiếng kêu than của bầy voi trước cái chết của một đồng loại. Tôi muốn viết về những giọt nước mắt của chính mình.
Từ lâu, tôi vẫn tin rằng văn chương và thi ca phải xuất phát từ cuộc đời, bởi cuộc đời chứa đựng vô vàn câu chuyện, niềm đau, nỗi buồn và hạnh phúc. Vì thế, tôi chỉ viết từ những điều mình đã sống, viết về những gì diễn ra trong tôi và quanh tôi, dù có khi rất riêng tư.
Rồi tất cả những gì chúng ta từng trải qua cũng sẽ tan vào quên lãng. Trước khi điều đó xảy ra, ta cứ nói ra, cứ viết xuống, ngay cả những điều nhỏ bé và tầm thường nhất. Biết đâu câu chuyện của ta sẽ chạm đến một trái tim nào đó. Và khi ấy, ta đã trao cho cuộc đời một món quà từ chính trái tim mình.
Khóc vì những trận đòn
Bây giờ, ở chặng cuối cuộc đời, tôi nhớ về những lần mình khóc từ tuổi thơ đến lúc trưởng thành. Trong ký ức đang nhạt phai theo năm tháng, tôi vẫn nhớ những trận đòn bố đánh tôi lúc còn nhỏ. Và dĩ nhiên, mỗi lần bị đòn là mỗi lần tôi khóc. Tôi bị đòn liên tục vì là một đứa bé năng động và liều lĩnh. Ở tuổi lên chín, lên mười, tôi thường xuyên đánh lộn với trẻ trong làng, cả những đứa lớn hơn tôi vài tuổi. Tôi còn rủ trẻ con hàng xóm đi hái trộm ổi, phá tài sản người khác, lên miếu lấy trộm chuối cúng cho người chết. Những điều tôi làm đều được người trong làng thuật lại cho bố tôi, và cách giáo dục duy nhất bố tôi biết là câu tục ngữ: “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.” Dụng cụ giáo dục của bố là cành tre hay cành cây khô trong vườn nhà. Tôi học được bài học là khi bố đánh, tôi phải khóc cho to, bởi vì nếu không khóc thì tôi liền bị bố phán: “Thằng này lì lợm quá, phải đánh cho biết nhớ để đừng nghịch ngợm, láo lếu nữa.”
Trận đòn tôi còn nhớ như in là trận đòn duy nhất mẹ tôi đánh. Hôm ấy, tôi và vài thằng nhóc ra ven sông tính đi bơi, nhưng vừa ra đến bờ sông, chúng tôi thấy có người đang ngồi câu cá. Tôi và lũ trẻ lấy đất ném xuống sông, khiến người câu cá bỏ ngay cần câu, rượt đuổi chúng tôi. Không may, tôi bị ông ta tóm cổ, tát túi bụi, rồi cột tay tôi lại và quăng xuống sông. Đang lúc tôi la hét, vùng vẫy để khỏi bị chết đuối, một người hàng xóm đi qua trông thấy, vội nhào xuống sông kéo tôi lên. Tin này đến tai mẹ tôi rất nhanh. Khi tôi vừa lẽo đẽo về đến sân nhà, mẹ tôi đã cầm sẵn trên tay cái roi tre, ra lệnh cho tôi nằm giữa sân nắng chang chang và liên tục giáng roi thật mạnh xuống mông tôi. Dĩ nhiên là tôi đã khóc vì đau. Sau trận đòn, mẹ còn bắt tôi phải quỳ gối đợi bố đi làm về. May là bố không đánh, có lẽ vì ông đã mệt sau một ngày đồng áng. Bây giờ, cả bố mẹ tôi đã về với thiên thu, và những trận đòn tuổi thơ ấy không để lại trong tôi sự oán trách, mà đã trở thành những dấu ấn sâu đậm trong ký ức tuổi thơ.
Khóc vì nhớ nhà, nhớ mẹ
Tôi đã từng viết về kỷ niệm này. Nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy tâm hồn và con tim mình rung động theo những nhịp điệu khác nhau. Kỷ niệm không chỉ là điều sót lại trong ký ức, mà còn là những rung động của tâm hồn khi bất chợt mình nghĩ về những gì đã xảy ra trong dĩ vãng. Năm mười hai tuổi, tôi được bố mẹ gửi vào học tu trong Đan viện Châu Sơn, Đơn Dương. Đây là lúc tôi mới biết được cảm giác nhớ nhà ra sao. Ở chung với khoảng một trăm đệ tử hay tu sinh xa lạ, tôi mới cảm nhận được sự lạc lõng lần đầu. Trong làng tôi lúc ấy chỉ có một mình tôi đi thi và được nhận vào Châu Sơn nên tôi không có bạn cùng làng. Chính sự lạc lõng và cô đơn ấy đã làm tôi khóc vì nhớ nhà nhiều đêm. Đến dịp Tết Nguyên đán, các đệ tử được cho về nhà ăn Tết khoảng hai tuần. Khi chiếc xe lam ba bánh dừng lại trước ngõ nhà tôi, vừa bước xuống xe, thấy mẹ đang ngồi bên bờ giếng, tôi đã òa lên khóc. Mẹ vội đứng dậy chạy ra đón tôi rồi hỏi: “Con bị đuổi học à?” Tôi lắc đầu, nước mắt nhòa hai mắt, trả lời: “Về ăn Tết.” Mẹ không ôm tôi, tôi cũng không ôm mẹ, nhưng chỉ cần được gặp lại mẹ trong sân nhà cũng đủ khiến niềm hạnh phúc trong tôi vỡ òa thành những giọt nước mắt tuổi thơ.
Khóc vì tuyệt vọng
Tháng ba năm 1975, tôi mười chín tuổi, miền Nam đang trong thời kỳ biến động dữ dội. Một buổi sáng, tôi đi học như thường lệ. Khi đến Đại học Đà Lạt (Thụ Nhân), tôi mới biết trường đã đóng cửa. Tôi trở về nhà trọ thì ba người bạn cùng phòng đã rời Đà Lạt xuống Nha Trang, chỉ để lại một lời nhắn ngắn ngủi: nếu tôi ra Nha Trang, hãy đến địa chỉ ghi trên mảnh giấy nhỏ để gặp họ.
Sau đó, một người bạn cũ ở Đan viện Châu Sơn, tên là Định, ghé tìm tôi. Căn nhà tôi trọ thuộc các sơ Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm, nằm phía sau Trường Thiên Hương và tu viện. Quá trưa hôm ấy, chúng tôi được đi theo các sơ di tản xuống Cam Ranh.
Cuộc tản cư từ Đà Lạt, qua đèo Ngoạn Mục, đến tu viện Mỹ Ca trên bán đảo Cam Ranh mất hai ngày một đêm. Sau khi đến Mỹ Ca được vài ngày, chúng tôi quyết định chia tay các sơ để vào Đá Bạc. Tại đó, chúng tôi tìm đến nhà một người từng học cùng lớp với tôi ở Đan viện Châu Sơn và được cho ở trọ.
Đó là một trong những khoảng thời gian tôi rơi vào hố thẳm của sự tuyệt vọng và lo sợ. Khi chúng tôi rời các sơ ở ngoài bán đảo, Mẹ Bề trên Lucia Hợi đã cho tôi một ít tiền mang theo, nhưng số tiền ấy không thể nuôi tôi lâu dài. Chúng tôi dùng tiền làm vốn mua nước đá bán lại cho dân di tản, nhưng tiền lời không được bao nhiêu. Sau đó, Định gặp lại gia đình mình, cũng vừa di tản từ Bảo Lộc xuống. Anh mượn chiếc mô tô Honda của gia đình để chạy xe ôm, nhưng cũng chẳng kiếm được bao nhiêu.
Một buổi chiều, không biết đi đâu hay làm gì, tôi đến nhà thờ một mình. Trong không gian tĩnh lặng của ngôi giáo đường không một bóng người, tôi bất chợt bật khóc thành tiếng. Khóc vì tuyệt vọng. Tôi không nhớ mình đã đọc kinh hay cầu nguyện điều gì; chỉ nhớ rằng mình đã khóc.
Đang lúc ngồi ôm mặt khóc, tôi nghe tiếng lao xao xung quanh. Tôi chưa kịp lau nước mắt thì một bàn tay đã lay nhẹ vai mình. Một giọng nói nhỏ nhẹ và trong veo hỏi:
– “Tại sao anh khóc? Anh cần gì không?”
Tôi ngước mặt lên, thấy mấy nữ sinh mặc áo dài trắng đang đứng quanh mình. Tôi cố gượng cười:
– “Tôi không sao.”
Một nữ sinh khác hỏi:
– “Anh ở đâu đến?”
– “Tôi là người di tản từ Đà Lạt.”
Tiếng chuông báo giờ vang lên. Nhóm nữ sinh nhanh nhẹn trở về lớp. Một em nói vội:
– “Anh chờ nhé, chúng em sẽ hỏi thầy giáo.”
Tôi không trả lời. Tôi lau nước mắt rồi ngồi nán lại thêm vài phút, không phải để chờ ai, mà vì không biết làm gì trong buổi chiều tháng ba nóng cháy bên ngoài.
Đó là lần tôi khóc vì tuyệt vọng. Tiếng khóc và nước mắt chẳng giải quyết được gì, nhưng trong giây phút ấy, tôi không còn biết làm gì khác.
Khóc vì hoang mang
Thời gian tôi ở trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas, từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 9 năm 1975, tôi đã khóc khi chia tay những người bạn mới quen. Mỗi lần tiễn ai lên xe buýt rời cổng trại là mỗi lần tôi âm thầm lau nước mắt. Tôi khóc lúc ấy không phải vì phải chia tay những người bạn mới quen, mà vì nghĩ đến ngày mình sẽ rời trại tị nạn như họ. Tôi sẽ đi về đâu? Sẽ làm gì? Cảm giác hoang mang về một tương lai mịt mờ, vô định thật ghê gớm. Có lẽ rất nhiều người tị nạn Việt Nam đã trải qua nỗi hoang mang cùng cực như tôi và cũng có những người đã khóc như tôi.
Khóc vì hạnh phúc
Sinh nhật lần thứ hai mươi của tôi rơi vào ngày đầu tháng sáu năm 1975. Nhưng mãi đến hôm ấy, tôi mới biết ngày sinh của mình.
Tôi lên văn phòng phụ trách việc định cư cho người tị nạn để hỏi về hồ sơ, xem đã có ai nhận bảo trợ cho tôi rời trại chưa. Cô thư ký mở hồ sơ, nhìn tôi rồi nói:
– “Happy Birthday.”
Đó là lời chúc sinh nhật đầu tiên tôi được nghe trong đời.
Nhiều năm sau, khi tôi làm việc tại Đại học Michigan, một em sinh viên Việt Nam rủ tôi đi ăn tối tại một nhà hàng Tàu. Trong bữa ăn, em bất ngờ nói:
– “Happy Birthday, anh.”
Tôi sững người, không hiểu vì sao em biết hôm ấy là sinh nhật của tôi, bởi ngay chính tôi cũng không nhớ. Đó là lần đầu tiên có người mời tôi đi ăn mừng sinh nhật.
Tôi quen em trước đó trong một hoàn cảnh khá đặc biệt.
Một buổi chiều mùa xuân, em sinh viên 19 tuổi ghé đến văn phòng của tôi trong một ngôi nhà thuộc Đại học Michigan. Ngôi nhà ấy là trụ sở của chương trình nghiên cứu về tuổi già. Dạo đó, tôi vừa rời Đại học Kentucky, nơi tôi giảng dạy, để đến Michigan làm việc với một khoản tài trợ nghiên cứu của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ.
Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn làm việc và trò chuyện về sinh hoạt của sinh viên Việt Nam trong trường. Bất chợt, tôi hỏi:
– “Em đi chùa hay đi nhà thờ?”
– “Nhà thờ,” em đáp.
– “Em có biết hát Kinh Hòa Bình không?”
– “Có!”
Thế rồi, ngay trong căn phòng nhỏ ấy, hai chúng tôi cùng cất tiếng hát Kinh Hòa Bình, bài thánh ca do linh mục, nhạc sĩ Kim Long phổ nhạc. Lời ca của ca khúc bắt nguồn từ một bài thơ cầu nguyện của tác giả khuyết danh, được đăng năm 1912 trên La Clochette, một tạp chí Công giáo nhỏ tại Pháp. Bài thơ được phổ biến rộng rãi trong và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, rồi được dịch sang nhiều ngôn ngữ. Về sau, tác phẩm thường được gán cho Thánh Phanxicô thành Assisi, dù không phải do ngài sáng tác.

Mùa hè năm ấy, tôi cùng em và gia đình em đi dự Đại hội Thánh Mẫu tại Carthage, Missouri. Trong thánh lễ ngoài trời vào một buổi chiều, chúng tôi đứng tựa vai nhau bên gốc cây già.
Giữa lúc ấy, tôi bỗng khóc.
Dĩ nhiên, em không hiểu vì sao tôi khóc. Nhưng tôi hiểu.
Tôi khóc vì hạnh phúc.
Sau hơn mười năm lưu lạc, sống cô đơn giữa những sân đại học xa lạ, cuối cùng tôi đã gặp được người con gái mình yêu.
Tôi viết về tiếng khóc vì chính những giọt nước mắt khiến tôi biết mình là người. Thời gian làm người trên mặt đất này rất ngắn và trôi qua vội vã. Tôi biết mình vẫn còn khóc khi còn được đi trên mặt đất này.
Trần Thu Miên

Be the first to comment