(Photo: Pixabay)
Bài 1
Kể từ thập niên 1960s, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ đáng kể của sinh suất. Sự suy giảm này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: kinh tế xã hội, môi trường, sinh học. Khi mà số sinh suất trẻ em không bù đắp cho số tử suất. Khi mà cha mẹ chọn phẩm hơn lượng.
Đồng thời cũng bắt nguồn từ việc phụ nữ được giáo dục cao hơn; giữ chức vụ cao hơn, lương cao hơn…. và kết quả là việc mang thai được giới hạn để làm giảm kích thước của gia đình.
Những biện pháp tránh thai, ngừa thai được phụ nữ áp dụng chính xác hơn. Đi kèm với hiện tượng đô thị hóa, áp lực cho những người chuẩn bị vào đời; ngay cả việc xã hội cũng chuẩn thuận cho những đôi vợ chồng không muốn có con.
Đến những năm 1970s, hầu hết các bác sĩ đã lạc quan thuyết phục là con người có thể kiểm soát được dân số qua các phương pháp và thuốc uống. Tuy nhiên sự hoàn chỉnh của các phương pháp ngừa thai không phải là lý do chính yếu cho sự thay đổi này, mà do sự thay đổi quan niệm sống của xã hội và tiến bộ của sinh học ngành thụ thai.
So với các động vật có vú, thì loài người có khả năng mang thai rất sớm. Người Neolithic có thể sinh 4-6 trẻ trong suốt thời kỳ sinh nở, nhưng phân nửa có thể chết yểu. Dân số thế giới vẫn giữ khoảng 500 triệu. Tuy nhiên mọi sự bị đảo lộn vào cuối thế kỷ 18, được kích hoạt bởi những ảnh hưởng của kỹ thuật và y tế của Cách Mạng Kỹ Nghệ, và được kết hợp sự thay đổi tư tưởng của Thế Kỷ Ánh Sáng.
Xem lại thống kê dân số năm 1950 của Liên Hiệp Quốc, thì sự gia tăng đã bắt đầu chậm lại. Sự giảm sút này đi song song với sự tỷ lệ mang thai của phụ nữ. Đến những năm 1960s, dân số thế giới đã giảm ngang cửa bão hòa. Là tỷ lệ 2.1. Số 2 là bù cho cha mẹ. 1 là số dự phòng cho người con khi có những gia đình không có con.
Người ta tiên đoán, khoảng 2050, số quốc gia có tỷ lệ sinh suất thấp từ 151 quốc gia sẽ tăng lên 183 quốc gia cho năm 2100.
Khi sự thay thế xuống thấp, chúng ta có thể thấy ngay trong dân số toàn cầu. Tuy nhiên nó không xảy ra tức khắc như phản ứng hóa học, vì 2 lý do:
— Sự phát triển y tế và kinh tế: đã làm gia tăng tuổi thọ, nên chúng ta không thể thấy nó biến đổi tức thì.
— Quán tính của dân số: với những phương tiện mà từ đó dân số vẫn có thể gia tăng tiếp tục ngay cả khi sinh suất dưới 2.1, vì nó kế tục thế hệ trước và tiếp tục cho thế hệ sau. Chẳng hạn như Ấn Độ, đà gia tăng đã dưới 2.1, nhưng còn khoảng 173 triệu thiếu nữ dưới 14 tuổi đang chuẩn bị tham gia vào lực lượng sinh sản.
Khi tình trạng kinh tế xã hội, địa chính trị có hậu quả thu hẹp sinh sản, thì chúng ta có vài câu hỏi:
— Tại sao có sự suy giảm sinh sản?
— Cái gì đã làm phức tạp khó khăn cho con người?
— Chúng ta có thể kiểm soát sự suy giảm được không?
1. Tử suất trên bé sơ sinh giảm. Và TFR (total fertility rate) giảm.
2. Thịnh Vượng: Trong những xã hội mà sự an ninh và thịnh vượng khiến cho cha mẹ không còn quan tâm đến số con cái nhiều vì cha mẹ tin tưởng rằng con cái mình sẽ an toàn sinh trưởng và phát triển. Bây giờ cha mẹ chỉ để ý vấn đề thăng tiến và phẩm chất cuộc sống của chúng mà thôi. Từ đó, kích thước gia đình dần thu nhỏ lại.
3. Đô Thị Hoá: Ước vọng của các nhà qui hoạch là phát triển đô thị với số nhỏ trẻ em. Nó kích thích lực lượng lao động từ nông thôn vào thành thị. Ở đó, cơ hội và lợi tức được tăng lên gấp bội. Diễn trình này được lập lại từ thời cách mạng kỹ nghệ. Và rõ ràng có sự liên hệ giữa sự thịnh vượng và giảm sinh suất.
Tuy nhiên sự tỷ lệ thuận này cũng không rõ ràng cho lắm. Chẳng hạn, nhiều quốc gia Nam Mỹ, có tỷ lệ mang thai dưới mức thay thế 2.1, nhưng có đến 60% dân số sống ở đô thị. Việt Nam, có 38% sống ở đô thị, mà vẫn có số sinh suất thấp. Hay Singapore, 100% dân sống ở đô thị mà có số sinh suất cao đến 5,76.
Do đó, sự suy giảm sinh suất toàn cầu phức tạp hơn gia tăng dân số toàn cầu.
Tuy vậy, môi trường đô thị cản trở rất nhiều về mô thức thiết lập đại gia đình, vì:
— Không gian sống ở đô thị giới hạn hơn nông thôn
— Giá sinh hoạt đắt đỏ hơn
— Chi phí giáo dục cao hơn
— Nhiều giải trí và thú vui làm xao nhãng việc sanh con
4. Giáo Dục: Một trong những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất cho người phụ nữ là giáo dục. Tỷ lệ cho thấy, càng xong trung học càng sinh con ít hơn. Hay lập gia đình trễ, có con trễ. Từ đó có nhiều phụ nữ mất khả năng sinh sản rất sớm, vì áp lực công việc và đời sống.
5. Những Phương Pháp Ngừa và Tránh Thai: Khi phụ nữ được nâng cao giáo dục, ở đô thị thì được thông tin rộng rãi về các phương tiện và phương pháp hiệu quả. Tuy nhiên nó cũng phức tạp.
Một số quốc gia đang phát triển, chính quyền ép buộc công dân của mình dùng các phương pháp tránh và ngừa thai để đạt nhu cầu chính sách quốc gia. Như Ấn Độ, Trung Hoa, Sub-Sahara. Nhưng nó cũng không phổ quát vì có nhiều quốc gia tỷ lệ đã xuống thấp mà không cần hỗ trợ của chính quyền. Ngược lại có những chính sách nâng đỡ để sinh con như tài trợ bé sơ sinh, vợ và chồng được nghỉ phụ sản, hay đánh thuế trên các phương tiện ngừa thai.
Chẳng hạn Albania, từ 1960-1990, dân số giảm tệ hại, trong khi đó 90% là Công Giáo, không được ngừa thai theo phương pháp nhân tạo vì là bất hợp pháp. Hay Mexico, Brazil, Paraguay, Philippines cũng giảm dân số khá lớn tuy được chính quyền hỗ trợ và các đoàn thể tôn giáo vận động sanh con.
Như Nhật đã cấm dùng thuốc ngừa thai từ 1999 nhưng vẫn không có hiệu quả.
6. Chủ Nghĩa Cá Nhân: Bắt nguồn từ Thế Kỷ Ánh Sáng với Kant, Newton, Locke, Descartes… đưa ra chủ thuyết cá nhân. Cuộc đời của mình phải do chính mình quyết định, không phải nhà nước hay nhà thờ. Với lý trí, chúng ta hiểu được vũ trụ và căn tính của mình. Nó đã tách khỏi quan niệm gia đình là hạt nhân mà cá nhân mới chính là hạt nhân. Chúng ta cần hiệu đính lại mục tiêu đời sống của chúng ta và biết khả năng của mình.
7. Di Dân: Là sự năng động vượt qua ranh giới quốc gia. Cá nhân không bị giới hạn bởi biên giới nơi sanh ra. Cá nhân có quyền di chuyển đến nơi thịnh vượng, an ninh để thực hiện mơ ước của mình, làm lại cuộc sống.
Những nơi đến mà di dân dừng chân nhiều nhất là Úc, Canada, USA, EU. Những quốc gia cung cấp di dân nhiều nhất là Carribbean, Bắc Phi, Đông Âu, Nam Á…
8. Ô Nhiễm Môi Trường: Nhiễm độc làm thiệt hại bộ phận sinh dục của nam và nữ. Giảm số tinh trùng của người đàn ông.
Chúng ta cũng phác họa ra được một viễn cảnh không tốt đẹp cho lắm về tình trạng dân số thế giới. Bây giờ chúng ta nhìn lại sơ các học thuyết về nhân khẩu, thử xem họ bi quan đến mức nào?
A. THOMAS MALTHUS
Năm 1798, THOMAS MALTHUS cho xuất bản một biên khảo “Essay on the Principle of Population”. Ông cho rằng, con người gia tăng theo cấp số nhân, nhưng lương thực tăng theo cấp số cộng, do đó, tài nguyên sẽ dần dần cạn kiệt. Nếu không kiểm soát được thì sẽ trở thành thảm kịch, nạn đói. Tuy có dịch, chiến tranh làm giảm dân số phần nhỏ nhưng không cứu được thảm họa. Từ đó ông đưa ra phải kiểm soát sanh đẻ. Nhưng thời ông chỉ có lập gia đình trễ, hay sống độc thân. Ông phản đối việc cứu tế, sẽ làm con người làm biếng và chỉ lo đẻ.
MALTHUS không thấy được cách mạng kỹ nghệ, gần đây, thập niên 50s có cách mạng Xanh giải quyết vấn đề lúa gạo cho con người. Những quốc gia phát triển tổ chức nhịp nhàng từ sản xuất đến việc phân phối đến tay người dân. Không phải là tình trạng hỗn loạn vô tổ chức. Ông đã quá bị quẫn về dân số. Bây giờ, chính mỗi người tự kiểm soát mà chính quyền và tôn giáo không làm gì được.
B. PAUL & ANN EHRLICH
Năm 1968, hai vợ chồng này xuất bản một cuốn sách, tựa là “The Population Bomb”. Họ cho rằng sự gia tăng dân số quá nhanh chóng sẽ vượt qua khả năng cung cấp thực phẩm và chắc chắn sẽ dẫn đến nạn đói, tàn phá môi trường, xã hội sẽ sụp đổ; nhất là sau nạn đói 1970s, 1980s, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển. Do đó, phải nhanh chóng kiểm soát dân số, dù cho quốc tế giúp đỡ những phương tiện kiểm soát. Nếu không sẽ là quả bom gây ra bất ổn định. Cho nên phải dùng những biện pháp ngừa thai, đánh thuế trên những người mang thai, không cứu giúp những quốc gia không giảm dân số. Giáo dục và in ấn sách giúp công chúng cảnh giác về sự gia tăng dân số cùng tàn phá môi trường. Khoảng năm 2000 thì Anh Quốc chỉ còn là một ốc đảo nghèo đói cho 70 triệu người. Cuối thế kỷ 20, dân số thế giới sẽ tăng lên 10 tỷ.
Kết quả là cho đến năm 2000 không xảy ra như hai người tiên đoán, và sau đó nữa. Trong khi đó nông nghiệp đã có “Cách Mạng Xanh”, gia tăng năng suất và ngắn ngày, gần như triệt tiêu được nạn đói. Thêm vào đó sự tiến bộ về kỹ thuật, phân bón, chuyển vận đã góp phần mang lại sự an toàn cho các quốc gia. Cũng nên lưu ý là những tiến bộ của y khoa đóng góp nhiều trong sự suy giảm dân số.
Sách của hai ông bà chỉ nhấn mạnh trên yếu tố dân số, thiếu cái nhìn toàn bộ xã hội như phân phối sự giàu có; cách thức tiêu thụ, thích nghi xã hội. Chúng ta không hiểu tại sao cả hai lại đi theo vết xe đổ của Malthus.
C. HOẠ DA VÀNG
KAISER WILHELM, năm 1895, cho rằng các quốc gia Á Đông kỹ nghệ phát triển, quân sự mạnh, như Trung Hoa, Nhật Bản, sẽ xâm chiếm và chinh phục phương Tây. Trong tương lai, các quốc gia khu vực này là mối đe dọa trực tiếp cho tây phương.
Chủ thuyết này đánh vào sự sợ hãi và kỳ thị với khả năng sinh sản quá cao. Nó sẽ đe dọa vào nền văn minh Mỹ–Âu như tự do, dân chủ, Kitô giáo, khoa học kỹ thuật đều bị phá hủy. Xem da vàng như là một bầy đàn, tổ kiến, không nhân tính.
Cho đến đầu thế kỷ 20, thì học thuyết này chỉ nhắm vào Trung Hoa. Sau đó, Nhật Bản thắng Nga 1904-1905. Họ xem Nhật là lãnh đạo “Pan-Asiatic” đe dọa Âu Châu.
Từ đó, họ kỳ thị người Trung Hoa trong vấn đề xin việc làm.
Khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng, họ đã huy động tuyên truyền chống Nhật kiều và đưa đi tập trung.
Khi Mao chiếm chính quyền ở Trung Hoa, tuyên bố: “Trung Hoa không sợ chiến tranh nguyên tử, vì cùng lắm là chết 500 triệu, còn 500 triệu vẫn là quốc gia đông nhất thế giới”.
(Vừa qua, đại dịch COVID 19 cũng đổ dầu vào lửa đối với vấn đề người Trung Hoa.)
Tác giả còn cho rằng nên phát động thánh chiến giữa các quốc gia da trắng và các quốc gia da vàng. Do sự sợ hãi Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt đã xâm chiếm Châu Âu trong quá khứ.
Nếu Malthus và Ehrlichs chỉ đưa ra một vấn đề nạn nhân mãn tổng quát, thì ngược lại, Wilhelm lại nêu ra sắc dân cụ thể mà sự gia tăng dân số làm nguy hại cho Châu Âu. Một quan điểm nguy hiểm, đề cập tới dân số thì ít, nhưng chụp thêm mũ chính trị và kích động hận thù hơn là khoa học. Nếu nó được đem vào áp dụng cho một chính quyền nào đó, dễ đi đến chế độ phát-xít, mà trước kia và ngày nay chúng ta đã thấy trên thế giới.
D. NHỮNG KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI SUY GIẢM DÂN SỐ
1. Châu Mỹ La Tinh
Khu vực này tuổi già tăng nhanh chóng. Người ta tính trên 60 tuổi vào năm 2030: 114 triệu. Nhưng đến năm 2056, dự trù 751,9 triệu; trước khi suy giảm. Sinh suất 2.1 cho năm 2015. Và xuống 1.85 cho năm 2022.
Năm 1950, 41% dân số Châu Mỹ La Tinh dưới 15 tuổi. Nhưng nay chỉ còn 22.5%. Từ 15-64 tuổi, năm 1950 chiếm 67.6%. Năm 2024 chỉ còn 55.6%, tức khoảng 64.5 triệu người.
Năm 1950, tuổi trung bình là 18. Năm 2024 là 31. Và 2050 là 40. Năm 2050, tuổi 65 trở lên, chiếm 18,9% tức khoảng 138 triệu.
Ba Tây năm 2023, theo thống kê là 203 triệu thấp hơn dự đoán của Liên Hợp Quốc là 216 triệu. Thấp nhất trong vòng 47 năm. Năm thấp nhất là 208 triệu.
Uruguay, thụ thai chỉ còn 1.27 cho năm 2023
Những lý do chính là:
— Phụ nữ gia nhập lực lượng sản xuất
— Giáo dục cao hơn
— Hiệu quả của các phương pháp ngừa thai
— Kinh tế bất định nên gia đình được thu nhỏ
— Đô thị hóa
Hậu quả:
— Làm giảm lực lượng lao động, gia tăng tầng lớp cao niên. Đe dọa sự tăng trưởng kinh tế và là gánh nặng cho an sinh xã hội
— Gia tăng tỷ lệ di dân từ những quốc gia dư thừa công nhân sang các quốc gia suy giảm dân số.
Uruguay, Costa Rica, Chile, Jamaica, Cuba tỷ số mang thai chỉ 1.3 cho một phụ nữ. Một con số quá thấp. Sinh suất giảm nhanh, chứ không phải tử vong tăng nhanh, hay Covid, hay di dân. Uruguay giảm 50% tuổi từ 15-24.
2. Âu Châu
Chỉ 1.38 phụ nữ mang thai trong đời. Âu Châu đến năm 2100 sẽ thiếu 27.3 triệu dân. 97% các quốc gia sinh suất từ 2.23 năm 2021, xuống 1.68 năm 2050, và 1.5 cho năm 2100.
Tây Âu sinh suất 1.53 năm 2021 xuống 1.44 cho năm 2050, và 1.37 cho năm 2100. Ý, Tây Ban Nha, Andorra thấp nhất.
Đông Âu, sinh suất từ 1.38 năm 2021 xuống 1.19 cho năm 2100. Belarus, Georgia, Bulgaria, Hungaria, Ukraina, Moldova; hay các quốc gia trong vùng Balkans như Albania, Serbia, Croatia; hay vùng Baltic như Estonia, Lithuania, Latvia cũng đang nằm trong tình trạng báo động, khi quán tính dân số không còn và thế hệ của tuổi già cũng sắp biến mất.
Trung Âu, sinh suất từ 1.48 năm 2021 xuống 1.21 cho năm 2100.
Ukraina, Serbia, Bắc Macedonia, Bosnia & Herzegovina xuống thấp chỉ còn 1.0 cho một phụ nữ.
Trung bình 1.38 cho một phụ nữ với số lần mang thai trong đời. So với năm 2022 còn được 1.46. Con số cao hơn là Bulgaria 1.81. Pháp 1.66. Hungaria 1.55. Con số thấp hơn là Malta 1.06. Tây Ban Nha 1.12. Lithuania là 1.18.
Tổng số sinh suất của Châu Âu trong năm 2023 là 3.67 triệu em bé. Con số thấp nhất từ 1961.
Số tuổi trung bình của phụ nữ lần đầu tiên làm mẹ là 29.8. 23% trẻ em được sinh ra ở Pháp là di dân. Kể từ Thế Chiến I, đến năm 2024 là Pháp có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1.62 cho một người mẹ.
3. Đông Bắc Á
Chúng ta đã thấy những quốc gia trở thành “Cọp Châu Á” ở Đông Bắc Á như Singapore, South Korea, Hong Kong, Taiwan, và ngay cả Trung Hoa, Nhật Bản cho chúng ta tỷ lệ thấp xa 2.1. Nhật và Trung Hoa giảm trung bình mỗi năm nửa triệu em bé. Nhật 1/3 dân số trên 65 tuổi. Cứ 100 người trưởng thành thì có 50 người cao niên. Người ta tính ra đến năm 2040 Nhật sẽ thiếu 11 triệu công nhân. 50 năm trước, Nhật đã bắt đầu đối phó với mức sinh suất dưới 2.1. Ngày hôm nay, Nhật đã cho nhập hàng trăm nghìn nhân công di dân để bù đắp số thiếu hụt. Hàng trăm làng bị bỏ hoang. Hàng triệu nhà bị bỏ trống. Người già chết trong cô đơn.
Một quốc gia khác là Trung Hoa, dân số đang co cụm làm gia tăng số người cao niên nhanh chóng. Số tử vượt qua số sinh trong vòng 4 năm liên tục. Vì chính sách một con, năm 2025 chỉ sanh 7.92 triệu em bé, giảm 17%. Người cao niên trên 65 chiếm 15.4% phải đặt nhiều công sức, tiền bạc để chăm sóc. Tuổi lao động từ 15-59 thì thiếu. Xã hội trọng nam khinh nữ, ai cũng muốn con trai nên thiếu nữ để sanh nở. Từ đó người ta đặt vấn đề nếu Trung Hoa có chiến tranh thì binh sĩ sẽ phải chiến đấu nội tâm là chọn lựa giữa giòng giống gia đình hay vì tổ quốc? Chết thì mất người nối dõi, cha mẹ không nơi nương tựa. Từ đó tinh thần chiến đấu sẽ không còn.
Chính quyền cũng có những biện pháp giúp đỡ:
Thưởng tiền khi mang thai. Theo dõi và chăm sóc thai sản và thai phụ. Giảm học phí. Đánh thuế các phương tiện ngừa thai.
Tình trạng này đã mang lại hậu quả kinh tế bị đình trệ vì thiếu nhân công. Và kế đó là giảm năng suất. Nhà cửa bị hiện tượng bong bóng. Và nhất là không đủ lực lượng quân đội để phòng vệ quốc gia.
Một quốc gia khác là Nam Hàn, một trong vài quốc gia có số sinh suất thấp nhất thế giới. Năm 2023 là tỷ số 0.72, và năm 2024 là 0.74. Ngay tại thủ đô Seoul chỉ 0.55. Con số đã đe doạ nền kinh tế sẽ bị đình trệ vào năm 2040, và dân số chi còn 1/2. Năm 2030 chỉ 1/4 dân số là người già; đến năm 2070 là 46% là người già. Do vậy thiếu công nhân trầm trọng từ 36.6 triệu xuống 16.6 triệu. Và nó cũng ảnh hưởng đến sức mạnh quân đội để chống lại chế độ khùng điên Bắc Hàn.
Nguyên nhân là giá sinh hoạt cao. Làm việc quá dài giờ. Áp lực công việc và xã hội cao, từ đó giảm số hôn nhân.
Trung Hoa sanh suất giảm 50%. Taiwan giảm gần 60%. Nhật thấp hơn 40%. Nam Hàn đến 65%. Theo phúc trình của Liên Hiệp Quốc thì những quốc gia này chỉ 1.9 con/ mẹ. Thái Lan, Nam Dương, Myanma cũng thấp dưới ngưỡng thay thế.
E. NHỮNG KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI GIA TĂNG DÂN SỐ
1. Các Quốc Gia Vùng Nam Á
Vùng này gia tăng chậm chứ chưa suy giảm. Bangladesh với mật độ 1.253 người/1 km2. Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka gia tăng từ trung bình đến cao. Tuổi trung bình là 27.8, 2026.
Trong vòng 30 năm trở lại đây, dân số Nam Á vẫn tăng 2.1%; trong khi thế giới chỉ 1.6%, từ 1975-2005. Sub-Sahara 2.7%, Ả Rập tăng 2.6%.
Từ năm 2000-2005 thì 3.2 trẻ em/ một phụ nữ; trong khi thế giới chỉ 2.7%.
Nhưng tuổi thọ ngắn hơn 3.6 năm trung bình thế giới. Đông Á cao hơn Nam Á 7 năm. Afghanistan sinh suất 3.8 nhưng tử vong 16%. Sri Lanka tử vong là 11%. Sri Lanka 2 bé / một mẹ. Afghanistan thì đến 7 bé/ một mẹ.
Nam Á gia tăng nhân khẩu gấp 3 lần, từ năm 1950 chỉ 478 triệu người, đến năm 2005 là 1.580 tỷ người. Có 44 triệu dân Nam Á đi làm ở các nước khác, và có 13 triệu người từ các nước khác đến làm ở Nam Á.
Người ta dự đoán đến năm 2040, Nam Á sẽ tăng dân số thêm 600 triệu, đạt tới 2.200 triệu người. Tỷ lệ với dân số thế giới là 25.3%. Ấn: 1.6 tỷ dân, Pakistan: 268 triệu dân, Bangladesh: 239 triệu, Afghanistan: 66 triệu, Nepal: 47 triệu, Sri Lanka: 20 triệu, Bhutan 900 ngàn, Maldives: 500 ngàn. Trong khi đó, phỏng đoán Trung Hoa chừng 1.400 triệu dân.
Sri Lanka 70% phụ nữ dùng các phương pháp ngừa thai (thống kê năm 2000). Bhutan: 18,8% phụ nữ áp dụng, Pakistan: 27.6%, Nepal 39.3%, Ấn Độ: 48.2%, Bangladesh: 58.1%. Tuy ngừa thai phát triển mạnh cho phụ nữ ở Nam Á, nhưng số tử suất cho các bé sơ sinh còn cao. Như Maldives: 46% trẻ sơ sinh bị tử vong, Bhutan: 53%. Bangladesh: 61%, Ấn Độ: 63%, và Pakistan: 75%.
2. Châu Phi:
Dân số Phi Châu không giảm mà còn có thể tăng nhanh chóng. Các nhà thống kê dự tính trong khoảng 2050-2070, dân số Phi Châu từ 1.5 tỷ người tăng lên 3 tỷ, chiếm 1/4 dân số toàn cầu. Với sinh suất cao và tử suất giảm.
— Là lục địa có dân số trẻ nhất. Đến năm 2050, cứ 3 người trẻ trên trái đất thì có một người là Châu Phi.
— Dân số vùng Bắc Phi và Nam Phi gia tăng ít, nhưng vùng Sub-Shahara là vùng chính gia tăng dân số, và nó bao trùm luôn cả Phi Châu.
Khó có thể có được một con số nhất định cho Châu Phi, vì có những quốc gia to lớn hơn 100 triệu dân, như Ai Cập, Ethiopia, Nigeria. Ngược lại có những quốc gia nhỏ chừng 1 triệu dân, như Saychelles, Reunion, Djibouti, Comoros, Cabo Verde,…
Ở đó có những quốc gia sinh suất cao nhưng ổn định chỉ giảm dân số 1%, như Mozambique, DR Congo, Nigeria. Có những quốc gia sinh suất cao nhưng tử suất cũng cao; như Ethiopia, Rwanda, Kenya, Malawi, Siera Leon. Cũng có những quốc gia có gia đình 6 con, như Niger, Somalia, Chad, DR Congo, Mali.
Có những quốc gia, gia tăng dân số chỉ 0.5%, như Mauritius, Cộng Hoà Trung Phi, Lybia. Nhưng cũng có những quốc gia gia tăng gấp 8 lần, tức 4%, như Niger, Equator Guinea.
Có những quốc gia đô thị hóa rất cao, chiếm đến 60% dân số cả nước, như Nam Phi, Angola, Botswana. Và cũng có những nước không có hiện tượng đô thị hóa gì cả, như Burundi, Ethiopia, Malawi, Niger, Rwanda, Uganda, Burundi, thành phố lớn nhất chỉ chừng 20% dân số.
Có những quốc gia dày đặc các chủng giống khác nhau, đây là đặc điểm của sự cấu thành quốc gia ở Châu Phi. Nhưng có những quốc gia mà yếu tố chủng tộc khác rất ít, như Burundi, Algeria, Tunisia, Egypt.
Tóm lại, Phi Châu đầy rẫy những khác biệt. Do đó, đưa ra một kết luận phổ quát sẽ phản khoa học. Phi Châu cũng là nguồn nhân công trẻ cho thế giới.
Điểm đáng ca ngợi ở đây, là tử suất ở Phi Châu đã giảm xuống rõ rệt. Thực phẩm, vệ sinh, y tế, và những biện pháp chống sốt rét, các bệnh thời khí đã làm gia tăng tuổi thọ.
Năm 1950, tuổi thọ Phi Châu là dưới 40 tuổi
Năm 1980, tuổi thọ vượt qua 50 tuổi
Năm 2010-2015 tuổi thọ 60 tuổi. Tăng 50%
Châu Phi chưa được hưởng sự thịnh vượng của đô thị như Châu Mỹ La Tinh hay Đông Á.
Về giáo dục, từ 5-17 tuổi học đến lớp 1.
Như Niger: xong trung học chỉ sanh 4.6 con/ mẹ
xong tiểu học thì sanh đến 6.7 con/ mẹ
(2017)
Yemen: xong tiểu học thì sanh 4.6 con/ mẹ
Xong trung học thì sanh chỉ 3.1 con/ mẹ
Đặc biệt là các quốc gia Hồi Giáo, không phải vì được lấy 4 vợ mà sinh suất cao. Thống kê cho thấy các bà vợ trong chế độ đa thê sinh ít con hơn gia đình đơn thê. Một điểm nữa là chỉ có 1% người Hồi giáo đa thê, đại đa số họ vẫn giữ đơn thê.
— Cao sinh suất là do lập gia đình sớm.
— Không áp dụng các phương pháp ngừa thai
— Đặt giá trị gia đình lên trên số con cái
— Tỷ lệ sanh đẻ cao, thấp liên quan đến kinh tế xã hội, học vấn hơn là số vợ
Những vùng Tây Phi và Trung Phi, lấy nhiều vợ trùng hợp với sanh con nhiều. Ngay hiện tượng đô thị hóa các quốc gia Hồi Giáo như Turkey, Iran, Tusinia số trẻ em cũng giảm nhanh chóng dưới chỉ số thay thế mặc dù cho phép đa thê.
75% dân số thế giới sống ở Nam Á và Châu Phi.
Theo Dân Số Thế Giới của Liên Hợp Quốc thì năm 2050, toàn thế giới sẽ có mức sinh suất dưới trung bình 2.1. Đến năm 2084 sẽ tăng 10.3 tỷ. Đến năm 2100 sẽ tăng 20.2 tỷ dân.
Sự suy giảm dân số bắt nguồn từ sự tự do lựa chọn của con người. Khi sinh suất giảm, và người già nhiều hơn trẻ sơ sinh, hay nói cách khác là người chết nhiều hơn người sanh. Thì ngày đó con người càng bước vào suy giảm toàn diện và vô hạn.
Lần giảm cách đây 70 năm, từ nạn dịch đã tàn phá dân số thế giới Á–Âu. Nhưng sau đó con người tự điều chỉnh, nâng dân số tăng gấp 20 lần. Và chỉ trong thế kỷ 20, con người đã gia tăng 4 lần.
Ngày nay, hầu hết các chính phủ có những chính sách khác nhau cho mỗi quốc gia, nhưng tựu chung là nâng đỡ các đôi vợ chồng trẻ như nghỉ thai phụ lâu hơn cho cả vợ lẫn chồng. Nhà nước sẽ chăm sóc thai nhi. Giảm học phí đi học. Thời khóa biểu làm việc cũng mềm dẻo hơn… Nhưng cho đến nay chưa có một quốc gia nào thành công trong việc làm gia tăng sinh suất cả. Và chưa có một quốc gia nào có đường lối cụ thể để chuẩn bị thay thế cho một xã hội trên đường già nua.
Vấn đề suy giảm hay gia tăng dân số, chúng ta không thể đánh giá tốt hay xấu, mà chúng ta dùng nó như để quản trị kinh tế, quân sự, xã hội cho quốc gia. Chúng ta nên chi tiết hóa trách nhiệm cho sự suy giảm toàn cầu đề từ đó hoạch định các chính sách phụ thuộc để kiểm soát dân số. Nghĩa là chúng ta nên có cái nhìn toàn bộ của vấn đề hơn là chắp vá từng giai đoạn, từng bộ phận.
Hoàng Đình Tạo
Theo https://thekymoi.media ngày 26/2/2026
Tham khảo:
– Thời Đại Giảm Dân Số, DVC online
– Tỉ lệ sinh Trung Quốc thấp kỷ lục, dân số tiếp tục giảm, BBC
– The coming politics of population decline, GA
– Zero population growth, Wikipedia
– After the Peak: Challenges of a Shrinking World, Vision of Humanity
– Malthusianism, Britannica Money
– The Population Bomb, Wikepedia
– Population Growth in Latin America and the Caribbean Falls Below Expectations and Region’s Total Population Reaches 663 Million in 2024, Cepal
– Fertility rates will see ‘dramatic decline’ with 97% of countries unable to sustain populations, euro news
– The demography of South Asia from the 1950s to the 2000s, Cairn.info
– Africa 2050: Demographic Truth and Consequences, Hoover Institution
* * *
Bài 2: Trường hợp đặc thù Việt Nam
Một gia đình người Việt. (Photo: Pixabay)
Việt Nam là một quốc gia già nhanh. Năm 2019, người già chiếm 11.9%; nhưng đến 2036 số người già tăng lên 25%. Người Việt Nam biến Việt Nam từ một quốc gia “sắp già” sang quốc gia “già”. Tình trạng này là do tử suất giảm và tăng tuổi thọ trong thập niên vừa qua.
Tình trạng này mang lại nhiều thách đố và cơ hội tiềm năng cho nền kinh tế: xã hội già sẽ mang lại sự thiếu hụt nhân công và gia tăng an sinh xã hội cho người cao niên. Người già được chăm sóc tại nhà, đó là vấn đề khó khăn hiện nay, vì bao nhiêu gánh nặng cũng đổ lên đầu các vợ chồng trẻ.
Tỷ suất sanh đẻ ở Việt Nam 12/1000.
Tính ra hàng ngày sanh được 3.340 em bé.
Hàng năm là 1.219.182 em bé.
Tỷ số trung bình là 1.91 em bé/ một mẹ.
Từ đó các chuyên viên phỏng đoán, vào năm 2034, Việt Nam có chừng 104.7 triệu người; đến năm 2039 là 110.3 triệu người.
Ở Việt Nam, chừng 43 triệu người sống ở các đô thị, tức chiếm 42%. Và 59 triệu người sống ở nông thôn, tức chiếm 58% dân số. Đến 2045 thì 50% người dân sống ở đô thị. Đến 2074 thì 65% người sống ở đô thị. Đa số là người Kinh và có 54 sắc tộc được chính quyền công nhận.
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi là 18.8/1000. Tử suất bé sơ sinh là 14/1000.
Tuổi thọ phái nữ là 79.6, phái nam là 70.4. Dân số dưới 25 tuổi chiếm 42.4%. Từ 15–24 tuổi chiếm 17.8 %, Quán tính dân số là 22.9%. Tuổi trung bình là 38.9 (2026).
Theo thống kê 2024–2025, tuổi lao động từ 15–64 chiếm từ 60–70%. Từ 0–14 tuổi chiếm 23 %. Trên 65 tuổi từ 7–9%. Nhưng đến khoảng 2050–2074 người già chiếm 21%. Mật độ 330 người/ km2. Tổng dân số là 101.9–102.2 triệu dân.
Theo thống kê ngày 1/4/1999, dân số Việt Nam chỉ khoảng 76 triệu, là quốc gia đứng hạng thứ 13 về dân số. Nhưng từ 1979–1999 đã tăng gần 24 triệu người gia nhập vào khối dân số quốc gia. Tuy nhiên, sau đó tỷ lệ sinh suất giảm mạnh, trong năm 2000 chỉ tăng 1.4%.
Từ năm 1979–1989 dân số Việt Nam tăng 27.7%, nhưng từ 1989–1999 chỉ tăng 18.5%. Lý do chính là những cặp vợ chồng trẻ muốn thu hẹp gia đình với khuôn khổ ít con (chẳng hạn chỉ 2).
Thuốc ngừa thai được sử dụng rộng rãi, từ 1988–1997, có đến 19% phụ nữ dùng thuốc ngừa thai, 6/10 sử dụng các phương tiện hiện đại hơn như khử trùng, thuốc, bọc cao su có 13% phụ nữ dùng. 25% đặt vòng. Tóm lại, từ 15–49 tuổi có đến 81% nam hoặc nữ dùng các phương pháp tránh và ngừa thai.
Thị trường cho các phương pháp này, được đánh giá trong năm 2022 là 65 triệu US Dollar. Đến năm 2030 sẽ tăng lên 121 triệu US Dollar.
Vì không sử dụng hiệu nghiệm các phương pháp tránh và ngừa thai, hay không sử dụng, khiến phụ nữ có con ngoài ý muốn. Do đó biện pháp phá thai cũng được áp dụng cho phụ nữ. Tỷ lệ 1.3 / một phụ nữ. Ở miền Bắc thì cao hơn miền Nam.
Theo Bộ Y Tế, Việt Nam trung bình nạo thai khoảng từ 300.000 –350000 trường hợp mỗi năm. Nhưng thực tế theo các chuyên viên y tế thì khoảng 1.2 triệu đến 1.6 triệu trường hợp mỗi năm. 40% phụ nữ mang thai là đi đến nạo thai. Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu về phá thai. Trung bình trong đời phụ nữ nạo thai 2.5 lần. Hầu hết là các thiếu nữ trẻ chưa lập gia đình, không được giáo dục về tính dục. Việt Nam cho phép nạo thai đến 22 tuần tuổi.
Trong những năm 1979–1999, dân số thành thị gia tăng từ 10.1 triệu lên 18.1 triệu, làm gia tăng nhu cầu nhà ở, vận chuyển… những chỉ dấu tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn đa số sống ở nông thôn nhiều so với các quốc gia Đông Nam Á. Hai vùng nhận nhập cư nhiều nhất là vùng Đông Nam và cao nguyên Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, từ 1994–1999 nhận khoảng 400 ngàn nhập cư. Trong khi đó đồng bằng sông Hồng không có gì hấp dẫn cho dân nhập cư.
Số gia tăng người già cũng đáng kể. Năm 1979, chỉ 3.7 triệu người già, chiếm 6.7% dân số. Năm 1989 tăng 4.6 triệu. Năm 1999 tăng 6.2 triệu. 60% người già là phụ nữ và 4/5 sống ở nông thôn. Đồng bằng sông Hồng cao nhất, có đến 10%.
Vấn đề sức khỏe cũng là vấn đề đáng quan tâm. Tuổi từ 60–64 có tình trạng sức khỏe tốt, từ 17.3% xuống còn 4.7%. Với tuổi 75 hay trên, cho rằng sức khỏe xấu đi từ 26% lên 63.7%.
Trong vòng 25 năm tới, dân số Việt Nam có thể tăng đến 120 triệu. Mặc dù sinh suất có giảm nhưng quán tính của khối lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh con còn khá cao, có thể góp vào dân số một triệu mỗi năm.
Tỷ lệ TFR (total fertility rate) của Việt Nam là 2.3, cũng gần mức thay thế. Tuy nhiên tỷ lệ sinh suất khác nhau tuỳ vùng miền.
Chỉ 61 tỉnh, thành phố là đạt chỉ tiêu. Còn các tỉnh thượng du, duyên hải trung bộ, Tây nguyên vẫn còn thấp.
Sự suy giảm nhanh chóng của tuổi từ sơ sinh đến 15 tuổi, từ 25 triệu trong năm 1999 xuống còn 21 triệu trong năm 2010. Những lứa tuổi vào đời muốn chuẩn bị tương lai và tìm việc nên chậm trễ có gia đình riêng.
Chất lượng của cuộc sống cũng giảm khá nhiều. 8% bé sơ sinh chỉ cân nặng 2.5 kg. Và 36.7% trẻ em suy dinh dưỡng. 1.5% không thể làm việc được.
Chỉ 20% công nhân có tay nghề cao, trong khi các nước khác là 50%.
Chỉ 2.5% công nhân có bằng đại học.
Vượt qua những điểm tích cực, thì công nhân thời vụ và nhập cư cũng làm cho các phúc lợi xã hội khó đi đến định kỳ.
Rõ ràng là Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại mới, trong khi chuyển biến dân số sắp đi đến bão hòa. Tuy nhiên có một vấn đề là nạo phá thai quá cao không thể chấp nhận được. Điểm này vừa thiệt hại chiến lược dân số; và dễ làm thiệt hại cơ quan thụ thai của người phụ nữ. Làm sao chính quyền và người dân cố gắng đừng để mang thai ngoài kế hoạch cao quá.
Thứ đến, cho triển vọng một nền kinh tế vươn lên, để đi chuyển số công nhân từ nông nghiệp sang công nghiệp. Cùng là giáo dục nữa.
Hoàng Đình Tạo
Theo https://thekymoi.media ngày 4/3/2026
Tham khảo:
– Demographics of Vietnam, Wikipedia
– Vietnam population, Worldometer
– An Overview of Population and Development in Vietnam, PRB

Be the first to comment