Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2
Người Việt Boston — Trọng Đạt: Năm 1973 – Miền Nam Mạnh Hơn Miền Bắc.

Trọng Đạt: Năm 1973 – Miền Nam Mạnh Hơn Miền Bắc.

 

Tổng thống Nixon nói (No More Vietnams trang 170) sau ngày ký Hiệp định Paris 27-1-1973 miền Nam mạnh hơn miền Bắc về mặt quân sự.

Đầu năm 1973, sau khi Hoa Kỳ rút quân về nước, VNCH rất mạnh về quân sự. Cuộc oanh tạc của Mỹ chấm dứt cùng với ngưng bắn. CSBV vẫn còn đóng ở một số nơi họ chiếm được trong cuộc tấn công 1972 khiến cho việc phòng thủ của miền Nam thêm phức tạp tuy nhiên tại đó lực lượng của họ rất yếu sau khi bị thảm bại, BV không lợi dụng được cơ hội.
Cũng theo ông tháng giêng 1973 cán quân quân sự thuận lợi cho miền Nam: trên 450 ngàn quân chính qui trong đó một nửa là tác chiến, một nửa là yểm trợ, Không quân có 54 ngàn người, Hải quân 42 ngàn người, Địa phương quân 325 ngàn người, Nghĩa quân 200 ngàn. Bắc việt có vào khoảng từ 500 cho tới 600 ngàn quân trong đó 290 ngàn đóng ở miền Bắc, 70 ngàn ở Lào, 25 ngàn ở Miên, chỉ vào khoảng 148 ngàn ở miền nam Việt Nam.
Hoa kỳ đã làm nghiêng cán cân về phía VNCH bằng sự cung cấp ồ ạt cuối năm 1972 qua hai chiến dịch lấy mật danh là Enhance (Gia tăng) và Enhance Plus (Gia tăng Cộng) để thay thế những vũ khí, quân cụ bị mất hoặc xử dụng trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, cũng là để cải tiến khả năng tác chiến của miền Nam trước khi Hiệp định ngưng bắn chỉ giới hạn cho viện trợ trên căn bản một đổi một. Những hàng quân sự trao cho miền Nam gồm ba tiểu đoàn pháo binh 175mm, hai tiểu đoàn thiết giáp M-48, 286 chiếc trực thăng UH-1, 23 chiếc trực thăng không vận CH-47, 22 chiếc trực thăng vũ trang AC-119K, 28 chiếc máy bay chiến đấu A-1, 32 máy bay vận tải C-130A, 90 oanh tạc cơ loại nhẹ A-37, 118 phản lực cơ chiến đấu F-5A và và 23 phi cơ thám thính điện tử EC-47. Bắc việt cũng vội chuyên chở vũ khí cho quân đội của họ ở miền Nam nhưng với số lượng thua xa Mỹ (Sách đã dẫn trang 170-171).
Quân đội VNCH chiếm ưu thế trên khắp các mặt trận, BV bị thiệt hại rất nặng trong trận thảm bại 1972. Phía dưới khu phi quân sự, dọc theo mặt trận phía Bắc VNCH, quân đội BV bị cầm chân cố bám vào những mảnh đất đã chiếm được, nhiều sư đoàn chỉ còn 50% lực lượng, khu vực quanh Sài gòn nhiều đơn vị quân đội BV chỉ còn dưới 30% lực lượng không đủ đe dọa nam VN, tình huống của Hà Nội thê thảm, theo TT Nixon họ mất 190 ngàn quân năm 1972.
VNCH kiểm soát các khu vực sầm uất thịnh vượng, các đường giao thông, khu đông dân cư, kiểm soát 80% đất đai và 87% dân số, Hà Nội nói cho các lực lượng của họ ở miền Nam biết phải chở ít nhất từ 3 cho tới 5 năm sau mới thực hiện được tổng tấn công: Một Tướng lãnh CSBV viết:
“ Quân đội ta kiệt lực, các đơn vị tan rã. Chúng ta vẫn chưa bù đắp nổi chỗ thiếu hụt. Chúng ta thiếu nhân lực cũng như lương thực và đạn dược, rất khó đương đầu với địch”.
(No More Vietnams, p. 171)

Nói chung tinh thần và hiệu quả chiến đấu của BV rất thấp.
Con số thiệt hại 190 ngàn của BV năm 1972 do TT Nixon đưa ra như trên quá cao so với những ước lượng khác. Cuộc tổng tấn công 1972 thường gọi là trận mùa hè đỏ lửa bắt đầu cuối tháng 3 và chấm dứt cuối tháng 9 khi quân đội VNCH tái chiếm cổ thành Quảng Trị gồm ba mặt trận chính: Quảng Trị, Kontum, An Lộc.

“Tính đến cuối tháng 9-1972, sự thiệt hại nhân mạng của quân đội CSBV được ước lượng vào khoảng 100 ngàn người, phía VNCH khoảng phân nửa số thiệt hại của CS. Tướng D. Kinnard đưa ra một con số khiêm nhường hơn là khoảng từ 50 tới 70 ngàn binh sĩ CS đã bị thương vong cùng với khoảng 700 chiến xa bị phá hủy. Về phía VNCH, ông ước lượng có khoảng 30 ngàn binh sĩ bị tử trận”
Nguyễn đức Phương – Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 587.

Trong trận này Hà Nội dốc toàn lực vào để tạo thế mạnh tại bàn hội nghị hoặc giải phóng miền Nam lợi dụng khi Mỹ đã rút gần hết chỉ còn chưa tới 10%. Họ đưa vào tổng cộng khoảng hơn mười sư đoàn gồm 6 sư đoàn tại chiến trường Quảng Trị, hai sư đoàn tại Kontum và ba sư đoàn tại Bình Long, An Lộc. Tổng cộng khoảng 130 ngàn người, trong khi trận đánh diễn ra họ bổ sung thêm 50 ngàn người
Hoa Kỳ bắt đầu tăng cường yểm trợ cho VN tại Quảng Trị, hai hàng không mẫu hạm Constellation và Kitty Hawk được tăng cường tại Nam Hải cùng với hai hàng không đã có sẵn từ trước Corral Sea và Hancock. Ngày 5-4 chỉ có 5 tuần dương hạm Mỹ tại Cửa Việt nhưng đến ngày 17-4 đã lên tới 20 khu trục và tuần dương hạm yểm trợ hải pháo tại đây, tổng số phi cơ B-52 tại Guam và Thái lan được gia tăng lên tới 138 chiếc.
Trong ngày đầu yểm trợ của Đệ Thất hạm đội chỉ có 2 khu trục hạm, khi cuộc tấn công bắt đầu, các chiến hạm được điều động vào yểm trợ cho Sư đoàn 3. Cùng một lúc trong tháng 6 các dàn hải pháo được tăng cường, số chiến hạm đã lên tới 38 khu trục hạm và 3 tuần dương hạm tuy nhiên Hải pháo không thể bắn xa về hướng Tây. Khi Quân đoàn bắt đầu phản công, số chiến hạm ứng chiến từ 8 lên tới 41 chiếc mỗi ngày, bắn từ 1,000 đến 7,000 quả mỗi ngày. Hoả lực VNCH và Hoa kỳ rất đầy đủ suốt thời gian CSBV tấn công. Nhờ thành lập Trung tâm phối hợp hoả lực Quân đoàn đã sử dụng hữu hiệu khả năng yểm trợ của các nguồn hoả lực VNCH và Mỹ.
Theo Nixon BV tiến nhanh là nhờ có tiếp liệu, ông cho lệnh phong tỏa Hải Phòng tại đây hàng năm nhận 2,1 triệu tấn vật liệu cho BV gồm hơn 85% hàng quân sự và 100% xăng dầu, kết quả là cuộc tấn công của BV bị khựng lại ngay
Tháng 9 năm 1972, khi đại quân ta tiến chiếm lại Cổ thành Quảng Trị, BV đã đưa ra tới 6 sư đoàn hòng bao vây tiêu diệt hai sư đoàn tổng trừ bị thiện chiến nhất của VNCH. Những đạo quân tập trung đông đảo của CSBV trở thành miếng mồi cho hoả lực pháo binh, không quân VNCH và nhất là pháo đài bay B-52. CSBV đã hoàn toàn sai lầm khi cho rằng cứ lấy số đông là đè bẹp được đối phương, ta cũng thấy nếu không có B-52 trải thảm, các đại đơn vị VNCH có thể đã bị các lực lượng đông đảo của Cộng quân bao vây tràn ngập. Theo Nixon tháng 11-1972 chiến hạm Mỹ đã bắn 16 ngàn tấn đạn lên các vị trí của Cộng quân gần khu phi quân sự và đã ném 155 ngàn tấn bom xuống BV.
TT Nixon nói (No More Vietnams, p.144, 145) nay Hà Nội đánh theo chiến tranh qui ước bằng những đơn vị lớn, các sư đoàn, những dẫy xe tăng, hệ thống tiếp liệu trở thành mục tiêu làm mồi cho không quân ta. Ông đã lệnh cho các cấp chỉ huy xử dụng tối đa ưu thế không quân và đã thành công đè bẹp nỗ lực quân sự của BV. So với BV, miền nam VN bị thiệt hại nhẹ hơn nhiều cả về nhân lực lẫn vũ khí, tiếp liệu nhờ yểm trợ của không lực Việt – Mỹ.
Năm 1972 BV bị thiệt hại trầm trọng về quân sự, nhân mạng cũng như hạ tầng cơ sở qua trận Tổng công kích kể trên và trận oanh tạc Giáng Sinh cuối năm 1972. Trận Giáng sinh đã gây thiệt hại trầm trọng về vật chất hạ tầng cơ sở của BV. Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons săng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị hư hỏng. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160 ngàn tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Đến tháng 1-1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30 ngàn tấn, vào khoảng năm lần. Các phi trường, nhà kho, các mục tiêu quân sự, kho hàng quốc phòng, nhà máy điện, nhà ga đã bị không quân Mỹ oanh tạc dữ dội.
Trong trận oanh tạc long trời lở đất mùa Giáng Sinh năm 1972, Nixon vừa buộc CSBV trở lại bàn hội nghị, vừa đánh phá tan tành hạ tầng cơ sở miền Bắc như đã nói ở trên: phi trường, nhà ga, kho hàng, kho tiếp liệu, dàn hỏa tiễn, nhà máy điện, kho xăng dầu, cơ sở quân sự… bị oanh kích đánh phá sập tiệm.

“Trận ném bom đã đạt mục đích quân sự, chúng ta đã đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt”
No More Vietnams. Trang 158

Nixon đã đánh phá BV tan nát để sau khi Mỹ rút đi họ sẽ không có khả năng xâm lược miền Nam.
Sau khi ký Hiệp Định Paris, miền Nam mạnh hơn miền Bắc như đã nói trên nhờ:
– Bị thiệt hại nhẹ hơn BV rất nhiều trong trận tổng công kích 1972,
– Được Mỹ cung cấp nhiều vũ khí, hàng quân sự khi sắp ký Hiệp định ngưng bắn.
– BV bị thiệt hại trầm trọng qua các trận oanh tạc của pháo đài bay B-52 từ tháng 5-1972 cho tới cuối năm 1972, các sư đoàn chính qui bị đánh tan nát trong trận tổng công kích này, tổn thất nhân mạng, vũ khí đạn dược rất nặng nề thêm vào đó trận oanh tạc Giáng sinh 1972 đã phá hủy nhiều hạ tầng cơ sở kinh tế, giao thong quân sự… của BV tại Hà Hội Hải phòng.
Ngoài ra tác giả Nguyễn đức Phương có nói trong Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập trang 641.
“Những trận đánh trong chiền dịch giành dân lấn đất năm 1973 cho thấy chính phủ và quân lực VNCH vẫn đang ở thế mạnh trong khi các lực lượng CS do thiệt hại của cuộc tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972 vẫn chưa đủ sức phục hồi. CS do đó đã chủ trương khai thác mặt trận chính trị đồng thời củng cố lại lực lượng quân sự”.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết miền Bắc muốn đánh chiếm miền Nam nhưng họ không thực hiện được vì còn suy nhược rất nhiều. Họ xây dựng xa lộ Đông trường Sơn song song với đường mòn Hồ chí Minh nhưng nằm trong địa phận VNCH, mục đích chuyển quân dần dần và xin viện trợ quân sự của khối CS quốc tế ngõ hầu phục hồi sức mạnh.
Sau ngày ký Hiệp định Paris nếu miền Nam vượt qua vĩ tuyến 17 đánh ra Bắc bảo đảm sẽ giải phóng xong miền Bắc vì sau 1972 Quân đội nhân dân anh hùng đã bị kiệt sức bởi những trận oanh tạc chí tử của pháo đài bay B-52, trong khi Quân đội VNCH đang ở thế mạnh như đã nói trên. Mặc dù đủ khả năng xóa bỏ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trên bản đồ thế giới nhưng miền Nam VN không bao giờ được làm như thế, đó chỉ là điều mơ tưởng. Trước hết không bao giờ có sự đồng ý của người Mỹ, phong trào phản chiến sẽ chống đối dữ dội, sự phẫn nộ trên thế giới nhất là tại các nước Tây Phương sẽ thể hiện trong những cuộc xuống đường ầm ĩ.
Dần dần VNCH bị Quốc hội Mỹ cắt giảm quân viện xương tủy từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, con số này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (theo Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471). Trong giai đoạn sau Hiệp định Paris, VNCH vẫn phải xử dụng vũ khí đạn dược để chống trả sự vi phạm của BV, hỏa lực giảm trên 70% từ tháng 7-1974.
Trong khi ấy CS quốc tế vẫn viện trợ quân sự đều đặn cho Hà Nội theo bản tin của BBC.com ngày 10-5-2006 một buổi hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2006 và đã cho biết:
Giai đoạn 1969-1972 BV được Nga, Trung Cộng viện trợ 684,666 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Giai đoạn 1972-1975 họ nhận được 649,246 tấn hàng vũ khí, số lượng hàng viện trợ của hai giai đoạn tương đương nhau.
Nhờ viện trợ dồi dào của CS quốc tế, miền Bắc đã chuyển bại thành thắng và miền Nam sụp đổ ngày 30-4-1975 vì kiệt quệ về tiếp liệu đạn dược.

Trọng Đạt.

Tham Khảo:

– Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985
– Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam-The Free press 2001
– Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
– Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
– The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
– Stanley Karnow: Vietnam, A History, A Penguin Books 1991
– Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war
– Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001
– Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.
– Cao Văn viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography 2003

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

5 Comments

  1. quang phan says:

    Tổng Thống Richard Nixon: “Không có biến cố lịch sử nào của nước Mỹ mà bị hiểu lầm nhiều hơn cuộc chiến Việt Nam. Lúc ấy nó đã bị tường trình sai, và ngày nay nó bị nhớ sai. Hiếm khi nào nhiều người đã sai lầm đến thế. Chưa bao giờ sự hiểu lầm về cuộc chiến đó có những hậu quả bi thảm đến như vậy”
    ——————————————————————————————
    Nixon:”Có quá nhiều trí thức Mỹ và những bậc thượng lưu ưu tú của nền văn hóa Mỹ đã tự tỏ ra là họ xuất sắc sáng lạn, nhưng họ bị chột một con mắt: Họ có xu hướng chỉ thấy điều xấu xa ở phía bên Hữu, chứ không thấy xấu ở phía bên Tả. Họ có thể cực kỳ đơn sơ và ngây thơ về những thực tế của cuộc chiến toàn cầu mà chúng ta đang chiến đấu trong đó. “Chiến tranh là xấu”. “Hòa bình là tốt”. Ngày nay, vấn đề Phương Tây sống hay chết nằm trong tay lực lượng ưu tú mới của mình.
    Nước Mỹ thua ở Việt Nam vì lực lượng ưu tú này luôn luôn mô tả trước là Diệm rồi sau là Thiệu là những nhà độc tài tham nhũng, và rằng cuộc chiến là xấu xa không đáng để tham chiến. Họ làm ngơ không đếm xỉa đến điều là nếu không chiến đấu thì sự thể sẽ còn tồi tệ hơn như thế nào….Các đài truyền hình thì lãng mạn hóa đối phương gọi chúng là những nhà cách mạng, cũng giống như tờ Nữu Ước Thời Báo lãng mạn hóa phe Fidel Castro hai thập niên trước, làm cho cuộc cách mạng của hắn ta trở nên chính đáng, và làm cho hắn ta nắm chắc phần thắng”.
    ——————————————————————————————-
    Nixon: “Sự bại trận của chúng ta một phần vì Cộng sản vi phạm hiệp định Ba Lê, một phần vì lỗi của tổng thống Thiệu và các tướng lãnh Miền Nam, nhưng phần lớn là vì Quốc Hội Hoa kỳ, còn quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu dũng cảm và đủ khả năng đánh bại quân Bắc Việt từ năm 1972”.

  2. quang phan says:

    Tác giả Trọng Đạt viết “…ta cũng thấy nếu không có B-52 trải thảm, các đại đơn vị VNCH có thể đã bị các lực lượng đông đảo của Cộng quân bao vây tràn ngập…” ( Trích)
    Việc phải nhờ đến sự yểm trợ của phi pháo Hoa kỳ là điều dĩ nhiên và cần thiết. Lý do là vì Việt Nam Cộng Hoà chỉ được Hoa kỳ viện trợ cho những phi cơ chiến đấu và oanh tạc cơ hạng nhẹ sản xuất từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, mà đến nỗi trong những năm sau này của cuộc chiến chẳng có người phi công Mỹ nào còn dám ngồi trong những chiếc “quan tài bay” đó nữa. Chiếc phi cơ cánh quạt Skyraider- do phi công Hoa kỳ lái- cuối cùng bị hạ vào năm 1968, còn chiến đấu cơ “tý hon” F5 cuối cùng bị hạ là vào năm 1967. Loại phản lực oanh tạc cơ hạng nhẹ A 37 thì người Mỹ chỉ xử dụng trong năm 1967.
    Các loại chiến đấu và oanh tạc cơ thông dụng mà Hoa kỳ xử dụng thời đó như A4 Skyhawk, A6 Intruder, A7 Corsair, F105 Thunder Chief, F4 Phantom, etc…thì phi công ta chẳng hề được đụng đến, nói chi đến loại oanh tạc cơ hạng nặng B 52, khắc tinh đối với chiến thuật đánh biển người của giặc Cộng.

  3. quang phan says:

    ” Cám ơn” sự viện trợ “hào phóng” của nước bạn Hoa kỳ ? Dưới đây là vài trích đoạn từ bài việt về trận đánh trong năm 1972 tại căn cứ Lệ Khánh, nằm phía Tây Bắc của thành phố Kontum :
    “…Đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy trưởng biệt động quân của Quân Khu II, đại tá Nguyễn Bá Thìn, tỉnh trưởng Kontum và tướng Lý Tòng Bá, tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh thường xuyên bay trực thăng trên Lệ Khánh, trực thăng nhiều lần đáp xuống nhưng không thể nào thực hiện được. Nhất là đại tá Đương, ông lo lắng cho các binh sĩ của ông đang ngày đêm chịu đựng những đợt tấn công nặng nề của địch…….
    Ngày thứ 20, tính từ ngày đẩy lui địch quân đợt đầu, pháo của địch dội vào tới mức không thể đếm được nữa……

    Cộng sản Bắc Việt đưa vào chiến trường những thứ vũ khí mới: Đó là xe tăng T-54 và hoả tiễn chống chiến xa AT-3 Sagger của Liên Xô. Xe tăng T-54 vượt trội hơn M-41 của Việt Nam Cộng Hoà. Nó tương đương với M-48 Patton của Hoa Kỳ. Hỏa tiễn AT-3 Sagger là loại vác vai, là hỏa tiễn điều khiển được hướng dẫn bằng dây, rất chính xác, bắn xa 3,000 mét, xuyên thép dày 200 ly ở gốc độ 60, trong vòng 1,000 mét có thể điều khiển bằng mắt. Nếu xa hơn nữa, thì phải dùng ống nhắm…..
    Mười chiếc xe tăng M-41 thì bị hỏa tiễn AT-3 bắn cháy 8 chiếc, 2 chiếc bị đứt xích…………T-54 xếp hàng dọc chạy về phía Tân Cảnh. Phi cơ AC-130 tác xạ ngăn cản nhưng không có hiệu quả, vì không có vũ khí chống xe tăng, nhất là xe tăng mới xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trường VN với vỏ thép rất dầy….
    Hai chiếc T-54 đã lọt vào trung tâm phòng thủ, và chạy về 2 hướng khác nhau. Liền sau đó, 2 chiếc M-41 thuộc chi đoàn 1/14, mỗi chiếc bắn 3 quả đại bác 76 ly vào đúng cạnh sườn của chiếc T-54. Bị trúng đạn, T-54 bốc khói nhưng chưa bị hạ. Chiếc T-54, vỏ thép dày 105 ly, nặng 36 tấn, đã phục hồi mau lẹ, và quay súng bắn hạ chiếc M-41 bằng 2 quả 100 ly, rồi bắn tiếp phát thứ ba hạ chiếc M-41 còn lại…..”

  4. quang phan says:

    Trong bài viết Lật Tẩy Viện Trợ Mỹ Thời Việt Nam Cộng Hoà, dưới bút hiệu Niên Dư- nguyên thượng nghị sĩ chủ tịchUỷ Ban Nội Viện Nội Qui Thượng Nghị Viện, tổng thư ký Uỷ Ban Quốc Phòng Thượng Nghị Viện, uỷ viên Uỷ Ban Ngoại Giao Thượng Nghị Viện, chủ bút tuần báo Quân Đội, chủ bút nguyệt san Phụng Sự- viết tướng Phạm Văn Phú – nguyên chủ tịch Uỷ Ban Quân Sự Bốn Bên kiểm soát thi hành Hiệp Định Ba Lê- có kể với ông rằng “… trong lúc giải lao trong phiên họp đầu tiên, thượng tướng Bắc Việt Trần văn Trà thố lộ ” Bọn mình tuy là ngồi họp với nhau đây, nhưng quyết định do đàn anh Nga Mỹ dàn xếp xong xuôi rồi. Mỹ chịu hy sinh các anh để đánh đổi Trung Đông. Vậy thì mình chỉ cần làm việc cho có vẻ hình thức thôi. Chúng tôi sẽ không đòi hỏi các anh phải khai báo số viện trợ quân sự nhập khẩu một cách chính xác làm gì cho thêm phiền phức. Tôi biết chắc chắn các anh sẽ không được Hoa kỳ tiếp tế đầy đủ để có thể một đổi một, chứ đừng nói đến vấn đề nhập khẩu qua số viện trợ ấn định “.

  5. binh Boston says:

    Nguoi Thuong Binh (nhac si Anh Bang)

    https://youtu.be/MqZUS–NjD0

 
 

Leave a Comment

 




 
 

 
 

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4