Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2
Người Việt Boston — Trần Thu Miên: Hành Hương Về Đền Dĩ Vãng

Trần Thu Miên: Hành Hương Về Đền Dĩ Vãng

 

Lễ Phục Sinh, hay Easter, 2018, của Thiên Chúa Giáo rơi vào đúng ngày đầu tháng Tư, ngày tôi lên đường sang Thuỵ Sĩ dự lễ bốc mộ thầy tôi. Boston vừa qua mùa đông nghiệt ngã, cây thông già trước sân nhà tôi bị bão làm gẫy nửa thân, cành vương vãi lên mái nhà gây thiệt hại khá nặng. Từ ngày biệt xứ ly hương, 43 năm ròng rã, tháng Tư nào cũng khơi dậy sóng gió trong hồn mình về chinh chiến quê nhà năm xưa. Dù đời mình đã chai lì theo năm tháng bôn ba đây đó nơi xứ người, kỷ niệm và tình cảm thời niên thiếu, nhất là ở một nơi có tên Châu Sơn vẫn còn nguyên vẹn trong tim óc. Hình ảnh của thầy và bạn ở tu viện “khổ tu” Châu Sơn từ hơn 50 năm qua vẫn linh động như một cuộn phim không đoạn kết.

Bốc Mộ Thầy Để Nhìn Xương Cốt

Thầy Nguyễn Thành Trung và Duy Quân bên mộ cha Tôma

Cuối tháng 3, 2018, tôi nhận tin từ người bạn cùng lớp, bây giờ là Linh Mục Viện Phụ của Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn, Đơn Dương, Lâm Đồng, Việt Nam. Đan viện hay tu viện này là chi nhánh của hội dòng Xitô Thánh Gia, có cội nguồn từ hội dòng Cistercian do thánh Robert of Molesme sáng lập từ tu viện Cîteaux ở Pháp năm 1098. Hội dòng tổ chức đời sống tu sĩ theo tinh thần và quy luật của thánh Biển Đức (St. Benedict). Viện phụ Nguyễn Tri Phương báo tin sẽ sang Thuỵ Sĩ để đưa hài cốt của Linh Mục Tôma Nguyễn Đình Tuyển về quê nhà Châu Sơn, Việt Năm sau 20 năm chôn tại nghĩa trang nhỏ bên cạnh ngôi thánh đường của làng Orsonnens thuộc vùng Fribourg. Ở Thuỵ sĩ có phong tục bốc mộ người chết sau một thời gian ấn định (15-25 năm) tuỳ địa phương để nhường đất chôn người khác. Như vậy quan niệm về nấm mộ là nơi an nghỉ cuối cùng không còn ý nghĩa nữa. Tại Orsonnens, dân làng chỉ được chôn thân nhân 20 năm rồi phải bốc mộ để hoả thiêu xương cốt. Chính vì vậy mà bạn tôi và một vài tu sĩ sang Thuỵ Sĩ để bốc mộ linh mục Tôma Nguyễn Đình Tuyển, lưu lạc Âu Châu từ trước biến cố lịch sử 30 tháng Tư 1975, qua đời năm 1998 tại tu viện Monastery Notre-Dame de Fatima làng Orsonnens. Đan viện Châu Sơn, Đơn Dương là nơi thầy chúng tôi đã chọn làm gia đình vĩnh viễn, như vậy đưa tro xương cốt thầy về Châu Sơn sau hơn 40 năm lưu xứ là điều phải đạo.
Những anh em vào học tu ở Châu Sơn từ năm 1967 ai cũng biết và nhớ cha Tôma Nguyễn Đình Tuyển, vừa là thầy giáo vừa là linh mục giám đốc Đệ Tử Viện, hay trường nội trú cho các tu sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Cha Tôma, theo huyền thoại giữa chúng tôi, là tu sĩ thông thái uyên bác về Kinh Thánh. Thân hình cha nhỏ bé so với tầm thước trung bình người Việt Nam, da ngăm đen, hai mắt sáng, đi đứng khoan thai, tính tình trầm lặng, và nói năng từ tốn. Hình như quê quán ngài ở xứ Nghệ miền Trung nên giọng nói dù đã thay đổi nhiều vẫn còn những âm hưởng trúc trắc. Nếu ngài còn sống thì năm nay 91 tuổi. Như vậy khi tôi và các bạn cùng lớp nhập Đệ Tử cha vừa 40 tuổi. Có lẽ anh em lớp tôi được ngài chọn qua cuộc thi tuyển sinh nên tên lớp là Tôma. Theo Kỷ Yếu 81 năm thành lập dòng Châu Sơn, trên danh sách các đan sĩ đã qua đời có cha Tôma Nguyễn Đình Tuyển, nhưng không ghi rõ Tôma nào. Giáo hội Công Giáo có ít nhất ba vị thánh tên Thomas (Tôma): Tôma Tông Đồ, Thomas Aquinas và Thomas More. Tôi nghĩ tên thánh của cha Nguyễn Đình Tuyển là Thomas Aquinas, một giáo sư thần học danh tiếng của Thiên Chúa Giáo. Tên thánh bổn mạng này cũng rất phù hợp với thầy tôi.
Nếu hỏi anh em đệ tử thời cha Tuyển về kỷ niệm với ngài, đương nhiên là mỗi người đều có những kỷ niệm riêng. Còn tôi, tôi vẫn không quên ít nhất là hai lần tôi đã “chửi hay cãi” lại ngài. Một lần sau giờ đá banh chiều, tôi đang loay hoay cúi đầu hứng nước rửa mồ hôi nhễ nhãi trên mặt cho kịp giờ lên nhà thờ đọc kinh trước cơm tối, có bàn tay ai ở sau lưng thọc mạnh vào hai hông mình. Tôi tưởng đứa nào đến chọc phá nên không ngại ngùng văng tục chửi. Người sau lưng vẫn tiếp tục lấy tay chọc vào hông tôi. Tức quá, quay lại, tôi đưa tay tính đấm vào mặt thằng nào lì lợm, nhưng lại thấy ngay cha Tôma, mặt nghiêm nghị nhìn tôi lắc đầu rồi bỏ đi. Cha làm tôi hú hồn, cả đêm ấy không ngủ được vì sợ sáng dậy sẽ được gọi lên văn phòng cha nhận tin bị đuổi về. Cha không đuổi tôi về, nhưng ánh mắt cha đã ám ảnh mãi nên từ đấy mỗi lần văng tục, tôi phải nhìn quanh quẩn xem có cha ở gần không. Lần thứ hai tôi cãi ngược lại lời gọi của cha là thời gian tôi sống lẻ loi ở bang Mississippi. Dạo ấy mới rời trại tỵ nạn, không hiểu sao tôi và vài người bạn Châu Sơn nhận được mỗi người ba ngàn Đức Mã (Deutsche Mark) đổi ra được khoảng hơn $1,500 đô. Đó là một món tiền lớn gần bằng 5 tháng tiền lương của người lao động với lương căn bản $2.10 đô một giờ. Tôi rửa chén nhà hàng Tàu chỉ được $1.80 một giờ. Cha viết thư hỏi thăm, tôi than buồn vì cô độc, cha đề nghị sang Âu Châu tiếp tục việc tu học để trở thành tu sĩ như cha. Tôi láo lếu tuyên bố là tôi đã bỏ nhà thờ Công Giáo (dù vẫn lang thang tìm đến các nhà thờ Tin Lành vì hiếu kỳ) và tôn giáo không còn ý nghĩa gì trong đời sống tôi nữa. Nếu mẹ tôi nghe tôi nói như vậy thì chắc chắn bà đã ôm mặt khóc oà vì thằng con rối đạo hay bỏ đạo. Nhưng thầy tôi vẫn bình tĩnh, không tỏ ra giận dữ trong những lá thư cha tiếp tục gửi. Thỉnh thoảng có ai biếu cha vài trăm nhất là từ Hoa Kỳ, cha lại đề tên tôi phía sau ngân phiếu rồi gửi cho tôi. Rất tiếc là tôi bị cháy nhà một lần nên những thư từ cha gửi không còn để mang ra khoe vợ con và bạn bè. Hình như Kha, một người bạn Châu Sơn lớp dưới tôi có lần kể tôi nghe trước khi cha Tôma qua đời, ngài sang Cali gặp vài anh em đệ tử Châu Sơn và có ý tìm gặp tôi (Trần Thành). Lúc ấy tôi ở Boston nhưng cha lại tưởng tôi cũng sống quanh quẩn ở Cali như một số anh em Châu Sơn. Có một thời tôi dọn nhà xuyên bang nhiều lần mà không để dấu tích địa chỉ cho ai nên đã bặt tin với cha và nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ thầy tôi và các anh em Châu Sơn, nhưng đời sống bận rộn áo cơm nên không tìm kiếm nhau. Năm 1998 cha qua đời cũng là năm tôi được đại học cho lên bậc giáo sư toàn chức (Full Professor). Tôi tính mùa hè sẽ sang Thuỵ Sĩ thăm cha để cảm ơn tấm lòng cha đã dành cho một học trò ngược ngạo như tôi. Nhưng cha đi trước khi tôi gặp được ngài lần cuối. Nhiều lần tôi hối hận về việc này. Bây giờ chập chững bước vào buổi hoàng hôn đời, tôi tâm nguyện rằng việc gì làm được hôm nay tôi phải làm không chờ đợi, nhất là những dịp được vui chơi với bạn bè.
Mùa hè 2015, vợ tôi có công trình nghiên cứu ở bệnh viện đại học y khoa, Geneva (Hôpitaux universitaires de Genève). Tôi được cơ hội sang Thuỵ Sĩ và N.D Quân bạn cùng lớp Châu Sơn đã sống ở Thuỵ Sĩ từ trước 30 tháng Tư 1975 đưa đi thăm mộ cha Tôma tại Orsonnens. Chúng tôi đã thăm viếng tu viện Notre Dame de Fatima và ngủ lại qua đêm. Thầy chúng tôi đã có thời làm bề trên tu viện này. Tu viện có một số tu sĩ Việt Nam sinh sống bằng việc sản xuất đậu hũ và giá sống. Trong lúc truyện trò với các tu sĩ, một vị sống cùng thời với cha Tôma kể rằng tu viện có lúc kiệt quệ kinh tế nên thầy chúng tôi tuyên bố cho phép tu viện mua vé số, nhưng chưa bao giờ trúng. Cha Tôma là người say mê nghiên cứu tử vi và thuật bấm độn để tiên đoán tương lai vậy mà bấm độn sai nên mua vé số nào hỏng vé số ấy. Các vị tu sĩ tôi gặp ở Orsonnens đều kể những chuyện tốt đẹp về thầy chúng tôi.
Sáng ngày 2 tháng Tư, 2018 tôi đáp xuống phi trường quốc tế Geneva. Vừa ra khỏi cổng hải quan, bạn tôi N.D. Quân đã chờ sẵn để đưa tôi đi dự lễ bốc mộ thầy ngày mai. Quân thuê xe đưa tôi đến thăm thầy Nguyễn Thành Trung dạy toán chúng tôi ở Châu Sơn ngày xưa. Thầy Trung đã sang Thuỵ Sĩ du học từ năm 1969 thì phải. Tôi nhớ chỉ học toán thầy một năm rồi sau đó thầy lên đường du học. Quân báo cho thầy biết về chương trình bốc mộ cha Tôma và thầy muốn cùng đi với chúng tôi. Gần 50 năm chưa gặp lại thầy Trung nhưng khi vừa nhìn thấy nụ cười của thầy tôi nhận ra ngay. Năm nay hình như thầy đã cuối tuổi 70, nhưng tướng mạo vẫn còn nhanh nhẹn tỉnh táo. Thầy đang sống độc thân trong một chung cư không xa trung tâm Geneva bao nhiêu. Cả buổi sáng thầy đã sửa soạn bữa ăn trưa cho hai học trò cũ. Ba người chúng tôi ngồi uống rượu thưởng thức món lẩu thập cẩm thầy đãi. Chuyện ngày xưa xen lẫn chuyện hôm nay cứ tuôn ra như mưa dầm không ngớt. Quân uống không nhiều nhưng tôi và thầy Trung thì cứ nâng ly chẳng ngại mỏi tay. Sợ say không đến tu viện kịp giờ kinh chiều, tôi đề nghị ngưng cụng ly để lên đường. Chặng đường từ Geneva đến Orsonnens dài khoảng 1 tiếng rưỡi lãi xe, nhưng đường đến tu viện đa số là đường làng chật hẹp quanh co. Trước khi vào tu viện, ba thầy trò chúng tôi đi thẳng đến nghĩa trang trong khuôn viên nhà thờ làng Orsennens viếng mộ cha Tôma lần cuối. Trước mộ cha chúng tôi đọc ba kinh quen thuộc để chào cha rồi đi thẳng vào tu viện đúng lúc các tu sĩ sửa soạn giờ kinh chiều. Viện phụ Phương và một số anh em tu sĩ Châu Sơn từ Việt Nam và từ Đức sang đã có mặt. Hiện nay bên Đức có một chi nhánh của tu Viện Châu Sơn Đơn Dương. Như vậy có bốn học trò cũ của cha Tôma đến tham dự nghi thức bốc mộ ngài: Quân, VP Phương, VP Đức, và tôi. Vào Chùa thì gõ mõ tụng kinh, đến tu viện Xitô đương nhiên cũng phải vào nhà nguyện mà hát Thánh Vịnh với các tu sĩ. Ngồi trong nhà nguyện của tu viện được vài phút, tôi nghe tiếng người sau lưng thở mạnh rồi chuyển sang tiếng ngáy ngủ đều đặn. Lúc sắp xong giờ kinh chiều, có tiếng động mạnh trên sàn nhà của người bị ngã. Các tu sĩ bị chia trí vài giây vì tiếng động lớn, nhưng lại tiếp tục hát kinh nguyện. Quay ra sau tôi thấy thầy Trung được dìu đứng lên rồi đưa ra khỏi nhà nguyện. Tôi chạy theo, nhưng ra ngoài mới biết là thầy chúng tôi có lẽ buổi trưa hơi quá chén nên ngã vì ngủ gục trong nhà thờ. May quá.
Sáng ngày 3 tháng Tư, sau thánh lễ và điểm tâm, chúng tôi theo các tu sĩ ra nghĩa trang cạnh sân nhà thờ trong làng. Từ tu viện đi bộ khoảng 5 phút là đến nơi. Các tu sĩ tụ tập trước mộ cha Tôma và hình như đây là lần đầu tiên tu viện bốc mộ một tu sĩ quá cố nên không có chương trình rõ rệt. Bản thân tôi rất ngại đối diện với người chết. Tôi không muốn nhìn mặt người thân nằm trong quan tài. Đứng bên mộ thầy tôi trước lúc nhân viên nhà thiêu xác chết đến đào xương cốt ngài lên, lòng tôi hoang mang khó tả. Lúc thầy tôi còn sống tôi không tìm thăm ngài để thưa với ngài rằng: “Thưa cha, con cảm ơn tấm lòng cha đã dành con, một đệ tử ngỗ nghịch.” Tôi phải tự bảo mình rằng đến đây không phải để nhìn xương cốt thầy nhưng là để tiễn ngài trở về quê nhà Châu Sơn, quê nhà Việt Nam sau một đời lưu xứ. Ý tưởng về việc tiễn cha Tôma hồi hương trấn an tinh mình. Nhưng lòng phân vân không biết có đủ can đảm nhìn những gì còn lại từ mộ phần của cha không? Thường khi đến nhà quàn thăm người quá cố, tôi đi rất nhanh qua quan tài và không nhìn thẳng vào xác người chết dù được trang điểm trong áo quần đẹp nhất. Tôi sẵn sàng đi thăm người thân, bạn bè, người quen khi họ nằm trên giường bệnh, nhưng hoàn toàn không muốn thăm xác chết. Tôi thường nói với vợ tôi rằng khi tôi chết hãy đóng chặt quan tài lại, đừng để ai nhìn một thân xác không hồn. Nếu yêu thương tôi hãy nói cho tôi nghe khi tôi còn sống. Nếu nhớ tôi hãy bảo rằng nhớ khi tai tôi còn nghe. Và dù có chửi tôi thì xin cũng chửi khi tôi còn hiểu tại sao người chửi tôi.
Trong lúc các tu sĩ đứng hát và đọc kinh, người đào mộ đưa xe đào đất và dụng cụ đào mộ người chết đến chờ sẵn. Viện Phụ Phương thay mặt đan viện Châu Sơn và các tu sĩ Châu Sơn đang hiện diện quanh mộ cha chia sẻ. Tôi được phép đại diện anh em trong lớp Tôma chia sẻ vài lời với mọi người xung quanh và đọc vài câu lục bát tiễn cha về quê.

Có cần không một chỗ về?
Mai ta nằm chết ở quê hương người
Chỉ xin để lại nụ cười
Gửi về quê cũ cách mười phương xa
Xác ta vùi dưới cỏ hoa
Làm phân bón đất chút quà thiên thu….
(Ttm)

Thật ra tôi viết mấy câu lục bát cho chính tôi, đã hơn nửa đời người biệt xứ. Đọc xong bài thơ ngắn, tôi thưa với thầy rằng “Chúc mừng cha sau một đời xa xứ, xa Châu Sơn bây giờ được trở lại quê nhà dù thân xác chỉ còn là bụi tro.” Người phát biểu cuối cùng là cha bề trên tu viện Fatima, ngài kể sở dĩ cha Tôma được triệu tập về tu viện này làm bề trên vì tu viện lúc ấy đang trải qua thời kỳ khủng hoảng. Thầy tôi về đây để củng cố lại đời sống tu trì của nhóm tu sĩ Việt Nam ly hương. Dường như thời ấy hầu hết các tu sĩ tại tu viện này đã được gửi sang Thuỵ Sĩ để học nhưng phải ở lại sau khi miền Nam sụp đổ.

Hài cốt cha Tôma Nguyễn Đình Tuyển

Hai nhân viên đào mộ đã sẵn sàng bắt tay vào việc sau nghi thức đọc kinh và chia sẻ trước mộ cha Tôma. Nhân viên lái xe xúc đất cho lưỡi xúc cào lớp đá sỏi trên mộ và nhổ cây Thánh Giá đúc bằng xi măng chôn trên đầu mộ lên. Các tu sĩ giữ lại cây Thánh Giá này cho lần tới. Sau khi Thánh Giá được kéo lên và lớp đá sỏi được cào sạch, hai người này dùng xẻng để xúc đất lên. Chỉ trong vài phút họ đã đào quan tài cha lên. Tôi quay mặt nhìn ra cánh đồng cỏ xanh mới vào xuân. Bất chợt ngoảnh lại đúng lúc hai người đào mộ mở quan tài cha và tôi nhìn thấy xương cốt cha bọc trong vải liệm, xương xọ cha nghiêng về một bên, hai lỗ mắt lõm sâu, và hàm răng mở rộng. Hình ảnh này như tia điện của cơn sấm sét xé ngang bầu trời âm u mưa bão. Mới ban sáng, trong nhà nguyện của tu viện, di ảnh cha với nụ cười linh động, hai mắt tinh anh được đặt trên kệ trước bàn thờ đã gợi lại cho tôi những hình ảnh sống động của cha ở Châu Sơn ngày xưa mà bây giờ trong quan tài lồ lộ một xọ người. Đúng là, “Kiếp người là bụi tro, rồi mai về với đất, sẽ chôn vùi âu lo” (Câu Kinh Chiều Tím, Ttm). Từ hai chục năm qua, cha không còn lo lắng gì nữa. Tu viện, cha đã một thời lo cơm áo cho các tu sĩ đến độ quẫn trí phải mua vé số chờ vận may, vẫn còn đó. Việc thu dọn xương cốt cha được hai nhân viên chuyên nghiệp làm rất nhanh chóng. Khi họ đã dọn sạch và sửa soạn đưa xương cốt cha về phòng thiêu, tôi thấy cây thánh giá sắt đóng trên mặt quan tài đã rĩ đen nằm trên đất, vội vã đến nhặt lên trước khi bị sa thải. Tôi xin mang Thánh Giá này về làm di vật. Bạn tôi, NDQ, và một tu sĩ thấy tôi trân quí cây Thánh Giá đã giúp rửa và cạo cho sạch rỉ sắt, có những phần đã bị hoen rỉ, nhưng nói chung, Thánh Giá dường như còn hình hài dù không nguyên vẹn. Sáng hôm sau trước khi rời tu viện, một tu sĩ đã đến vỗ vai tôi và tặng tôi một di ảnh cha Tôma mang về. Vị tu sĩ này đã chung sống với cha Tôma và còn giữ lại được những di vật liên hệ đến ngài. Viết đến đây tôi tự hỏi không biết tu viện còn giữ lại những thư từ cha nhận được từ tôi hay người thân quen không? Tôi sẽ hỏi về việc này cho rành rẽ.

Tìm Dấu Vết Cội Nguồn Dân Amish và Thăm Thầy Định

Sau nghi lễ bốc mộ cha Tôma, VP Phương dẫn các tu sĩ Châu Sơn từ Việt Nam và từ Đức Quốc đi thăm tu viện Hauterive (Abbaye d’Hauterive). Đây là tu viện Xitô cổ kính cách thành phố Fribourg không xa lắm. Đối với anh em đệ tử cùng thời với tôi, tu viện này có rất nhiều huyền thoại vì hầu hết những tu sĩ Châu Sơn Đơn Dương đã được gửi sang đây du học. Nhiều anh em chúng tôi đã tưởng tượng về tu viện này như một nơi mình ao ước có ngày được theo chân các bậc đàn anh sang đây du học. Tu viện Hauterive được thành lập từ năm 1138 dưới sự bảo trợ của lãnh chúa Guillaume de Glâne. Sau khi chết, ông đã được chôn trong nhà nguyện tu viện. Từ ngày thành lập, tu viện đã trải qua bao nhiêu thăng trầm vì chiến tranh, vì phong trào cải cách tôn giáo (Reformation) tại Âu Châu và Thuỵ Sĩ. Năm 1848 tu viện bị đóng cửa gần 100 năm và đến năm 1939 đã được phục hồi lại. Vị tu sĩ dẫn phái đoàn Châu Sơn vào nội thất tu viện nơi một thời thầy tôi, cha Tôma và nhiều vị đàn anh khác đã sống ở đây. Trong nhà nguyện kinh của tu viện còn những quyển kinh bằng chữ Latinh in cả ngàn năm rồi. Đã có bao ngón tay các tu sĩ lật sách kinh theo dòng thời gian từ đời này tiếp đến đời khác. Tôi quên tên vị tu sĩ hướng dẫn phái đoàn, nhưng ngài kể tên nhưng vị thầy của chúng tôi đã từng tu học tại đây làm mình cũng tưởng tượng đời sống các cha anh lúc ấy ra sao. Tu sĩ này nhắc đến một vị thầy của chúng tôi là Micheal Công, một cựu đệ tử đã nhận sứ vụ linh mục nhưng bây giờ hoàn tục. Cha Công vẫn còn để lại ký ức tôi nhiều hình ảnh và kỷ niệm đẹp ở Châu Sơn Đơn Dương. Tu sĩ hướng dẫn cũng nhắc về giọng ca truyền cảm của cha Công thời gian cha tu học trong tu viện cổ kính này. Nghe tiếng bước chân mình trên các lối đi trải đá cả ngàn năm trong sự tịch mịch lạnh lùng của tu viện, tôi hình dung được sự hiu quạnh cô đơn nếu mình phải sống ở nơi này mỗi ngày. Cũng may, nói theo kiểu các bà mẹ quê, là Chúa không gọi tôi tiếp tục con đường tu của cha anh Xitô.
Sau cuộc thăm viếng tu viện cổ Hauterive, ND Quân đưa thầy NT Trung và tôi lên đường sang Pháp. Nơi đầu tiên tôi xin Quân đưa tôi đến ngôi làng cổ xưa của nhóm Amish và thành phố thủ phủ miền Alsac, nơi sản xuất rượu vang có mùi vị thơm dịu rất thích hợp với các món ăn Việt Nam. Tôi đang viết về các dị giáo hay tôn giáo lạ tại Hoa Kỳ và một trong những nhóm tôn giáo tôi tìm hiểu là nhóm người Amish, hiện nay họ ở rải rác tại Hoa Kỳ từ bang Pensylvania sang đến Indiana và vài nơi khác. Người Amish sống trong các ngôi làng nông nghiệp biệt lập với thế giới bên ngoài. Họ không sử dụng tiện nghi của văn minh kỹ thuật, nhưng chỉ đi xe ngựa và vẫn trồng cấy bằng những dụng cụ thô sơ. Tôi nhớ trong một lớp nhân văn, khi tôi mới vào đại học Hoa kỳ, có bài đọc về người Amish đã làm tôi ngạc nhiên và không tin ở xã hội văn minh như Hoa Kỳ mà vẫn còn những ngôi làng sống như ở thời tiền kỹ nghệ. Sau này có dịp đi thăm các làng dân Amish tôi mới biết điều mình học trong lớp có thật.

Tác giả ở làng Sainte Marie-aux-Mines, Pháp

Từ Fribourg đến Sainte-Marie-aux-Mines đường dài khoảng 240 cây số, lái xe từ 2 tiếng rưỡi đến 3 tiếng đồng hồ. Quân chiều bạn nên không ngại đưa tôi đi đến những nơi tôi đề nghị. Khi chúng tôi vừa đến Sainte-Marie-aux-Mines thì trời đổ mưa và cũng đúng giờ ăn trưa. Các văn phòng hành chánh kể cả văn phòng hướng dẫn du lịch của phố cũng đóng cửa. Phố này thời xưa là nơi định cư của dân làm hầm mỏ. Cả phố dường như chỉ có một con đường chính chạy dài theo thung lũng nằm giữa hai rặng núi cao. Mưa phố núi khiến việc di chuyển cũng bất tiện. Chúng tôi ghé vào một quán ăn trưa để chờ phòng hướng dẫn du lịch mở cửa. Tôi hơi thất vọng khi cô nhân viên chính của phòng hướng dẫn du lịch mù tịt về lịch sử của người Amish dù trong những thông tin quảng cáo về phố này có nhắc đến dân Amish. Coi như người đương thời không ai để ý đến lịch sử tông tích của nhóm người này nữa. Amish là những tín đồ của nhóm Tin Lành (Anabaptist) chống đối lại việc rửa tội (baptize) cho trẻ em của Thiên Chúa Giáo. Thần học của giáo phái cho rằng chỉ những người lớn đã có ý thức về đức tin mới được rửa tội. Phong trào cải cách tôn giáo này xuất hiện ở Thuỵ Sĩ vào thế kỷ 16 khoảng năm 1520. Thần học về việc chỉ rửa tội cho người đã trường thành của họ bị lên án. Vào khoảng cuối thế kỷ 17, Tổ phụ Jacob Amann đưa hơn 60 gia đình Amish rời Berne, nay là thủ đô của Thuỵ Sĩ sang tỵ nạn tại Sainte-Marie-aux-Mines nằm trong địa hạt của vùng Alsac. Vào 1720, dân Amish bỏ quê quán di cư sang Hoa Kỳ lập nghiệp. Theo chương trình, tôi tính đi tìm lại ngôi giáo đường cổ xem còn di tích gì của cộng đồng Amish ở đây không, nhưng phần vì mưa bất ngờ, phần vì dường như dân Amish đã bị xoá tên khỏi ký ức phố núi này nên cuộc thăm viếng không được như ý. Mưa vẫn còn rơi khi chúng tôi rời phố núi.
NDQ quyết định cho tôi thăm thành phố Strasbourg, thủ phủ của vùng Alsac trước khi chúng tôi ghé sang Nancy để thăm một người thầy cũ cũng xuất thân từ đệ tử Châu Sơn như thầy Trung. Strasbourg được xem như một địa điểm du lịch tốt ở Pháp với nhiều di tích văn hoá lịch sử. Từ Sainte-Marie-aux-Mines đến Strabourg mất khoảng một tiếng rưỡi lái xe. Chúng tôi vào trung tâm phố khoảng 2 giờ chiều. Trời âm u và gió se se lạnh. Ai đến phố này cũng đều được khuyến khích viếng thăm nhà thờ chính toà Cathedrale Notre Dame de Strasbourg. Đây là một công trình kiến trúc Gothic nhưng vẫn còn vài dấu vết kiến trúc Romaneque đã được hoàn thành vào 1284. Ngọn tháp của nhà thờ được hoàn tất năm 1439. Chúng tôi ghé thăm ngôi giáo đường nguy nga mà đại văn hào Victor Hugo (Tác giả: Những kẻ khốn cùng, Les-Miserables) đã phải công nhận như một kỳ công vĩ đại và thanh lịch. Bước vào nội thất của giáo đường tôi thấy mình nhỏ bé quá. Nắng xuyên qua các cửa kính mầu quanh nhà thờ tạo ra một không không khí huyền diệu kỳ bí. Lần ghé Paris vì thời gian ngắn nên tôi chưa vào nội thất của nhà thờ Đức Bà Paris nên không có dữ kiện gì để so sánh với nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Nhưng tính theo chiều cao thì nhà thờ Đức Bà Strasbourg cao hơn nhà thờ Đức bà Paris. Đứng trong lòng giáo đường rộng lớn nguy nga mình mới cảm được sức mạnh của tôn giáo và quyền bính của những con người cai quản các tôn giáo. Thật ra thì những công trình kiến trúc vĩ đại của Thiên Chúa Giáo có gì hơi nghịch lý. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và phụ nữ người Samaritan, chương 4 trong sách Tân Ước của Thánh Gioan, cho ta thấy Đức Giêsu đã khẳng định rằng chỗ thờ phượng Thiên Chúa chẳng phải ở nơi này hay chốn kia, nhưng ta thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Những giáo đường nguy nga chỉ là biểu tượng của quyền lực con người chứ không phải chân lý.
Tôi lân la đến hỏi chuyện chị nhân viên hướng dẫn cuối nhà thờ. Mình phải khâm phục dân Âu Châu vì họ nói được nhiều ngôn ngữ. Nghe tôi ú ớ đặt câu hỏi bằng tiếng Pháp, chị biết ngay khả năng Pháp văn rất tồi của tôi. Chị bắt chuyện bằng tiếng Anh với tôi và kể cho tôi nghe câu chuyện về chiếc đồng hồ thiên văn cổ (Astronomical Clock) của nhà thờ vì chúng tôi đến trễ nên không có dịp chứng kiến. Theo chị kể, đồng hồ có hai sân khấu diễn kịch bằng các hình nộm. Sân khấu thứ nhất nhìn từ dưới lên ta thấy hình nộm Tử Thần, tay cầm xương người, tay giơ cao lưỡi liềm. Sân khấu trên tử thần là hình nộm Đức Giê-Su và 12 môn đệ của ngài. Đúng 12:30 màn kịch trên đồng hồ được phô diễn. Tử thần cầm xương người gõ chuông và bốn giai đoạn đời người được diễn hành: hình nộm của em bé, thiếu niên, người trung niên, và ông cụ nối theo nhau đi trước mắt tử thần. Đây là hình ảnh về kiếp người từ ấu thơ đến tuổi già chẳng ai thoát khỏi tay thần chết. Khi thần chết gõ chuông gọi hồn, hai thiên thần ở phía dưới cũng tham gia vào màn kịch. Thiên thần bên trái gõ chuông hoà nhịp với tiếng chuông tử thần còn thiên thần bên phải cầm ống đo thời gian như nhắc nhở người xem rằng đời người có hạn. Mười hai mộn đệ của Đức Giê-Su theo nhau ra trình diện Ngài. Trong lúc các môn đệ xếp hàng theo nhau ra trước hình nộm Đức Giê-Su cũng có ba tiếng gà gáy nhắc lại câu chuyện về cuộc tử nạn của Đức Giê-Su và đêm trước khi Ngài bị đóng đinh, môn đệ Phêrô đã chối bỏ ngài 3 lần. Muốn xem màn kịch đồng hồ này bạn phải vào nhà thờ sớm. Vì cửa sẽ đóng trước 12:30 trưa.
Sau khi viếng ngôi đại giáo đường cổ, chúng tôi ra bờ sông L’ill đứng nhìn những chiếc thuyền chở du khách ngao du quanh phố. Strasbourg có đến 20 cây cầu bắc ngang sông tạo khung cảnh ấn tượng cho du khách. Một chuyến ngao du trên thuyền mất hơn một giờ đồng hồ nên chúng tôi quyết định vào quán rượu tìm gì uống cho ấm lòng. Mình đã đọc về về loại rượu hâm nóng của vùng này (vin chaud hay mulled wine), nhưng chưa bao giờ uống. Bạn gọi ly vin chaud để mình uống thử. Người tiếp bàn đưa ra một ly rượu vang đỏ hâm nóng được pha hương vị vỏ cam, quế và hồi. Có lẽ phải quen thì mới thưởng thức được. Mình vừa nhắp một ngụm là dội ngay. Nhưng nể bạn nên cố gắng nhâm nhi cho cạn ly. Rời quán ba người rảo bộ quanh khu phố chính. Mình đi tìm mua vài món quà kỷ niệm cho vợ và con. Vô tình đi ngang một tiệm bán rượu, ghé vào xem cho biết những loại rượu đuợc trưng bầy trên kệ. Gặp lúc vắng khách, người đàn ông bán hàng có lẽ thấy mình lơ ngơ nên hỏi, “Du khách?” Tôi gật đầu. Anh ta nói một tràng nhưng tôi chẳng hiểu gì. Biết tôi không nói tiếng Pháp thông thạo nên anh nói tiếng Anh và cho mình biết tiệm rượu đã có mặt trong thành phố từ thế kỷ 16. Anh còn khoe rằng bài quốc ca của Pháp bây giờ đã được sáng tác tại thành phố này. Cũng có thể tác giả bài quốc ca đã từng đến tiệm này mua rượu. Bài hát nguyên bản tựa đề là “La Marseillaise”. Tác giả Claude-Joseph Rouget de Lisle là nhà thơ và nhạc sĩ quân nhân, ông sáng tác bài quân hành này năm 1792 cho quân đội vùng Rhine. Đi quanh phố, nhìn di tích lịch sử nghe chuyện lịch sử kể cũng thú vị. Tính rủ thầy Trung và ND Quân tìm quán ăn để uống bia và ăn món đặc sản dân gian của vùng này đó là món xúc xích dọn ra với bắp cải chua thái nhỏ và khoai tây chà nhuyễn (choucroute garnie), nhưng phải lên đường đi Nancy thăm thầy Định (bây giờ có tên Kính). Từ Strasbourg đến Nancy đường dài hơn 70 dặm Anh. Mọi người đều muốn đến kịp giờ mời thầy Định đi dùng cơm tối. Trong ký ức tôi vẫn còn in nguyên hình ảnh thầy Định đeo đàn Accordion trước ngực tập hát cho chúng tôi. Hình như cả tu viện và trường đệ tử chỉ có mình thầy Định chơi đàn Accordion. Mình là một trong những chú đệ tử ngưỡng mộ thầy và đã mơ sau này mình lớn lên cũng tài hoa như thầy. Mình vẫn còn nhớ điệu nhạc và vài lời ca của một bài hát thầy dạy. Thỉnh thoảng bất chợt nhớ Châu Sơn mình cứ ngân nga hát một hai câu còn sót trong hồi ức niên thiếu. Trên đường từ Thuỵ Sĩ sang Pháp, tôi đã nghe thầy Trung kể nhiều chuyện ly kỳ liên quan đến thầy và thầy Định. Thầy Trung nhỏ hơn thầy Định khoảng 8 tuổi và hai người chia chung rất nhiều kỷ niệm Châu Sơn. Thầy nhắc về thầy Định bằng sự kính mến thân tình. Nếu có dịp nào anh em Châu Sơn họp nhau ở đâu để nghe thầy Trung kể chuyện Châu Sơn thời thầy lớn lên ở tu viện thì tuyệt lắm. Những chuyện thầy kể có thể viết thành tiểu thuyết cấm trẻ em đọc. Một nửa thế kỷ xa cách mới gặp lại nhau, thầy không nhớ tôi, nhưng tôi vẫn nhớ thầy. Dù vậy, chỉ cần một chuyến ngao du ngắn cũng đủ cho mình gắn bó lại với thầy. Có một điều thầy cứ nhắc lại nhiều lần không chán đó là cái “tình Châu Sơn lạ kỳ lắm”. Theo thầy thì không nơi chốn nào có thể cho ta mối liên hệ thân tình như Châu Sơn đã cho chúng ta.

Thầy Định đội mũ, 86 tuổi. Nancy, Pháp

Chúng tôi đến Nancy lúc trời lãng đãng tối. Mưa đầu xuân lất phất. Nancy là thành phố khá lớn ở miền Đông Bắc nước Pháp. Nơi đây có nhiều dấu tích lịch sử và văn hoá của một vương quốc cổ. Thành phố này là kinh thành cổ của các quận công Lorraine (dukes of Lorraine) nên vẫn còn phảng phất một thời hoàng cung xa khuất. Các kiến trúc cổ ở Nancy đã được UNESCO vinh danh. Vì thời gian quá ngắn nên chúng tôi không có dịp thăm các bảo tàng viện văn hoá nghệ thuật và các trung tâm giáo dục danh tiếng. Trường đại học ở Nancy có hơn 45 ngàn sinh viên theo học mỗi năm. Mục đích chính là tìm lại thầy Định (Kính) chứ không phải ngao du thắng cảnh. ND Quân đưa chúng tôi tạm nghỉ tại hotel ibis nằm bên cạnh ga xe lửa trung tâm phố (Centre Gare). Thầy Định ở không xa nhà ga nên chúng tôi hẹn ăn tối trong khu phố quanh ga. Lúc đầu thầy Định khăng khăng đòi đi bộ một mình đến khách sạn, nhưng vì trời mưa, phải cố gắng lắm mới thuyết phục được thầy cho đến đón. Văn minh truyền thông thế kỷ 21 từ phôn đi động đến máy hướng đạo (GPS) giúp người tìm đến nhau dễ dàng hơn. Trên đường tìm nhà thầy, lòng tôi xôn xao muốn được nhìn lại khuôn mặt dáng vóc vị thầy mà mình ngưỡng mộ như thần tượng thời niên thiếu. Khi xe đến địa chỉ nhà thầy, nghiêng người sát cửa kính bên hông xe, mình thấy một ông cụ thấp nhưng không bé nhỏ, đầu đội mũ vải lưỡi trai đứng chờ chúng tôi trong mưa bụi đêm. Tôi định mở cửa chạy ra đón, nhưng thầy Trung bảo để thầy ra đưa thầy Định vào xe. Thầy Định ngồi ghế sau nên tôi có dịp nhìn thầy thật kỹ qua ánh sáng của đèn đường hắt vào. Nếu gặp thầy một mình ngoài phố hay bất cứ chỗ nào, mình không thể nhận ra được thầy. Hình ảnh của thầy được đóng khung trong ký ức mình hơn 50 năm trước đã bị thời gian đời người làm phôi phai không lường được. Chúng tôi thưa với thầy Định là tối nay mời thầy đi dùng cơm tối ở bất cứ nhà hàng nào thầy thích nhất trong thành phố này. Thầy ngỏ ý muốn đến một tiệm ăn mà hơn 40 năm trước thầy đã được thưởng thức món Homard Thermidor, tôm hùm đút lò ăn với nước sốt vang trắng và sữa béo. Sau khi vào bàn ngồi, chúng tôi gọi rượu trước khi xem thực đơn. Thầy Định có lẽ nghĩ tôi gốc đi cầy thuở nhỏ và lại sinh sống tại Mỹ nên không biết uống rượu. Thầy dạy tôi trước khi nhắp một ngụm rượu ta nên ngửi xem mùi của rượu ra sao. Mùi phải hấp dẫn thì vị mới ngon. Khi mọi người xem thực đơn kỹ thì chẳng thấy có món tôm hùm thầy Định thèm ăn. Rượu đã uống, và ai cũng đói bụng nên mọi người quyết định dùng cơm tối tại nhà hàng này. ND Quân và thầy Trung gọi món Tarte flambée (tựa như pizza nhưng không sốt cà chua và rất mỏng), tôi cũng gọi luôn cho tiện. Thầy Định có lẽ chờ chúng tôi cả chiều nên đói, thầy gọi hai loại xà lách và một món ăn chính. Nếu tôi chọn món ăn theo ý thì tôi đã chọn hai món dân dã vùng này là món bánh nướng nhân thịt heo bằm trộn với thịt thỏ hay thịt bê bằm (Lorrain Pate) và món thịt heo hầm rau cải, đậu trắng, củ cải, và rốt và khoai tây (Potée Lorraine). Sau bữa ăn chúng tôi mời thầy Định về phòng khách sạn tâm sự đến khuya. Nghe thầy tôi kể chuyện cuộc đời mà thương quá. Chuyện đời thầy dường như nhiều sóng gió hơn bình an. Thầy bảo bây giờ thầy ngủ rất ít nhưng cầu nguyện liên lỉ. Quân và tôi lại được nghe thêm chuyện kỳ bí ở Châu Sơn ngày xưa. Ngày hôm sau chúng tôi mời thầy Định dùng cơm trưa trước khi chia tay. Lần này mọi người vẫn để thầy quyết định về chỗ ăn trưa. Tôi thấy thương một người già biệt xứ cô đơn. Chia tay thầy Định, chúng tôi về Geneva và trên đường về vẫn nghe thầy Trung kể đi kể lại chuyện Châu Sơn ngày xưa không biết chán. Điều làm tôi nhớ về chuyến giang hồ này là dù thầy Trung sửa soạn 80, thầy vẫn hồn nhiên như thanh niên thuở 20, vẫn yêu, vẫn chờ đợi hẹn hò. Thầy kể về người yêu mới của thầy như kể về một nhân vật trong huyền thoại. Mừng cho thầy không phải ôm mối cô đơn cuối đời. Tôi vẫn còn kinh ngạc là đi cả tuần mà thầy chỉ mặc một bộ quần áo. Mời thầy lấy áo mình mặc tạm, thầy bảo không cần thiết. May là tôi có dư bản chải đánh răng nên đã đưa thầy dùng. Thầy làm mình nhớ ngày xưa đi ngao du bụi đời, mình cũng chỉ mặc một bộ áo quần cả tuần mà cứ tưởng còn thơm phức. Hai ngày trước khi mình về lại Boston, chúng tôi liên lạc được với Khánh, một người bạn cùng lớp. Khánh và Quân sang Thuỵ Sĩ du học cùng một thời với nhau. Mấy năm trước tôi sang Geneve tìm Khánh nhưng không có dịp gặp. Anh em gặp lại nhau vẫn đào bới lại mớ kỷ niệm không bao giờ cũ.

Cuộc Hạnh Ngộ Giữa Cánh Đồng Mùa Hè Texas

Tháng 11 năm 2017, mình đưa gia đình đi Houston dự đám cưới cháu trai, con của anh tôi, Trần Thế Kỷ. Anh cũng là cựu đệ tử Châu Sơn nên trong số khách dự tiệc cưới có một số anh em Châu Sơn đang sinh sống ở Houston và quanh vùng Dallas. Trong nhóm anh em Châu Sơn dự tiệc cưới có hai người học dưới lớp tôi, Chính và Kha. Tôi đã gặp Chính và Kha lúc họ ở California. Năm 2001, mình di cư từ Boston sang Los Angeles, Califormia nhận việc làm mới. Trước khi đưa cả nhà sang, đại học thuê khách sạn cho ở cả tuần để có thời gian đi tìm nhà đưa gia đình di cư. Mình không nhớ ai đã cho số điện thoại của Kha, nhưng lúc đang ở khách sạn bên cạnh thành phố Claremont (cách Los Angeles khoảng 30 dặm), liên lạc được Kha và một buổi xế chiều, vợ chồng Kha đã đến khách sạn thăm. Vịnh, vợ kha, mang cho mình nồi cá kho và món canh cải để ăn cho đỡ nhớ nhà. Dạo ấy, Claremont chưa có nhà hàng Việt Nam và Little Saigon cách đấy gần một giờ lái xe nếu không bị kẹt đường. Mỗi lần nhớ lại kỷ niệm này, mình vẫn cảm được mối thân tình linh thiêng của Châu Sơn. Mình không hình dung ra được Kha trước khi gặp lại người anh em này. Thì ra chỉ hai chữ Châu Sơn thôi cũng đủ làm anh em tìm đến nhau dù chẳng còn nhớ mặt nhau. Hình như có lần nào, tôi quên rồi, Kha kể lúc cha Tôma còn sống, ngài sang California gặp được Kha và anh Đào Ngọc Kim. Ngài đã nhờ Kha tìm mình. Chỉ tiếc là mình ở Boston nên Kha có đăng báo cũng chẳng tìm ra tông tích. Chính cũng như Kha, trong ký ức tôi không còn dấu vết gì, nhưng khi gặp được Chính ở San Jose, Califoria, cái chìa khoá Châu Sơn đã mở trái tim nhau để nối lại thân tình. Đôi ba lần đi công tác hay đưa gia đình ngao du, tôi đã ghé thăm vợ chồng Chính-Vân ở San Jose. Cả hai vợ chồng đều cởi mở hiếu khách và dường như lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp anh em. Mỗi lần ghé Chính tôi đều cảm thấy lòng mình lâng lâng hạnh phúc. Và, dĩ nhiên vừa say rượu vừa say tình Châu Sơn. Anh em Châu Sơn thời niên thiếu gặp nhau trong các giờ kinh nguyện, bây giờ gặp nhau trong những cuộc vui mà ly ai cũng được rót đầy như một câu trong bài Thánh Vịnh 23, “My cup overflows – Cốc con uống Ngài rót tràn ly.”

Cánh đồng Lăng-Ga cuối hoàng hôn

Anh chị ĐNKim, Chính, Kha và gia đình tôi trú chung một khách sạn lúc dự tiệc cưới cháu tôi ở Houston. Chúng tôi đã họp mặt văn nghệ ngay trong phòng ăn của Khách Sạn, cũng may nhân viên “lễ tân” dễ tính nên để chúng tôi đàn ca hò hét thoải mái. Trong cuộc rượu hạnh ngộ bất ngờ này, Chính đã đưa ra ý kiến họp mặt anh em Châu Sơn Hoa Kỳ tại LangGa. Mình chưa bao giờ nghe đến địa danh LangGa tại Hoa Kỳ nên hơi thắc mắc. Các bạn tôi giải thích LangGa là từ văn hoa của Làng Gà. Tôi đổi từ LangGa thành Lăng-Ga nghe âm u mờ ảo hơn và đã ghé vào “Lăng-Ga” hay nông trại nuôi gà của Chính-Vân nhân một chuyến về thăm gia đình vợ và bạn bè Texas năm ngoái. Nông trại chăn nuôi của Chính rộng thẳng cánh cò bay, có dư chỗ nuôi hàng ngàn con gà, bò, dê, và heo rừng. Khi Chính đề nghị họp mặt, tôi mau mắn nhận lời, nhưng vài ngày sau lại quên bẵng. Cuối mùa xuân vừa rồi, Chính điện thoại nhắc về ngày họp mặt vào tháng Sáu mới sực nhớ. Đã hứa thì phải làm. Trong một “text message,’ Chính tâm sự nguyên văn, “Gần 40 anh em mới có dịp gặp lại… Chả biết cuộc sống “nghiệt ngã” mình còn gặp nhau được mấy lần nữa.!!!!!” Thật ra thì với tôi, gặp lại nhau một lần hay nhiều lần không cần thiết, miễn sao lúc có dịp gặp lại nhau mình vui chơi tử tế với nhau hết mình dù chỉ một lần vẫn tốt hơn nhiều lần mà nhạt nhẽo lạnh lùng. Tôi không phải là nhạc sĩ, nhưng vì muốn vui chơi với đời nên cứ lai rai viết ca khúc để nghêu ngao dù tiếng đàn của tôi không bao giờ đúng cung đúng nhịp và giọng hát của tôi thì thua xa tiếng gà gáy gọi bình minh ở Lăng-Ga của Chính. Cả nửa thế kỷ nay, thỉnh thoảng tôi vẫn còn ngân nga vài câu của một bài hát thầy Định dạy lớp tôi ở Châu Sơn năm 1967. Khi gặp lại thầy ở Nancy, Pháp, mình đã hát vài câu cho thầy nghe, nhưng chính thầy cũng quên bẵng. Tôi phải làm sống lại bài hát này bằng cách viết một ca khúc mới dựa theo cung điệu còn sót lại trong ký ức. Bản nháp viết xong, phải nhờ hai người bạn nhạc sĩ thứ thiệt, Nhất Chi Vũ và Trần Thanh Hải, góp ý và nhuận sắc. Cả hai bạn nhạc sĩ này cũng có kỷ niệm về thời niên thiếu như mình. Người từ chủng viện Long Xuyên, người từ dòng Chúa Cứu Thế nên chúng tôi thông cảm nhau dễ dàng.

Kìa trông xa xa đàn chim rừng
Bay ngang trong chiều mây hồng
Đưa nhau đi về đây, quê nhà xưa xa xôi rồi……
(Đồng Tâm Bên Nhau, Ttm)

Arlington, Texas là nơi tôi có cả kho tàng kỷ niệm về sân trường và bạn bè. Hơn 30 năm chia tay Arlington, lao đầu vào cuộc áo cơm, tôi đã quên dần bạn bè và người quen. Thời gian đã tôi luyện, gạn lọc tình cảm bạn bè thời sinh viên. Trong nhóm bạn quen biết rất nhiều người nhưng nay chỉ còn lại dăm ba người vẫn giữ liên hệ mật thiết với nhau. Hai người mà mình vẫn thường xuyên thăm hỏi là NĐ Thắng và PV Dương. Lần nào ghé lại Arlington mình cũng đều tìm đến hai thằng bạn hiếm quý thời sinh viên. Và hình như đời cũng tạo cơ hội tốt cho mình giữ được liên hệ với hay đứa bạn này. Khi tôi rời Arlington đi dạy học ở Kentucky, thằng Thắng tìm cách ghé thăm. Lang bạt về Michigan hai đứa cũng sang dự đám cưới của tôi. Rồi về Boston, sang Cali, về lại Boston hai đứa vẫn tìm dịp thăm tôi. Bạn bè là quà quý của Trời và đời ban cho, không phải ai cũng diễm phúc nhận được món quà này. Bởi vậy, tôi phải rủ bằng được hai đứa này đi vào Lăng-Ga của Chính và Kha vì tôi biết chắc chắn khi gặp anh em Châu Sơn chúng nó sẽ được chia chung niềm hạnh phúc với tôi. Khi tôi rủ, cả hai nhận lời không đắn đo. Nhưng cuối cùng thì NĐThắng không đi được vì đã ghi danh dự trại hè Hướng Đạo VN. Nó là ông tổ của một đoàn HĐ ở Arlington, và cũng giữ vai trò quan trọng nên phải có mặt trong đại hội HĐ.
Chiều thứ Năm ngày 28 tháng 6, 2018, chuyến Jetblue đưa tôi và gia đình trở lại Arlington Texas. Lần nào đi ngang hay dừng chân lại phi trường DFW, tôi cũng cảm thấy có gì xôn xao trong hồn. Hơn 30 năm trước tôi thường xuyên có mặt tại đây, chạy ngược xuôi khắp các cửa tàu bay để đón tiếp người tỵ nạn Đông Dương trong đó đa số là đồng hương Việt Nam. Mình làm thiện nguyện cho chương trình định cư người tỵ nạn của văn phòng bác ái Công Giáo, trụ sở tại Fort Worth, Texas. Thời sinh viên độc thân nên việc ra phi trường đón tiếp người tỵ nạn và giúp họ chuyển chuyến bay là việc làm thích thú và có nhiều chuyện để ba hoa với bạn bè, nhất là những lần gặp các em Việt Nam xinh đẹp tại phi trường. Hai thằng Thắng và Dương cũng được vinh dự đi tháp tùng mình đón người tỵ nạn ở phi trường này nhiều lần. Bây giờ nghĩ lại những khuôn mặt đồng hương ngơ ngác, lo sợ ở một phi trường lớn ngoài sức tưởng tượng của họ mà thấy thương thân phận tỵ nạn của đồng hương và của chính mình. Mẫn (Men) và vợ chồng Dương-Vân từ San Jose cũng đến Texas cùng ngày với tôi. Chính báo là đã ra phi trường đón phái đoàn San Jose chiều thứ Năm, còn gia đình tôi đến buổi tối, nhưng ở lại Arlington ngày thứ Sáu để thăm một đứa bạn học ở chung nhà thời tôi mới di cư từ Mississippi sang Texas năm 1977. Bạn tôi mới bị tai biến não nên đã nằm bệnh viện cả hơn hai tháng rồi. Số phận đời người khó mà lường. Mới mấy tháng trước vợ chồng bạn tôi còn cụng ly sum vầy tại nhà tôi ở vùng Boston mà bây giờ nằm liệt giường chẳng nói năng được nữa.
Sáng sớm thứ Bảy ngày 29 tháng 6, 2018. Dương (Arlington) đưa gia đình tôi đến Lăng-Ga Chính-Vân bằng chiếc xe ngao du (recreational vehicle-RV) trang bị đầy đủ như một căn nhà di động với bếp núc, giường ngủ, TV, và hệ thống điều hoà tốt. Lần đầu tiên tôi được ngồi trong một chiếc xe ngao du (RV) nên cảm thấy thích thú. Thằng Dương từ thời sinh viên đã chơi trội hơn bạn bè, áo quần lúc nào cũng thời trang (dù túi không tiền), bây giờ lớn tuổi vẫn thói trưởng giả, lái xe ngao du RV đi chơi xa, và cuối tuần còn đeo gậy đi quật banh (Golf). Đường từ Grand Prarie, TX đến Lăng-Ga Chính-Vân khoảng 2 tiếng lái xe. Ở quanh vùng Dallas có Hợi (gốc Bảo Lộc) và Trung (lớp tôi). Hợi và tôi chia chung kỷ niệm thời bỏ Châu Sơn lên học Triết trên đại học Đà Lạt (Thụ Nhân) niên khoá 74-75. Tôi mới gặp lại Hợi lần đầu tiên vào giữa tháng 10 năm ngoái (2017) nhân về Dallas tham dự hội nghị giáo dục liên quan đến nghề nghiệp của tôi. Từ lúc chia tay Hợi ở bến xe đầu ấp Ánh Sáng Đà Lạt để Hợi về quê lúc thành phố hoang mang và đại học đóng cửa, tháng 3, 1975 đến nay là đúng 43 năm dài. Tôi ở lại Đà Lạt rồi tình cờ cũng bỏ Đà Lạt, bỏ quê nhà lang bạt đời biệt xứ vài ngày sau khi chia tay Hợi. Trung thì tôi hoàn toàn không nhớ vì Trung bỏ Châu Sơn rất sớm. Nhưng chỉ cần biết Trung có liên hệ với Châu Sơn không kể dài ngắn là đủ để chúng tôi thoải mái ngồi lại bên nhau. Khoảng xa cách về thời gian bỗng gần lại như hôm qua.

Con Dê hoạn đồng trinh

Vài ngày trước lúc lên đường đi Texas, Kha đã gửi tôi hình con dê “tế thần”. Tôi đề nghị nên tìm con dê “gái tơ” để nhậu tiết canh. Kha bảo đã bắt sẵn con dê “hoạn quan” cho ngày hạnh ngộ, và bảo đảm con này ngon. Trong Kinh Thánh Matthew (25:31-46) có câu truyện ngụ ngôn về dê và cừu. Dê là biểu tượng của những người bị Thiên Chúa xua đuổi, còn cừu tượng trưng cho những người tốt lành. Nhưng khi ăn nhậu thì người ta lại thích ăn thịt dê. Chuyện ngụ ngôn về người con hoang kể trong Kinh Thánh Luke (15:11–32) có thuật lại rằng khi người con hoang đàng trở về, cha chàng sai người giúp việc hạ con bê làm tiệc ăn mừng. Người anh hiền lành quanh năm lam lũ ở nhà với cha đã phải phân bua rằng bao nhiêu năm anh ta làm lụng cực nhọc mà cha chẳng cho anh ta được một con dê béo để nhậu với bạn bè. Như vậy khi ăn mừng thì nên ngả bê ngả bò, nhưng lúc họp bạn ăn nhậu thì ngả con dê là phải đạo.
Vợ chồng Hùng-Thắng (anh của Đức-Minh lớp tôi) đã có mặt trước khi mọi người đến. Chiều thứ Sáu, Dương (Vân) gửi tôi lời nhắn điện thoại “Nếu anh chị vào hôm nay thì tuyệt vời lắm vì hôm nay đúng ngày Birthday của Chính. Anh cố gắng nhe…” Dù rất muốn vào Lăng-Ga Chính-Vân ngay để nâng ly mừng sinh nhật Chính, nhưng chương trình không cho phép phần vừa thăm người bạn, chung phòng thời đi học, đang nằm bệnh viện Arlington, phần vì đưa vợ và con trai thăm trường bố học đúng 40 năm trước. Mùa hè 1978 tôi chuyển từ North Texas State University nay đổi tên là University of North Texas về University of Texas at Arlington (UTA) và đã bỏ UTA ra đi từ mùa hè 1985. Tôi muốn đưa Usa vào The Dry Gulch, một quán bia nằm dưới hầm Trung Tâm Sinh Viên, nơi đã nhiều đêm thứ Sáu tôi cùng bạn bè ngồi uống bia chia sẻ lo âu về tương lai về phận đời tha hương. Nhưng quán bia hầm này đã bị đóng cửa từ năm 1992, bảy năm sau khi tôi từ biệt UTA.

Tiết canh Dê hoạn: Hấp dẫn nhưng Nguy hiểm

Đúng 10:00 sáng thứ Bảy, chiếc ngao du xa của Dương đến địa chỉ Lăng-Ga Chính-Vân. Ở vùng đồng cỏ mênh mông này, những con đường mang số thay tên. Máy dẫn đường (GPS) báo đã đến địa chỉ nhưng mọi người ngơ ngác nhìn nhau không biết cổng nào là cổng vào nhà. Trí nhớ tôi nhắc là ngõ vào Lăng-Ga Chính có hai trụ gạch vuông, nhưng từ cổng lên đến nhà Chính-Vân hơi xa nên mọi người không tin là mình đã đến đúng chỗ. Dương cho chiếc ngao du xa đi quá nhà, gặp đường cụt đành quay đầu lại. Tôi sực nhớ là lần trước mình cũng đi quá như Dương. Khi quay xe lại tôi quả quyết là con ngõ có hai trụ cổng gạch là đúng lối vào Lăng-Ga Chính-Vân. Khi chúng tôi lên đến nhà, đã có một số xe đến trước đậu kín sân. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là ba bốn trung niên ngồi xổm chung quanh một phản gỗ chăm chú cạo lông một con thú. Đến gần chào hỏi anh em mới biết mọi người đang tắm rửa cho con dê đã được lấy huyết làm tiết canh. Chính lôi cổ tôi vào nhà đến ngay trước bàn đã được bày kín những đĩa tiết canh dê đỏ tươi nom rất nguy hiểm nhưng hấp dẫn. Từ Boston tôi đã bạo miệng đề nghị là món tiết canh dê nên được thưởng thức trưa thứ Bảy, nhỡ có bề gì còn thời giờ cả buổi chiều để ứng xử. Đợi đến tối mà ra vườn sau xả xui, heo rừng tạt ngang tấn công thì toi “củ tỏi”, mất giống Châu Sơn.
Một số anh em đến trước đang uống bia cười nói từ ngoài sân vào trong nhà, còn các chị các em “viện mẫu” (từ này của Chính) đang lăng xăng trong bếp. Cả nhà chật kín bạn bè, tràn ngập thực phẩm và bia rượu. Đúng là “Bàn tiệc ngon, Ngài dọn cho con” (T.V. 23). Nhìn vội, tôi nhận ra Thành-Đức, Minh-Hợi, Hùng-Thắng, Quế, Mẫn, Dương (San Jose), và Kha. Có vài người lạ mặt, sau này được biết tên, người đàn ông tóc lưa thưa, râu cằm tủa ra như rễ bó hành lá bạc trắng là Trung (lớp tôi). Kha giới thiệu vị đàn anh Châu Sơn lớn tuổi tên Thực. Có lẽ anh Thực năm nay đã xấp xỉ 70. Tôi quên hỏi anh lớp các vị đàn anh nào, nhưng khi chúng tôi đứng ngoài sân chuyện vãn, anh vỗ vai tôi bảo, “Trần Thành có viết lách gì, cứ gửi anh rồi anh gửi tiền sau.” Tôi trả lời, “Thưa anh, có người đọc là em hạnh phúc rồi, tiền bạc gì anh. Em viết văn làm thơ tiếng Việt để vui chơi và để giữ lại căn cước Việt của mình.” Một người anh em Châu Sơn cùng lớp Chính, dân Lạc Viên, cùng quê với Kha, tên là Toàn ngồi xổm cạo lông dê ngoài sân, đã bị kiến lửa cắn vào mu bàn tay, bèn lấy củ hành tây cắt đôi xoa vào chỗ bị kiến cắn cho bớt ngứa. Thấy người anh em vừa xoa hành lên mu bàn tay vừa xít xa kêu ngứa, tôi ra xe lấy hộp kem trị ngứa khi bị kiến, muỗi hay ong đốt tặng Toàn.
Trước khi đến Lăng-Ga tôi đã mong được gặp Lê-Hải (nhà báo, nhà sinh hoạt xã hội), nhưng thất vọng vì người anh em này bị kẹt vào phút chót. Hơn 10 năm trước, lần đầu tái ngộ Lê Hải ở nhà anh Đào Ngọc Kim, vùng Little Saigon Cali, tôi uống nhiều nên la hét từ đầu đến cuối làm Lê Hải không có dịp lên tiếng. Trên đường về khuya đã bị viện mẫu của tôi trách móc sưng tai. Lần hạnh ngộ này tôi đã đề nghị Chính là xin Lê Hải làm MC cho chương trình. Thỉnh thoảng lên mạng, tôi thấy nhà báo này quân phục chỉnh tề phát ngôn trên YouTube nom oai phong lẫm liệt. Thôi chờ sang năm nhà báo sang Lăng-Ga điều hợp chương trình họp mặt vậy. Anh Bốn (người được ghép giống Châu Sơn) còn đang trên đường từ Houston lên. Đấy là những anh em tôi đã gặp ở Houston, Texas hay California nhiều từ nhiều năm trước. Riêng Quế (râu quai hàm nom như Từ Hải của Nguyễn Du), tôi đã gặp ngay từ thời ngơ ngác ở trại tỵ nạn. Vợ chồng Dương-Vân thì tôi đã ghé thăm nhà uống rượu ở San Jose và cách đây khoảng 10 năm tôi gặp Dương ở phòng cấp cứu của một bệnh viện cách Boston khoảng 1 giờ lái xe. Tôi quên mất là vào tháng mấy năm nào, nhưng trên đường về nhà sau khi dự tang lễ một linh mục bạn, một người bạn điện thoại hỏi tôi, “Có biết ai tên Dương cựu đệ tử Châu Sơn không?” Tôi trả lời ngay và bảo “Dương ở San Jose mà!” Anh bạn tôi trả lời, “Đúng, bạn Châu Sơn của ông bị đụng xe, đang nằm phòng cấp cứu của bệnh viện thành phố Lowell.” Không đắn đo, mình tìm đường đến nhà thương ngay. Trên đường đến nhà thương lẩm bẩm đọc kinh cầu cho bạn mình và tưởng tượng rằng khi gặp Dương sẽ thấy thân hình đầy máu me….May là mình không phải đọc kinh cầu hồn cho Dương. Sau này mới biết cả Dương và tôi đều quen biết vị linh mục qua đời và cả hai đã dự lễ tang, nhưng có lẽ nhà thờ đông người nên không nhìn thấy nhau. Trên đường ra nghĩa trang, Dương bị đụng xe.
Một trong những trung niên lạ mặt ngồi xổm cạo lông dê ngoài sân là linh mục tên Thành, chỗ quen biết của Kha. Cha từ Việt Nam sang và cũng biết Châu Sơn vì ngài đang trụ ở một giáo xứ không xa Châu Sơn bao nhiêu. Cha Thành rất nhanh nhẹn và hoạt bát, xắn áo xắn quần lên cạo lông dê rất sành điệu. Ngài linh mục làm thịt con dê hoạn thì còn gì hơn? Nhậu tiết canh và và tái dê đồng trinh là số một trên đời rồi. Sau khi lông dê đã được cạo sạch. Chính đưa xe máy cầy có trục xúc đồ đến để treo cổ con dê lên cao cho dễ mổ bụng. Lúc tim gan phèo phổi của con dê được thu dọn sạch, Chính đưa bình ga lửa ra thui da dê cho vàng. Thịt dê đã được xẻ ra để làm tái và nấu rựa mận theo kiểu cải biên. Phái đoàn của cha Thành phải đi sớm nên các chị các em viện mẫu vội vàng nấu nướng cho kịp bữa trưa. Bài Đệ Tử Ca được hát vang lên trong nhà Chính-Vân, “Nhìn lên cao, hỡi đệ tử Thánh Gia Châu Sơn… Nhìn lên gương Thánh Gia…”. Bài hát đã được anh em hát 50 năm trước ở Châu Sơn trước giờ “Họp Gia Đình” và kể tội nhau mỗi sáng Chủ Nhật. Giọng ca của các trung niên không còn ngây thơ như giọng ca của các thiếu niên ngày xưa ở Châu Sơn, nhưng vẫn làm mình cảm động và dĩ vãng như cơn mưa hè làm mát lại đời nhau. Tôi vừa hát vừa nhớ lại những lần mình bị phê bình, “Anh …. tuần vừa qua trong giờ đá banh đã bỏ vào rừng !!!! hay anh …. xuống nhà bếp không có phép !!!” Đấy là các tội thường hay được anh em tố cáo nhau. Không hiểu sao có những đứa tinh mắt theo dõi anh em để cuối tuần đứng lên hiên ngang “đấu tố”. Bây giờ tất cả đã trở thành kỷ niệm đẹp và dễ thương. Trong lúc anh em tập hát, Mẫn (tử vi) bị xúc động, khóc. Sự xúc động bất ngờ của một người đàn ông giữa tuổi sáu mươi trước mặt bạn bè thời niên thiếu như cơn lốc xoáy vào trái tim làm khoé mắt mình cũng rươm rươm ướt. Hạnh phúc cho những trái tim còn cười còn khóc được khi nhớ về kỷ niệm xa xôi. Tôi đã gặp lại Mẫn ở nhà Chính bên San Jose, nhưng chưa có dịp gần nhau như lần này. Anh Mẫn tự xưng mình là Men cho đúng kiểu phát âm của Mỹ. Đây là nhân vật khiến người khác dễ để ý tới vì giọng nói chậm rãi từ tốn. Anh Men cũng là một nhà tướng số tử vi và đã hãnh diện tuyên bố chính cha Tôma truyền nghề nghiên cứu tử vi cho anh. Có lẽ anh là học trò tử vi duy nhất của cha Tôma. Theo anh kể thì thành công lớn nhất của anh về việc coi tử vi là lấy được vợ. Không biết ai giới thiệu chị đến nhờ anh lấy số tử vi, nhưng dường như vừa gặp chị anh phải lòng ngay nên vội vã thức khuya nghiên cứu số mạng của chị và soạn lời bàn giải dài 18 trang giấy viết tay. Anh kết luận rằng số của chị cần phải tìm lấy cho được một người chồng giống như anh nếu không sẽ khổ cả đời. Đọc xong 18 trang lý giải tử vi đời mình, chị đã nhận lời làm vợ anh theo đúng lời tiên tri của anh. Coi tử vi như anh Men thì cũng nên coi vì không có thành công nào lớn hơn trong đời người đàn ông là lấy được vợ hiền.
Những chai bia lạnh, và những ly rượu vang đỏ được nâng lên không ngớt giữa tiếng nói cười trên môi của các trung niên đầu điểm khói sương. Các đĩa tiết canh dê hấp dẫn một cách nguy hiểm đã được san sẻ nhanh. Tôi là người nhiều lần bị vợ bảo là “lộng ngôn”, hay “lỗ mãng”, nhất là trên bàn nhậu. Châm ngôn nhậu của tôi là trong bàn nhậu không bao giờ chấp ai dù họ có chửi mình. Sau một tiệc vui chỉ nhớ những gì vui và quên bẵng ngay những gì không đáng nhớ để lần sau còn vui vẻ nhậu tiếp. Tôi biết Chính đã bỏ giờ làm tiết canh với tất cả tấm lòng để đãi anh em ngày hạnh ngộ, nhưng vừa ăn miếng đầu thấy hơi mặn, tôi buột miệng phán, “Tiết canh hơi mặn”. Vợ nghe mình phát biểu thiếu tế nhị, nàng nguýt mắt dài như như sao chổi cảnh cáo. Biết lời phê bình của mình hơi lỗ mãng, nhưng vẫn nói vì mình đang ngồi nhậu với anh em Châu Sơn, chả nhẽ anh em mình chấp cứ nhau chuyện lẻ tẻ? Bàn tiệc hạnh ngộ được dọn lên tràn ngập dê tái, tiết canh dê, gà luộc trộn lá chanh (loại gà thể dục), và các món ăn ngon đã được “Má Năng-Vân” của Chính lên chương trình mấy tháng trước để tiếp đãi anh em. Má Năng là người đàn bà chuyên lo việc nấu ăn cho anh em đệ tử ngày xưa. Nhìn bàn tiệc “trù phú” của Má-Năng-Vân mà nhớ những bữa ăn sáng trưa chiều ở Châu Sơn mấy chục năm trước. Ôi những bữa ăn thời niên thiếu có những đĩa cá hố kho được tái bản nhiều lần đến lúc mình thấy cả nhưng con giòi trắng nhúc nhích tìm cách bò trốn.
Kha báo là đã tìm ra được người anh em lớp cuối cùng của Châu Sơn, 1975, và sẽ đến từ Oklahoma City, thành phố mùa xuân năm 1988 tôi đã để quên cái áo vet (suit jacket) đẹp nhất mặc đi xin việc ở University of Oklahoma. Đại học cho tôi ở căn nhà hai phòng ngủ trong một khu nghỉ mát. Những đứa bạn từ UTA, Thắng, Dương, Hoàng, và Long đã đến vui chơi. Chiều ngày sau cùng của cuộc phỏng vấn ở Đại Học, tôi được tự do đi thăm thành phố, tôi và các bạn dẫn nhau đi uống bia, thời ấy chưa biết uống rượu. Khi ra về tôi đã bỏ quên lại chiếc áo vét đẹp nhất của mình. Sáng dậy ra phi trường vội nên không ra nhà hàng tìm áo. Bây giờ nghe có người anh em tôi chưa gặp lần nào từ Oklahoma sẽ đến tham dự, mình cũng tò mò muốn biết chân dung ra sao. Chúng tôi nhập tiệc khoảng mươi phút thì vợ chồng Minh-Tuyết, đại gia bánh mì Lee’s Sandwiches xuất hiện. Nghe có người anh em Châu Sơn vừa đến, tôi ra cửa đón. Vợ chồng Minh-Tuyết mang đến một thùng bánh mì thịt chính hiệu Lee’s Sandwiches đãi anh em. Không biết ai nói nhỏ “Thằng Minh lái xe Rolls-Roy, đúng là đại gia”. Thật ra thì tôi chưa hề để ý đến xe Rolls-Roy hình dạng ra sao, nhưng cũng biết đây là loại xe vương giả. Cả đời ở Mỹ tôi chỉ biết chạy xe từ Chevrolet Impala mua $300, tiền do hội từ thiện Công Giáo (USCC) cho khi mới ra định cư tại Ocean Springs, Mississppi. Sau này tặng lại cho thằng bạn vì mua được chiếc Datsun móp méo giá $150, máy tốt lại không tốn xăng như chiếc Impala cồng kềnh. Lái chiếc Datsun đến thăm một em vừa quen bị mẹ em nhắn khéo, “Sao cậu không tìm mua xe mới hơn?” Từ ngày lấy vợ đến giờ mình cũng chỉ lái xe Toyota và Honda. Hình như mỗi chiếc Rolls-Roy có rẻ cũng trên $200,000, với số tiền này dân Texas có thể mua một căn nhà khang trang đầy đủ tiện nghi. Không ngờ cựu đệ tử Châu Sơn cũng có người anh em chịu chơi quá. Tôi tưởng tượng ra cảnh một công tử ngày xưa lái chiếc xe hơi của Tây chạy ngang đường làng quê Nam Bộ, hai bên ruộng lúa bạt ngàn thẳng cánh cò bay. Vợ chồng Minh đại gia phải ra về khi bữa tiệc trưa chưa chấm dứt. Người anh em này cũng có máu văn nghệ nên trước khi chia tay đã đứng lên trịnh trọng hát một ca khúc tặng anh em. Sau khi Minh đại gia về, phái đoàn của Hợi và Trung cũng cáo biệt ra về, rồi tiếp đến là phái đoàn du khách Việt Nam. Tiếc quá anh em không ở lại được đầy đủ cho hết đêm.
Tiệc trưa chưa xong đã dây dưa sang tiệc chiều. Các hiền mẫu Châu Sơn lại sắn tay áo sửa soạn đồ nhậu. Trước khi lên đường đi Lăng-Ga tôi đã nhắn Chính là cho phép cô chủ nhà của tôi được nấu món rựa mận giả cầy theo công thức cải biên. Lúc đến nhà Dương Phạm tôi đã nhắc bạn tôi phải mang theo những gia vị cần thiết như mắm tôm, xả tươi, riềng tương, lá mơ, và cơm mẻ. Tôi ở trọ nhà cô chủ này gần 30 năm rồi nên quen các món nhậu cô ta bày ra. Món giả cầy nếu không có cơm mẻ thì dùng rượu vang đỏ và me chua để tạo hương vị quen thuộc. Thay vì nấu với củ chuối như ở quê nhà, ta có thể thay bằng măng hộp, củ sen tươi, và búp chuối thái chỉ. Con dê hơi lớn nên còn dư nhiều thịt nhiều xương sườn đủ để nấu nồi rựa mận không cần thịt heo rừng Chính đã bẫy để dành đãi anh em.

Đêm hát gọi côn trùng

Sau bữa chiều, anh em dẫn nhau ra quanh hồ bơi sau sân nhà tiếp tục tuần rượu cuối ngày. Đêm tháng Sáu bầu trời rực sáng sao trời giữa cánh đồng mênh mông. Cảnh vật thơ mộng hoang dã này chỉ có thể tìm được ở nơi như Lăng-Ga Chính-Vân. Mai về lại thành phố sẽ không còn nhìn được sao trời nhiều như đêm nay. Trong lúc mọi người ngồi thả chân ngâm nước hồ mát lạnh, Chính ôm đàn hát không ngừng. Tiếng hát cung đàn của Chính lan ra như cơn gió nhẹ thổi ngang cánh đồng về khuya, làm lũ côn trùng thức giấc cất tiếng gọi sao trời.
Từ sáng đến giờ anh em chỉ ăn nhậu nhiều hơn chia sẻ cuộc đời. Tôi đề nghị anh em thay nhau kể chuyện đời mình bắt đầu bằng chuyện tình yêu đôi lứa. Anh Bốn kể chuyện đi tán chị Liễu ở tiệm ăn Việt Nam tại một phố nhỏ Texas nghe như chuyện cao bồi cỡi ngựa tán gái. Chỉ khác là anh Bốn lái xe thể thao hai chỗ ngồi láng coóng đến dụ dỗ nàng, và thay vì đấu súng với mấy tay trai trẻ trong thành phố đã để ý đến chị Liễu, anh đã dùng vợt Tennis đã hạ địch thủ dễ dàng. Còn chuyện tình của anh Thành-Đức với chị Chi cũng ly kỳ hấp dẫn như chuyện phim chưởng. Nàng trốn nhà theo chàng, một đêm, không cần biết tương lai ra sao. Bây giờ trời thương Thành-Đức những lúc bị cảm cúm, chị Chi chích nhẹ cho một mũi là khoẻ ngay vì chị là chuyên gia y tá nhiều năm kinh nghiệm. Cứ sau mỗi câu chuyện tình của anh em thì Chính lại nhanh nhẹn cất tiếng đàn hát một ca khúc tình tứ để minh hoạ cho thêm mùi vị tình yêu. Nhà Tử Vi Men thì kể tiếp câu chuyện nhờ mình xem tử vi mà được vợ. Quế chậm rãi kể thành tích tán gái của mình thời sinh viên. Nàng (Lan-Anh) nổi tiếng với nét mặt nghiêm nghị và ít nói. Nhóm bạn sinh viên thách đố nhau xem ai có thể mở được nụ cười của nàng vì chưa tay nào được nàng ban cho cái hẹn hay nụ cười nửa chừng, nhưng chàng đã làm nàng phải cất tiếng cười trong trẻo và đã thắng cuộc, vừa được bữa ăn vừa được trái tim nàng. Đêm qua vội, những chuyện tình chưa kịp kể sẽ để dành sang năm. Nhưng trước khi chấm dứt tuần rượu khuya bên hồ, chị Liễu đã cất tiếng hát “Hà nội mùa này vắng những cơn mưa…” Đêm Lăng-Ga nghe thơ Phan Vũ được Phú Quang phổ nhạc chợt nghe lòng mình xao xuyến hoang mang dù chẳng có gì dình líu với Hà Nội, hay người Hà Nội.
Sau một đêm nằm nghe côn trùng và ôn lại kỷ niệm thời niên thiếu giữa cánh đồng mênh mông hoang dã, nghĩ đến lúc sắp chia tay lòng mình bất chợt lao đao xao xuyến. Tôi vào bếp nấu nước pha cà phê trong lúc anh em còn đang ngủ. Nghe tiếng lục đục trong bếp, Vân vào giúp tôi nấu nước sôi đổ vào bình lớn cho mọi người có sẵn nước sôi pha trà hay cà phê. Nhìn Vân nhanh nhẹn sửa soạn bữa ăn sáng cho anh em sau một ngày vất vả lo ba bữa ăn tiếp đãi mấy chục người hôm qua mà vẫn tươi cười đôn hậu, tôi nhận ra được rằng người anh em Chính của tôi đúng là có phước lộc ba đời để lại, và có lẽ cũng nhờ cả phúc lộc từ Châu Sơn còn sót lại từ thời niên thiếu.
Bây giờ anh em đang bước vào giai đoạn gần cuối cuộc đời. Ở tuổi thanh xuân và trung niên ai cũng bận bịu học hành hay xây dựng cuộc đời và gầy dựng gia đình riêng cho mình. Lúc bước gần đến ngưỡng cửa hoàng hôn đời người, bài thơ “Uống Rượu Tiêu Sầu” của Cao Bá Quát càng ngày càng thấm thía thêm.

Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lếu láo

Đặng Đức Chính chúc lành cho Nhau

Và cũng đúng như Chính bảo, “Chả biết cuộc sống “nghiệt ngã” mình còn gặp nhau được mấy lần nữa.!!!!!” Trại gà của Chính của Kha hay gia tài sản nghiệp của mọi người rồi sẽ chẳng là gì khi nhắm mắt xuôi tay. Mình cầu cho anh em mạnh khoẻ để còn nhiều dịp gặp nhau uống rượu, kể chuyện thời niên thiếu Châu Sơn. Những câu chuyện càng kể càng hay, càng nhớ càng thương.

Anh em ơi
Ta còn gặp nhau lúc này
Xiết chặt thân tình…
Mai xa nhau
Phương trời một nơi
Chúng ta nhớ về nhau….
(Đồng Tâm Bên Nhau, Ttm)

Đa tạ cuộc đời đã cho chúng ta chia chung một vùng kỷ niệm ở Châu Sơn.

Trần Thu Miên, 2108

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment

 




 
 

 
 

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4