Lâm Văn Bé: 30 Tháng Tư, 43 Năm Nhìn Lại

 

image002Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 43 năm rồi mà tài liệu viết về cuộc chiến tranh nầy vẫn còn phong phú. Không kể các tài liệu còn nằm im trong các kho lưu trữ chưa được khai thác, chỉ kể đến tài liệu các thể loại đang lưu hành trong các thư viện, con số thật khổng lồ.

Tham khảo thư mục World Cat (World Catalog) vào ngày 10/04/2018, với cụm từ Vietnam War, độc giả có thể tìm thấy 202,070 tiêu đề (notice), với cụm từ Guerre du Vietnam có 6,590 tiêu đề và với Chiến tranh Việt Nam có 935 tiêu đề, đó là chưa kể với những tiêu đề khác như Vietnam History, Histoire du Vietnam, Lịch sử Việt Nam. Phải hiểu là với hơn 200,000 tiêu đề như trên được sử dụng trong hàng trăm thư viện trên thế giới với nhiều ngôn ngữ khác nhau, khối tài liệu liên quan đến chiến tranh Việt Nam phải có đến vài triệu. Chiến tranh VN được xem như cuộc chiến tranh tàn khốc nhứt trong thế kỷ 20 kể về thời gian, mức độ thiệt hại tài sản và nhân mạng. Chỉ riêng về Mỹ, chi phí khoảng 150 tỉ Mỹ kim (thời giá hôm nay gần 1,000 tỉ), 12 tướng, 238 đại tá và 58,000 quân nhân tử trận, 300,000 bị thương. Về phía VN, có 7 tướng lãnh và 12 đại tá tử trận, số thiệt hại nhân mạng và tài sản cả hai phía thật khổng lồ.

Sở dĩ chúng tôi đề cập đến khối lượng tài liệu và mức độ tác hại của chiến tranh VN như trên, chúng tôi muốn nói đến nhiều thông tin chính yếu của cuộc chiến, mặc dù đã lần lượt được giải mật, nhưng thực sự không giải tỏa hết được những tranh luận và bất đồng. Đối với người Việt, sự mâu thuẫn trong dữ kiện và nhận định lại còn sâu sắc hơn tùy theo vị trí bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, và ngay cả trong mỗi bên.

Ngoài ra, chiến tranh VN còn trở nên quá phức tạp lúc kết thúc vì có quá nhiều cấp thẩm quyền có mặt trong một thời gian quá ngắn để đối phó với quá nhiều biến cố kinh thiên động địa, do đó chính trong giai đoạn nầy lại có rất nhiều mảng đen. Để làm sáng tỏ phần nào những mảng đen nầy, chúng tôi ghi lại những quyết định chiến lược của những giới chức thẩm quyền trong cuộc chiến tranh nầy để từ đó thử tìm hiểu những lý do chính yếu của cuộc bại trận của miền Nam.

Bước đầu của cuộc kết thúc: Hiệp định Paris (27/01/1973)

Nixon-Chu Ân Lai trong buổi dạ yến với món vịt quay tại Bắc Kinh tháng 2/1972 đánh dấu ngày Mỹ quay lưng với VN (Ảnh: Internet)

Nixon-Chu Ân Lai trong buổi dạ yến với món vịt quay tại Bắc Kinh tháng 2/1972 đánh dấu ngày Mỹ quay lưng với VN (Ảnh: Internet)

Hội nghị Paris bắt đầu ngày 13-05-1968 với cuộc gặp mặt chính thức giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Averell Harriman, Cyrus Vance vào cuối thời Tổng Thống Lyndon Johnson (đảng Dân Chủ) và được ký kết ngày 27-01-1973 vào đầu nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng Thống Richard Nixon (đảng Cộng Hòa). Lúc bắt đầu chỉ có 2 bên là Bắc Việt và Mỹ, đến ngày 25/01/1969 trở thành 4 bên có thêm VNCH và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tuy kéo dài 4 năm với hơn 100 phiên họp, nhưng những phiên họp công khai đa số chỉ là những màn kịch diễn lại từ các cuộc mật đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger tại nhà của Jean Sainteny ở Paris. Hội nghị thực sự kết thúc không phải tại Paris mà tại Bắc Kinh khi Nixon gặp Mao Trạch Đông vào tháng 2-1972, sau 2 năm Kissinger bí mật qua lại để giàn xếp cuộc gặp gỡ. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa kể như đã được định đoạt tại đây, Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam theo những điều kiện của cộng sản.

Để trấn an sự lo ngại của Tổng Thống Thiệu về cuộc gặp gỡ nầy, Nixon đã gởi thơ TT Thiệu:

White House ngày 31 tháng 12, 1971

Thưa Tổng Thống,

Nhân dịp tôi chuẩn bị cho chuyến đi Bắc Kinh sắp tới để nói chuyện với những người lãnh đạo Trung Quốc, tôi muốn chia sẻ với Ông vài quan điểm của tôi về các cuộc đàm đạo tại đó… Ông có thể tin tưởng tuyệt đối rằng tôi sẽ không làm một thỏa thuận nào có phương hại tới các quốc gia khác… Xin Ông tiếp tục tin vào sự yểm trợ của Hoa Kỳ về những nỗ lực của Ông nhằm đem lại hòa bình cho VN và xây dựng nền thịnh vượng mới cho nhân dân VN (Nguyễn Tiến Hưng. Khi Đồng Minh tháo chạy, bản chụp nguyên tác bức thơ, tr.79).

Nhưng trong buổi họp với Chu Ân Lai, Nixon lại tuyên bố khác: “Nếu như bất cứ người lãnh đạo nào của Bắc Việt chấp nhận cuộc ngưng bắn và trả lại tù binh cho chúng tôi, chúng tôi sẽ rút quân khỏi Việt Nam trong vòng 6 tháng kể từ ngày đó”. (Richard Nixon. Memoirs, p. 568)

Kissinger lại càng lớn lối hơn. Theo ký giả Elaine Sciolino trong bài Records Dispute Kissinger on His‘71 Visit to China, đăng trong New York Times ngày Feb 2, 2002, căn cứ vào tài liệu giải mật của National Security Archive dựa vào biên bản phiên họp ngày 9 tháng 7, 1971 với Chu Ân Lai, Kissinger đã nói: Chính phủ Nixon đã nhứt quyết rút quân ra khỏi Việt Nam, ngay cả đơn phương dù cho điều nầy đưa đến việc lật đổ chánh phủ miền Nam.

Khi Nixon ra tái cử năm 1972, Nixon-Kissinger ráo riết làm áp lực để TT Thiệu ký vào hiệp định. Một mặt, Kissinger thảo một loạt thơ cho Nixon ký (tổng cộng 27 mật thơ từ 1972 đến 1973, không kể những trao đổi giữa TT Ford và TT Thiệu sau khi Nixon từ chức), hứa sẽ ủng hộ ông Thiệu và VNCH, một mặt dùng chánh sách đe dọa, lúc ban đầu là dọa đảo chánh, sau đó là ám sát. Trong bức thơ Nixon gởi TT Thiệu ngày 06 tháng 10, 1972 có đoạn chót như sau:

“… I would urge you to take every measure to avoid the development of an atmosphere which could lead to events similar to those which we abhorred in 1963 and which I personnaly opposed so vehemently in 1968” (Nguyễn Tiến Hưng, KĐMTC. p.91)

Tôi yêu cầu Ông phải áp dụng mọi biện pháp để tránh xảy ra một trạng huống có thể đưa đến biến cố mà chúng tôi ghê tởm như hồi năm 1963 mà chính tôi cũng cực lực phản đối năm 1968.

Rõ ràng là Nixon đã nhắc lại cuộc đảo chánh và cái chết của ông Diệm năm 1963 để đe dọa ông Thiệu. Sự đe dọa tiếp tục khi Nixon đã đắc cử mà Hiệp Định vẫn chưa ký, Nixon cần có sự vẻ vang khi làm lễ đăng quang, nên gởi tối hậu thơ cho TT Thiệu trước khi nhậm chức.

White House ngày 14/1/1973

Thưa Tổng Thống,

“… Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 20 tháng 1 và sẽ ký vào ngày 27 tháng 1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc nầy dù phải một mình, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ của Ông làm cản trở cho công cuộc vãn hồi hòa bình tại VN. Kết quả không tránh khỏi là Mỹ sẽ cắt viện trợ quân sự và kinh tế lập tức mà dù cho có sự thay đổi nhân sự cũng không thể cứu vãn được.” (NTH, tr.101).

Nên hiểu là trong ngôn ngữ ngoại giao, cụm từ “thay đổi nhân sự” phải hiểu là đảo chánh.

Như chưa đủ, 3 ngày sau (17/1/1973), Nixon lại gởi thêm một bức thơ, lập lại lời đe dọa như trên cộng thêm vài lời phủ dụ:

“… Tôi xin nhắc lại những cam kết của tôi như sau: Thứ nhất, Hoa Kỳ công nhận chính phủ của Ông là chính phủ duy nhất hợp pháp của miền Nam VN; thứ hai, HK không công nhận sự có mặt của một quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam và thứ ba, HK sẽ phản ứng mãnh liệt nếu Hiệp định bị vi phạm. Tôi nghĩ rằng Ông có hai lựa chọn chính yếu: một là ông tiếp tục cản trở việc ký kết, đó là hành động có vẻ hiên ngang nhưng thiển cận, hai là dùng bản Hiệp Định như một phương tiện để xây dựng một căn bản mới cho cuộc bang giao giữa HK và VNCH.”(NTH. KĐMTC, p.102-103)

Ngày 20 tháng 1, 1973, Nixon làm lễ nhậm chức nhiệm kỳ 2. Ngày 27 tháng 1, 1973, Hiệp định Paris được ký kết, giữa 4 bên: VNCH, Mỹ, Bắc Việt và Mặt Trận GPMN.

Mỹ rút quân (thực ra lúc đó Mỹ chỉ còn lại có 25,000 quân) và tù binh Mỹ được thả, nhưng Nixon bội hứa cả 3 điều đã long trọng cam kết: 170,000 quân Cộng Sản (Miền Nam và miền Bắc) được quyền ở lại miền Nam; viện trợ quân sự Mỹ vẫn bị cắt giảm từ 2.1 tỉ USD năm 1973 còn 700,000 triệu USD năm 1975; và Mỹ đã làm ngơ trước sự tấn công vũ bão của cộng sản Bắc Việt vào lãnh thổ VNCH.

Miền Nam đã bị bức tử bởi người bạn đồng minh Mỹ và người đao phủ chính là Kissinger. Nhiều nhà chính trị và sử học đều nhận định là miền Nam không mất hay mất một cách tàn bạo nếu không có Kissinger. Ngạo mạn và khinh rẻ VN, Kissinger đã để lại nhiều câu nói tàn ác để dời.

Khi Đà Nẳng bị thất thủ ngày 30/03/1975, hàng ngàn người dân chết trên đường trốn chạy cộng sản, ông ta tuyên bố: Sao những người nầy không chết hết cho rồi. Điều tệ hại nhứt là chúng cứ sống dai dẳng hoài. “Why don’t these people die fast.The worst thing that couls happen would be for them to linger on” (Ron Nessen. It Sure Looks Different from the Inside, p.98).

Ngoài ra, ngày 17 tháng 4, khi Đại sứ Graham Martin, một trong số ít người Mỹ có lòng nhân đạo với nhân dân VN, cố trì hoãn cuộc di tản người Mỹ để có thể di tản càng nhiều càng tốt số người Việt, thì ông nhận được mật điện của Kissinger ra lịnh ông phải rút chạy cho nhanh. Chẳng những Martin không thi hành, mà khi ông nhận được lịnh di tản 50,000 người Việt, ông cho là con số nầy ít quá nên ông diễn dịch là 50,000 gia đình, do đó sau cùng số người di tản đến đất Mỹ là 140,000 người. (Vietnam Evacuation: Testimony of Ambassador Graham Martin, Jan.27, 1976, p.545). Nếu nước Mỹ có những Kissinger gian ác thì cũng có những Martin nhân ái và có nhân phẩm.

Tổng Thống Thiệu và thế giới đâu có thể ngờ được ông Tổng Thống của một quốc gia vĩ đại nhứt thế giới lại có thể phản bội một cách nhục nhã như vậy, và khi biết thì quá trễ. Kissinger đã không giấu diếm: Nước Mỹ không có kẻ thù mà cũng không có bạn trường cửu, chỉ có quyền lợi mà thôi, và ông Thiệu đã cay đắng than thở: Làm kẻ thù của Hoa Kỳ thì dễ, nhưng làm bạn với họ thật khó.

Ông Thiệu có lý do để nói như vậy. Ông bị CIA theo dõi từng bước một, bị đặt ống nghe đến nỗi có lúc ông nói chuyện với bí thư Hoàng Đức Nhã phải viết trên giấy. Về chuyện nghe lén trong Dinh Độc Lập, ông Trần Văn Đôn, trong nhật ký Việt Nam nhân chứng có viết: “Trong lúc Dinh Độc Lập được sửa chữa sau vụ ném bom năm 1962, trong mấy năm trời xây cất, Mỹ đã đặt máy vi âm để nghe tất cả những gì xảy ra trong Dinh Độc Lập. Từ đó suy luận ra thì chắc chắn Việt Cộng đã cho cán bộ trà trộn khi làm công việc xây cất chỉnh trang đã lén đặt máy truyền tin cũng như người Mỹ đã làm” (sđd, tr.498).

Trở lại chuyện bạn-thù với Mỹ, khi TT Thiệu đến Đài Loan ngày 25 tháng 4, 1975, TT Ford, người thay thế Nixon đã gởi bà Anna Chennault, người sứ giả thân tín, yêu cầu ông đừng đến Mỹ. Mãi cho đến năm 1985, khi Reagan đắc cử, ông mới được đến Mỹ định cư ở Boston cho đến khi mất (29/9/2001).

Chiến dịch Tây Nguyên

Khi Hiệp Định Paris được ký kết, lực lượng quân sự của VNCH còn mạnh hơn Bắc Việt, nhưng với sự cắt giảm viện trợ của Mỹ trong khi Trung Cộng và Nga Sô tăng cường tiếp tế cho cộng sản Bắc Việt, và CS Bắc Việt xâm nhập vào Nam như chỗ không người, chỉ một năm sau, lực lượng miền Bắc đã khống chế Miền Nam.

Đường mòn HCM (Trường Sơn Tây) và Hành Lang 613 (Trường Sơn Đông) Nguồn: Nguyễn Đức Phương

Đường mòn HCM (Trường Sơn Tây) và Hành Lang 613 (Trường Sơn Đông) Nguồn: Nguyễn Đức Phương

Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội huy động 30,000 nhân công cho khởi công xây xa lộ Ðông Trường Sơn hay hành lang 613 song song với đường mòn Hồ Chí Minh (cách xa nhau 160 km ở đoạn xa nhứt) nhưng hoàn toàn nằm trong lãnh thổ VN, chạy từ Đồng Hới đến Lộc Ninh. Nếu kể cả đường chiến lược (Bắc Nam) và đường chiến dịch (Đông Tây) cũ và mới, tổng cộng đường tiếp vận từ Bắc vô Nam dài đến 20,000 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn có hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên vào tới Lộc Ninh dài 5,000km. Đường dây điện thoại cũng đã kéo tới Lộc Ninh, từ Hà Nội có thể nói chuyện thẳng với nhiều chiến trường trong Nam.

Văn Tiến Dũng trong Đại thắng mùa xuân đã viết: “Nhà nước và nhân dân ta đã dồn sức dồn của rất lớn vào công trình này. Hàng nghìn xe máy các loại, hàng chục nghìn bộ đội, công nhân, kỹ sư, thanh niên xung phong và dân công vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ do khí hậu, thời tiết và bom đạn địch gây ra, ngày đêm phá núi san đèo, chuyển đá đắp đường, xây cống, dựng cầu, tạo ra một kỳ công rất tự hào ở phía Tây Tổ quốc. Đúng là “Đường ta rộng thênh thang tám thước”, các xe vận tải cỡ lớn, các xe chiến đấu loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm hăm hở chuyển hàng trăm nghìn tấn vật chất các loại vào hệ thống kho tàng cho các chiến trường để bảo đảm đánh lớn.” (ĐTMX, chương 1, tr.25)

Đúng như Văn Tiến Dũng nói “đường ta thênh thang” vì phi cơ thám thính của VNCH thấy rõ sự di chuyển của đoàn quân xâm lược Bắc Việt nhưng Hoa Kỳ ngăn cản không cho không quân VNCH đánh phá, vả chăng VNCH cũng không có đủ phi cơ để làm việc nầy sau khi Mỹ rút quân. Một số giới chức quân sự cho rằng viện trợ của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc giai đoạn sau Hiệp Định Paris gia tăng gấp 3-4 lần so với thời gian trước, nhưng sự thực không hẳn như vậy vì CS đã dốc toàn lực quân nhân và khí giới của cả miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua những xa lộ thênh thang nầy. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 1975 “đoàn vận tải Trường Sơn vận chuyển vào Nam Bộ 11 vạn 5 nghìn quân và 9 vạn tấn hàng (trong đó có 37.000 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu). Riêng trong những ngày “chuẩn bị nước rút” từ ngày 5 đến 26-4, vừa khai thác vừa vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn, 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, 2.600 tấn xăng dầu. Nhiều trạm sửa chữa ôtô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ động của chiến dịch.”

Sau khi chuẩn bị kỹ hậu cần, từ mùa hè 1974, Bộ Chính trị, Quân Ủy Trung Ương và các cấp chỉ huy chiến trường miền Nam đã có nhiều phiên họp tại Hà Nội để thảo luận về kế hoạch hành động. Trong quyển Tổng Hành Dinh trong mùa Xuân Toàn Thắng, Võ Nguyên Giáp viết: “Đầu tháng 12, các anh Phạm Hùng (Bí Thư Trung ương Cục Miền Nam) Trần Văn Trà (thượng tướng, Tư Lịnh Miền B2 gồm Nam Bộ và Nam Trung Bộ), Phan Văn Đáng (Nam Bộ), Võ Chí Công, Chu Huy Mân (Khu 5) đã có mặt ở Hà Nội. Tôi và Bộ Tổng Tham mưu đã gặp và làm việc với các anh, tranh thủ thêm ý kiến của chiến trường về hướng tiến công chiến lược, về mục tiêu tiến công. Các anh cũng đã tiếp xúc, trao đổi ý kiến với một số đồng chí trong Bộ Chính trị, chuẩn bị cho cuộc họp quan trọng sắp tới. Về kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976, mọi người đều cơ bản nhất trí. Về hướng chiến trường chính, đã có hai ý kiến: một là chọn Tây Nguyên, hai là chọn miền Đông Nam Bộ. Tây Nguyên chỉ đánh Đức Lập để mở đường vào Đông Nam Bộ. Về mục tiêu tiến công, đã có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa Bộ Tổng Tham mưu với đoàn cán bộ B2 xung quanh kế hoạch tác chiến mở đầu mùa khô 1974-1975 của Bộ Tư lệnh Miền. Các đồng chí ở B2 với thực tiễn và kinh nghiệm chiến đấu, nắm tình hình địch tại chỗ, chủ trương trước hết đánh Đồng Xoài, chi khu quận lỵ và là vị trí then chốt của tỉnh Phước Long. Tiếp đó tiến đánh Phước Long, giành một chiến thắng mở đầu vang dội. Các đồng chí Bộ Tổng Tham mưu, trước tình hình ta rất thiếu đạn, nhất là đạn súng lớn, chủ trương đánh Bù Đăng, Bù Na là những vị trí quan trọng hơn ở phía bắc Đồng Xoài để có thêm đạn pháo chiến lợi phẩm đánh Đồng Xoài. Cuối cùng mọi người thống nhất ý kiến về kế hoạch tiến công và mục tiêu tiến công là Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài và cả Phước Long, mặc dù lúc đầu Bộ Tổng Tham mưu không đặt ra nhiệm vụ đánh mục tiêu này. Các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cũng chấp nhận kế hoạch và mục tiêu tiến công như vậy. Kế hoạch mùa khô của B2 vì thế cũng không bị đảo lộn… Thực tiễn chiến trường đã chứng tỏ ý kiến của các anh ở B2 là đúng” (sđd, tr.91,92, 104).

“Các anh ở B2” là Phạm Hùng và Tướng Trần Văn Trà. Trong quyển hồi ký Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, Trần Văn Trà kể thành tích và các trận đánh, có đoạn chỉ trích và mỉa mai Quân Ủy Trung Ương, đặc biệt hai tướng Văn Tiến Dũng và Lê Ngọc Hiền mà Trà gọi là “lính nhà vua”. Theo Trà, chính ông ta và Phạm Hùng đã gặp anh Ba (Lê Duẫn) đề nghị đánh Phước Long trong khi Quân Ủy do dự, và đánh Ban Mê Thuột thay vì Đức Lập, Kontum hay Pleiku. Hãy đọc một đoạn văn ngắn của Trà: “Điện do tôi tự viết và ký tên nhờ Bộ Tổng Tham Mưu chuyển. Nhưng chiều hôm đó trong lúc tôi đang ngồi trước bản đồ, nghiên cứu cách bố trí của địch trong tỉnh Phước Long thỉ đồng chí Lê Ngọc Hiền (Tham Mưu Phó) đến. Đồng chí đưa ra bức thơ tôi viết và nói chưa gởi đi vì trong điện tôi đã cho phép sử dụng xe tăng và pháo lớn, điều mà các anh trên đã dặn là không được sử dụng. Bực mình, tôi nói với đồng chí Hiền rằng tôi là tư lịnh chiến trường, không lẽ tôi không có quyền điện chỉ huy các lực lượng của tôi sao? Không lẽ điện của tôi bị kiểm duyệt bắt buộc sửa đổi ngoài ý muốn của tôi. Việc sử dụng võ khí lớn tôi đã xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí cho điện ngay và đồng chí sẽ chịu trách nhiệm nếu điện của tôi bị trể, lỡ thời cơ” (sđd, tr.177-178). Bàn về đề nghị đánh Ban Mê Thuột, Trà viết: “Tôi ví đánh Ban Mê Thuột như đốn một cây gỗ lớn từ gốc, toàn bộ tàn lá và thân cây phải đổ. Đánh như vậy mới là đòn hiểm về chiến lược, đảm báo chắc thắng và thắng to. Tôi trao đổi việc nầy với anh Hùng và anh Hai Văn (Võ Nguyên Giáp). Các anh đều nhất trí bỏ Đức Lập mà đánh ngay vào Ban Mê Thuột”. (sđd tr.183).

Trong 3 quyển hồi ký của Giáp, Dũng, Trà, ai cũng giành ý kiến đánh Ban Mê Thuột là của mình. Tuy là Cộng Sản và có công lớn trong chiến thắng quyết định, nhưng Phạm Hùng và Trần Văn Trà bị trù dập bởi là người gốc miền Nam, không vây cánh và trực tính. Quyển hồi ký của Trà bị cấm lưu hành. Trong số các tư lịnh chiến trường miền Nam còn có Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) được cử làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh khi cộng Sản miền Bắc ngơ ngáo vào Sài Gòn rồi làm Thủ tướng một thời gian ngắn để cứu đói và đặt nền tảng cho chánh sách mở cửa, nhưng chẳng bao lâu bị phe răng đen mã tấu Nguyễn Văn Linh hạ bệ, có tin nói là chết vì bị đầu độc.

Chiến thắng Phước Long đã đưa cộng sản đến một quyết định chiến lược tối hậu: Bộ Chính trị hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, xách động quần chúng, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa… Ngoài kế hoạch chiến lược 1975-1976, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. (Tổng Hành Dinh trong mùa Xuân Toàn Thắng, tr. 108).

Để thực hiện cuộc Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa, Bộ Chính Trị đã cử Văn Tiến Dũng vào Tây Nguyên làm Quân Ủy Chiến dịch 275 với bí danh là Tuấn để đánh chiếm Tây Nguyên. Tư Lịnh chiến trường là Trung Tướng Hoàng Minh Thảo điều khiển 4 sư đoàn 310, 316, F10 và 3 sao vàng với hàng trăm chiến xa T-54, đại bác 130 ly, hỏa tiển 120 ly. Với kế nghi binh giả vờ đánh Pleiku, Kontum để nhử quân VNCH đến giải tỏa, quân cộng sản cắt các đường dẫn đến Ban Mê Thuột rồi tấn công bằng biển người, đại pháo và xe tăng vào thị xã Ban Mê Thuột ngày 10/03/1975. Đạo quân trấn đóng của VNCH chỉ có 1 trung đoàn phải chiến đấu với quân cộng sản gấp 20 lần, lại thêm không may không quân VNCH oanh tạc lầm vào Bộ chỉ huy của Trung đoàn, mọi liên lạc với Quân Đoàn 2 bị cắt đứt, đạo quân tiếp viện bị chận đánh, Ban Mê Thuột thất thủ vào ngày 14 tháng 3. Ngoài yếu tố lực lượng giữa phía phía CS và VNCH quá chênh lệch, nhiều nhận định của các giới chức Mỹ-Việt, được lập lại bởi báo chí cho là việc mất Ban Mê Thuột là do lỗi của tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II đã không nghe theo tin tức của quân báo, mắc lừa kế nghi binh của cộng sản, tướng Phú không có khả năng lãnh đạo, thuộc cấp không phục tùng, không am tường địa thế vì mới được bổ nhiệm 3 tháng thì vùng cao nguyên dậy khói lửa. Tuy nhiên, một số cộng sự viên của ông thì lại có những nhận định khác, rằng ông là nạn nhân của một trạng huống vượt quá khả năng quyết định vì sự bất nhất, bất minh của thượng cấp. Lịch sử nhiều khi có những oan khiên, do đó nếu thực sự tướng Phú có tội với tổ quốc thì sự tuẫn tiết của ông cũng là một hình thức chuộc tội. Viết tới đây, tôi chợt nghĩ:
History is an account mostly false, Of events, mostly unimportant,Which are brought about by rulers, mostly knaves, And soldiers, mostly fools. (Ambrose Bierce). Lịch sử là sự kể lại mà hầu hết là sai lầm, Những biến cố hầu hết là chẳng có gì quan trọng, tạo nên bởi những kẻ cầm quyền mà hầu hết là xảo quyệt, và bởi những quân nhân mà hầu hết là những kẻ dại khờ. (BTR)

Kết thúc cuộc chiến

1. Cuộc họp ngày 11 tháng 3

Một ngày sau khi cộng sản tấn công Ban Mê Thuột (11/03/1975), TT Thiệu họp với 3 tướng lãnh chủ chốt của chế độ là Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn An ninh, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Sau khi duyệt xét tình hình, ông có quyết định: “Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không bảo vệ được tất cả lãnh thổ. Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những nơi đông dân, trù phú vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng” (Trần Đông Phong. VNCH, 10 ngày cuối cùng, tr.116). Quan điểm nầy cũng trùng hợp với ý kiến của tướng Westmoreland, cựu Tổng Tư Lịnh quân Mỹ ở VN chuyển qua ông Trần Kim Phượng, đại sứ VN tại Mỹ 2 ngày sau đó: “VNCH nên vừa rút quân đúng cách, vừa gây cho địch càng nhiều thiệt hại càng tốt, rồi tiến lần về vùng quan trọng là Nam Kỳ (Cochinchina) gồm Saigon và Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi có thể cầm cự được rồi tìm thêm tiếp liệu, và hi vọng cuộc khủng hoảng nầy sẽ làm cho Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ lại” (William Westmoreland.A Soldier Reports, p.400).

Phải chăng quyết định tái phối trí là một ý tưởng đã nhen nhúm từ lâu bởi lẽ từ đầu năm 1974, tướng John Murray, đại diện cơ quan Quốc phòng Mỹ DAO ở Sài Gòn đã báo động cho Bộ Tổng Tham Mưu VN phải tiết kiệm đồ tiếp liệu, nhứt là đạn dược bởi sự cắt giảm viện trợ Mỹ, đồng thời ông cũng cung cấp một ước lượng vùng lãnh thổ VN có thể bảo vệ được tương ứng với số tiền viện trợ.

– Nếu tiền viện trợ là 1.4 tỉ MK: có thể bảo vệ được cả 4 vùng chiến thuật
– Nếu tiền viện trợ là 1.1 tỉ MK: không thể giữ được Vùng I
– Nếu tiền viện trợ là 900 triệu MK: không thể giữ được Vùng I và II
– Nếu tiền viện trợ là 750 triệu MK: chỉ giữ được một số vùng đông dân
– Nếu tiền viện trợ là 600 triệu MK: chỉ giữ được Sài Gòn và Miền Tây.

Ngân sách năm 1975 chỉ còn 300 triệu sau khi bị khấu trừ một số thâm hụt trước đó và trả chi phí cho cơ quan DAO. Sau nầy, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng khi gặp ông Thiệu ở Luân Đôn được biết thêm kế hoạch rút quân về Miền Tây của ông Thiệu như sau: “Sau khi rút khỏi Đà Nẵng, quân chủ lực chỉ còn vỏn vẹn 63,000 người. Phải bỏ Sài Gòn, nhưng tôi sẽ để một sư đoàn ở lại trấn giữ (để chận đường) rồi rút hết về miền Tây. Khi nào qua được Bến Lức thì sẽ phá cầu đi, và đây là tuyến cuối cùng. Sau đó không quân và hải quân sẽ cứu sư đoàn còn lại ở Sài Gòn, được bao nhiêu hay bấy nhiêu” (NTH.Tâm tư TT Thiệu, tr. 120). Kế hoạch nầy giống ý của kế hoạch Westmoreland kể trên và phải chăng không thực hiện được vì những biến cố dồn dập khiến ông Thiệu và nhiều ông tướng khác đã di tản trước khi Dương Văn Minh đầu hàng. Nếu kế hoạch được thực hiện, chắc chắn sau đó không có hàng triệu người phải đi kinh tế mới và bị đi tù cải tạo, và VNCH vẫn còn có sở pháp lý trên trường quốc tế.

Cuộc họp ngày 14 tháng 3 tại Cam Ranh

Ba ngày sau cuộc họp tại Dinh Độc Lập, ngày 14-3, một cuộc họp mật khác tại Cam Ranh cũng gồm 4 vị trong cuộc họp ngày 11/03 thêm tướng Phú. Những quyết định của phiên hợp lịch sử nầy đã đưa đến những hỗn loạn dây chuyền làm tan rã quân đội Việt Nam Cộng Hòa 55 ngày sau đó mà hậu quả là xóa tên chế độ VNCH.

Frank Snepp, phụ tá của Thomas Polgar, Giám Đốc CIA tại VN, trong quyển Decent Interval xuất bản năm 1977, kể lại một số chi tiết của phiên họp mật nầy nhờ Đặng Văn Quang, vì “cơ quan tình báo CIA đã trả lương và nâng đỡ ông Quang trong bao nhiêu năm và đã bảo đảm giúp cho ông ta có một địa vị (Cố vấn về An Ninh) bên cạnh ông Thiệu” (sđd, p.495). Thì ra, bên cạnh ông Thiệu có nhiều gián điệp chiến lược cộng sản (Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng…) và cả một hệ thống điệp viên Mỹ.

Về Trung Tướng Quang, ông Lữ Giang, trong bài tựa là Trở lại trận Ban Mê Thuột đăng trên trang mạng Nguyệt San VN ngày 16/03/2015 có đoạn viết như sau: “… Tình trạng của vị Tư Lệnh Quân Đoàn 2 cũng bi thảm không kém. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị của Quân Đoàn 2 cho biết, sau khi rút khỏi Cao Nguyên và chạy về tới Nha Trang, Tướng Phú còn hỏi ông: “Anh xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?” Trung Tá Tích ngạc nhiên hỏi lại: ”“Giờ này mà Thiếu Tướng còn tìm tỉnh trưởng làm gì nữa? Tướng Phú buồn rầu trả lời: “Tháng này chưa có 2 triệu đóng cho Trung Tướng”! Nếu sự thật nhơ nhớp như vậy thì hóa ra ông điệp viên số 1 của Mỹ trong Dinh Độc Lập cũng là ông tướng tham nhũng số 1 của VNCH thì chuyện VNCH mất vào tay cộng sản là chuyện không lạ.

Theo Nguyễn Đức Phương, tham nhũng dưới chế độ Thiệu, căn cứ vào Viện Nghiên Cứu Quốc Tế Rand xảy ra dưới 4 hình thức: buôn lậu, hối lộ, mua quan bán tước và lính kiễng, lính ma. Tham nhũng là một trong những nguyên nhân xóa tên chế độ VNCH.

Triệt thoái Vùng I, Vùng Duyên hải phía Nam (Nguổn: Nguyễn Đức Phương. Chiến tranh VN toàn tập)

Triệt thoái Vùng I, Vùng Duyên hải phía Nam (Nguổn: Nguyễn Đức Phương. Chiến tranh VN toàn tập)

Trở lại với hội nghị Cam Ranh, theo Frank Snepp thì Thiếu Tướng Phú trả lời với TT Thiệu là có thể bảo vệ được cao nguyên trong vòng một tháng nếu được tăng viên quân số, vũ khí và không quân, điều mà TT Thiệu từ chối vì không còn trừ bị. Giải pháp duy nhứt là bỏ hai tỉnh Pleiku và Kontum và dùng những lực lượng nầy để tăng cường vùng duyên hải và yểm trợ cho cuộc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột. Về việc triệt thoái, Tướng Phú phân vân về hai con đường Quốc Lộ 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn và Quốc Lộ 14 đi từ Ban Mê Thuột về vùng III, vì hai con đường nầy đã bị cộng sản kiểm soát từng đoạn nên sau cùng Tướng Phú nghiêng theo phân tích của tướng Cao văn Viên là chọn đường Liên Tỉnh 7B là con đường nhỏ, bỏ hoang từ lâu để đi về Tuy Hòa. Nhưng cuộc triệt thoái là một cuộc thảm hại tàn khốc vì không kế hoạch, bị công sản rượt theo tấn công, cầu Ea Pha bắc qua sông Ba chưa hoàn tất, không quân thả bom lầm ngay vào đoàn quân đi đầu làm thiệt hại một tiểu đoàn… Hậu quả là trong số 200,000 dân di tản chỉ có 60,000 về đến Tuy Hòa, 75% lực lượng của Quân Đoàn II bị tiêu diệt chỉ trong 10 ngày. (Trần Đông Phong, sđd, tr.119). Chính cuộc triệt thoái thất bại nầy làm bại hoại quân lực và niềm tin của quân dân với chế độ, làm sụp đổ chế độ nhanh không thể ngờ.

Trong khi Văn Tiến Dũng tấn công Ban Mê Thuột thì Quân Khu I do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy tương đối còn yên ổn vì được bảo vệ kiên cố bởi 5 sư đoàn. Sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, Võ Nguyên Giáp gởi điện văn cho Quân Khu Ủy B4 (Trị-Thiên) ra lịnh đẩy mạnh tấn công để chia cắt Huế và Đà Nẳng.

Ngày 19/03, Quảng Trị rơi vào tay CS khiến Huế bị đe dọa. Ngày 20/03, lúc 13 g30 TT Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh là Quân Đoàn 1 sẽ cố thủ Huế bằng mọi giá sau khi họp với Tướng Trưởng ở Dinh Độc Lập, nhưng đến chiều cùng ngày, khi Tướng Trưởng về tới Đà Nẵng thì nhận được mật điện khẩn số 2238 của TT Thiệu gởi qua Bộ Tổng Tham Mưu ra lịnh cho Tướng Trưởng “nếu tình hình bắt buộc chỉ giữ Đà Nẵng mà thôi” và cho rút Sư đoàn Dù về Sài Gòn ngay. Tướng Trưởng đã trả lời: “Tham chiếu công điện số 2248 của Đại tướng, tôi e ngại không thi hành nổi lệnh nầy. Xin Đại Tướng tìm người thay thế tôi”. Ngày hôm sau, Tướng Viên gởi công điện cho Tướng Trưởng: “Tình hình hết sức khẩn trương, Trung tướng liệu mà làm”.

Khi mà ông Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng ra lịnh cho ông Tư Lịnh Chiến trường “liệu mà làm” thì xem như quân đội đó đã tan rã. Dân chúng nhốn nháo “chạy giặc” khắp nơi từ trên đất liền tới biển, và chỉ trong 25 ngày, từ ngày 19 tháng 3 đến 16 tháng 4, 1975, ba quân khu lần lượt lọt vào tay cộng sản mà họ không cần phải đổ nhiều xương máu, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị địch bắt, tướng Ngô Quang Trưởng và Hồ Văn Kỳ Thoại phải vất vả lắm mới thoát được chạy về Sài Gòn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh

Ngày 06/04/1975, Lê Duẩn (anh Ba) cử Văn Tiến Dũng làm Tư Lịnh Mặt Trận Sài Gòn, Phạm Hùng làm Chính Ủy, Trần Văn Trà làm Phó Tư Lịnh thứ nhứt kiêm Tham mưu trưởng, Sáu Nam tức Lê Đức Anh làm Phó Tư Lịnh và Lê Ngọc Hiền làm Tham mưu phó. Bộ tư lịnh đặt ở Lộc Ninh. Hôm sau, Lê Đức Thọ (Anh Sáu), nhân vật số 2 của chế độ, từ Hà Nội đến mặt trân để chỉ huy toàn bộ Chiến dịch 275 đổi tên ngày 14/04 thành Chiến dịch Hồ Chí Minh, mang theo văn thư của Chủ Tịch Tôn Đức Thắng gởi “Các đồng chí phải chiến thắng, nếu không thì đừng có trở về”.

Ngày 9 tháng tư, cộng sản bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cách huy động 3 sư đoàn 6,7 và 321 tấn công thị xã Xuân Lộc. Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo đã anh dũng chống trả, mặc dù CS pháo kích đến 10 ngàn đại pháo trong một ngày (theo Snepp thì 1,000, có lẽ hợp lý hơn), đã đẩy lui được quân CS, và đây là lần đầu tiên sau 3 tháng chiến thắng trên nhiều mặt trận, chiếm được 14 tỉnh, quân CS bị chận bước tiến. Tướng Trần Văn Trà, trong hồi ký Kết thúc cuộc chiến 30 năm, đã nhìn nhận là ba sư đoàn của Hoàng Cầm bị thiệt hại rất nhiều, Tướng Trà phải tăng viện quân trừ bị của sư đoàn 6 và 7 rồi tấn công Dầu Dây trên Quốc Lộ số 1.

Tối ngày 21 tháng tư, lúc 19g30, TT Thiệu nói chuyện với quốc dân qua đài truyền hình, trước các đại diện hành pháp, lập pháp, tư pháp. Ông kết tội người Mỹ đã phản bội VN, ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại: “Các ông bỏ mặc cho binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của Cộng Sản, đó là hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo…” và ông kết luận “Tôi sẵn sàng nhận lãnh sự phán xét và buộc tội của đồng bào… Tôi từ chức nhưng không đào ngũ. Theo hiến pháp, người thay thế tôi là Phó TT Trần Văn Hương”.

Nguyễn Tiến Hưng, trong “Khi Đồng minh tháo chạy” (tr.389) thì cho ông Thiệu từ chức vì các tướng lãnh không còn ủng hộ. Nguyễn Khắc Ngữ thì có nhận định tiêu cực hơn “trong bài diễn văn từ chức nầy, ông đã hiện nguyên hình một tay sai của Hoa Kỳ, bị chủ đuổi lên tiếng chửi lại bằng những lời bình dân nhất không thể thấy được trong ngôn ngữ của một vị lãnh đạo quốc gia” (Ngữ, tr. 343).

Hoàng Ngọc Thành cũng có nhận định tương tự về ông Thiệu “là người thừa hành đắc lực nhất của Hoa Kỳ trong chiến tranh VN” (Thành tr. 559) là “người hèn nhát, tại sao không chịu công bố trong năm 1974 và đầu năm 1975 các bức thư hứa hẹn trả đũa Bắc Việt của Tổng Thống Richard Nixon nếu Cộng Sản Hà Nội vi phạm hiệp định Ba lê, tại sao không công bố sớm để Quốc hội và dân chúng Hoa Kỳ biết những điều cam kết nầy để đánh vào điểm danh dự và lương tâm người Mỹ. Làm như thế có lợi cho dân tộc VN, nhưng Nguyễn Văn Thiệu sợ bất lợi cho ông nên không làm” (Thành, tr.566).

Trong khi ông Thiệu đọc diễn văn từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo rút ra khỏi Xuân Lộc, và vài giờ sau, bộ chỉ huy Quân Đoàn 3 của tướng Nguyễn Văn Toàn phải di tản về Sài Gòn. Biên Hòa và Vũng Tàu bị đe dọa nặng. Chỉ 2 giờ sau lễ bàn giao giữa ông Thiệu và ông Hương, đài phát thanh Giải phóng và Hà nội đồng loạt tuyên bố: “Đó cũng chỉ là một chế độ bù nhìn, chánh phủ Thiệu không có Thiệu” (Todd, p.316).

Trong khi đó, một biến cố quân sự quan trọng xảy ra sát nách Sài Gòn. Lê Duẩn đánh điện cho Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng đang đặt bản doanh ở Lộc Ninh yêu cầu gia tăng các cuộc tấn công càng mạnh càng mau trên khắp các mặt trận. Mọi chậm trễ có thể đưa đến những hậu quả quân sự và chính trị trầm trọng. Theo Olivier Todd thì Lê Duẩn sợ rằng nếu chiến trường kéo dài thì áp lực chính trị quốc tế có thể can thiệp để chia cắt đất đai như hồi 1954 trước hội nghị Genève. Tuân hành chỉ thị này, Văn Tiến Dũng ra lịnh cho tất cả các lực lượng từ chiến khu C, chiến khu D, Khu Tam giác Sắt ở miền Đông, và các lực lượng ở vùng đồng bằng Cửu Long và Cà Mau chuẩn bị tổng tấn công vào Sài Gòn và các tỉnh. Để phân công, bộ phận chính trị do Lê đức Thọ và Phạm Hùng đóng ở Lộc Ninh, còn tướng Trần văn Trà và Văn tiến Dũng lập bộ tham mưu mặt trận ở Bến Cát, sát nách Sài Gòn.

Ngày 25 tháng 4, lúc 20g30, ông Thiệu, Khiêm và hơn 10 người khác rời Sài Gòn. Đại sứ Martin đợi sẵn ở phi cơ để tiễn đưa. “Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu đi thủng thẳng, cố giữ phong độ. Ông quay lại cám ơn ông Martin. Với giọng xúc động, Martin đáp lễ: Thưa Tổng thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc Ngài may mắn” (Nguyễn tiến Hưng, tr. 392 và Todd tr.339). Phi cơ trực chỉ Đài Loan.

Ngày 30 tháng tư

2giờ 30 sáng, tại tòa đại sứ Mỹ còn 1,000 người Việt, 53 nhân viên dân sự và 173 thủy quân lục chiến, trong khi ở phi trường TSN còn độ 2,000 chờ hi vọng vượt thoát.

4 giờ 42: chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 9 đáp xuống nóc. Viên phi công trình lệnh của Tổng Thống: Martin phải lên phi cơ. Nếu Martin không tuân lệnh, viên phi công còn có một lệnh khác của Gayler, tư lịnh Mỹ vùng Thái Bình Dương là áp giải Martin.

7 giờ 53: chiếc trực thăng cuối cùng chở những binh sĩ cuối cùng (thực ra còn 2 xác thủy quân lục chiến ở Tân Sơn Nhứt), yểm trợ bằng 6 trực thăng võ trang Cobra rời tòa đại sứ. Họ ném hơi cay trên đầu 420 người Việt còn đứng chờ bàng hoàng, ngơ ngác. Lá cờ Mỹ đã cuốn đi mang theo nỗi thất vọng, cay đắng, oán hờn, sung sướng, của người Việt bắt đầu một trang sử mới.

8 giờ sáng, tại dinh Phủ Thủ Tướng, ông Dương Văn Minh họp cùng các nhân vật quan trọng của nội các mới như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu để trình bày tình hình quân sự và chính trị đã đến hồi tuyệt vọng, cuộc thương thuyết với chánh phủ Mặt Trận Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam và Hà Nội, qua trung gian của Pháp kể như không có trong khi thành phố Saigon đã hỗn loạn cực kỳ. “Nhiều toán quân sĩ VNCH lang thang trong thành phố, họ vứt bỏ vũ khí, quân phục. Bọn cướp bóc tràn ngập trong thành phố, súng bắn loạn xạ” (Todd, p.390).

9g30: sau phiên họp, nội các Dương Văn Minh đến dinh Độc Lập dự định theo chương trình để bàn giao với Nguyễn Văn Hảo, Phó Thủ tướng trong nội các Nguyễn Bá Cẩn, nhưng cuộc bàn giao không xảy ra mà họ chờ quân giải phóng đến.

11g30: “tiếng chân người vang dội trong đại sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô từ phía đại sảnh: Mọi người đi ra khỏi phòng… Người bước ra khỏi phòng trước tiên là tổng thống DVM… Có tiếng hô to: Mọi người giơ hai tay lên. Ông Minh, ông Mẫu và tôi cùng mọi người đi sau đều nhất loạt giơ tay… Một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: Anh hãy viết một bản tuyên bố đầu hàng. Ông Minh trả lời rằng sáng nay ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng… Ông Minh vẫn đứng yên lặng. Viên chỉ huy yêu cầu ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng… Trước khi rời dinh Độc Lập đến đài phát thanh, ông Minh nói với vị chỉ huy bộ đội: Vợ tôi vẫn ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm. Viên chỉ huy đáp: Anh hãy yên tâm… Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Saigon trên chiếc xe Jeep của bộ đội… Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát lúc 13 giờ” (Lý Quý Chung. Hồi ký không tên, tr. 407-08)

Pierre Darcourt kể lại với nhiều chi tiết sống sượng hơn:

“Đúng 12 giờ 10 phút, ba chiếc xe tăng T54 cán dẹp những hàng rào cản sơn màu trắng đỏ bao quanh dinh Độc Lập. Họ bắn chỉ thiên một tràng dài, ủi sập cánh cổng lớn, cán lên trên rồi tiến thẳng vào dinh Độc Lập, cày bừa lên các bãi cỏ trong sân. Hai chiếc xe Jeep và một chiếc xe vận tải chạy đến, qua mặt các chiến xa. Tất cả mang cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miên Nam…

Vị sĩ quan cao cấp được 4,5 lính CS hộ tống ập vô đại sảnh, nơi mà tướng Dương Văn Minh đang hội họp với các người thân cận của ông ta. Thấy vị sĩ quan đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, Tướng Minh tưởng rằng mình đứng trước một sĩ quan cao cấp nên nói:

– Thưa quan sáu (nguyên văn: mon général ong sau), tôi đã chờ ông từ sáng để trao quyền cho ông.

– Mầy (nguyên tác: tu, có thể dịch là anh, nhưng mày có lẽ đúng hơn trong hoàn cảnh nầy) dám nói là trao quyền à. Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một tên bù nhìn. Mầy chẳng có quyền nào để trao cho tao cả. Chúng tao đạt được quyền bằng khẩu súng trong tay. Tao nói cho mày rõ là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị. Và kể từ bây giờ, tao cấm mầy không được ngồi xuống. Gương mặt tướng Minh co rúm lại. Giọng nói hung bạo và khinh miệt của người sĩ quan khiến ông Minh hiểu rõ là ông đang đứng trước mặt một sĩ quan miền Bắc (nguyên tác: Tonkinois) chớ không phải là người Mặt Trận miền Nam. Tướng Minh cố giữ bình tĩnh và nhẹ nhàng nói:

– Chúng tôi đã có làm sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua.

Viên trung tá xẳng giọng

– Tụi bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ thức ăn tư sản cho tụi bây. Chúng tao sẽ cho tụi bây ăn cơm dã chiến, một nắm cơm vắt và một hộp thịt mặn.

Tất cả các tổng trưởng hiện diện đều bị khám xét và bị bắt giam trong một phòng. Dinh Độc Lập bị tràn ngập bởi phóng viên báo chí” (Darcourt, p.209).

Lúc 16 giờ 30, tướng Minh được rời khỏi phòng giam lỏng ở tầng dưới dinh Độc Lập. Một phóng viên của nhật báo Quân đội giải phóng hỏi ông:

– Ông nghĩ sao về những biến cố mà ông vừa trải qua?

Ông Minh ngập ngừng giây lát rồi trả lời với ngôn ngữ tuyên truyền mà CS thường sử dụng:

“Chúng tôi đã nhận thức được sức mạnh của Chánh phủ cách mạng lâm thời và của quân đội giải phóng. Các đơn vị thiết giáp của quân giải phóng thực hùng mạnh, quân đội Sài Gòn không thể nào đương cự được, chỉ còn có việc đầu hàng không điều kiện mà thôi…Các ông đã đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng, chúng tôi vô cùng sung sướng. Chúng tôi và gia đình chúng tôi bình yên, thật là may mắn” (Darcourt, tr. 213).

Và sau đó, các nhân vật trong nội các cuối cùng của VNCH lưu xú với những câu nói bất hủ.

– Ông Vũ Văn Mẫu thì hớn hở, nhảy nhót: “Các anh đánh hay lắm. Tôi rất sung sướng đã đuổi được người Mỹ ra đi. Bây giờ thì chúng ta với chúng ta mà thôi. Sau khi nhắc lại quê ông ở quận Thường Tín, phía Nam Hà Nội và chuyện ông cạo đầu phản đối ông Diệm, ông nói: Kể từ hôm nay thì tôi sẽ để tóc lại được rồi”

– Ông Nguyễn Văn Hảo đưa tay lên và nói lớn: “Các anh thật đáng phục vì đã đánh bại được nước Mỹ, chúng tôi hi vọng là tài nguyên của đất nước sẽ được sử dụng để xây dựng đất nước chúng ta”. (Darcourt, tr.213).

Nếu Cộng Sản Miền Bắc và Miền Nam là những kẻ thù của VNCH thì những những người làm chính trị vọng tưởng, u mê, cơ hội chủ nghĩa, tranh đấu hay núp bóng dưới nhãn hiệu hòa giải hoà hợp, thành phần thứ ba, cũng là những kẻ thù của dân tộc bởi lẽ họ đã vô tình hay cố ý đánh phá phe quốc gia, góp công cho chiến thắng của cộng sản mặc dù cộng sản vẫn xem họ là kẻ thù. Trong khi các chánh khách ba mươi và thứ ba tranh nhau nịnh bợ chánh quyền mới, trên khắp các nẻo đường đất nước, quân nhân các cấp phẩn uất, nhiều tướng tá tử tiết thay vì đầu hàng. Chỉ cần đan kể một vài anh hùng liệt sĩ: tướng Phạm Văn Phú (tự tử bằng độc dược ngày 29, chết tại nhà thương Grall ngày 30), Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng (tại quân đoàn 4 Cần Thơ), Lê Nguyên Vỹ (tại quân đoàn 3, Lai Khê), Trần văn Hai (tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho), Đại tá Đặng Sĩ Vinh (tại Sài Gòn) tự tử cả gia đình gồm vợ và 7 người con bằng súng lục. Nhưng đó chưa phải là những phát súng cuối cùng vì sau đó, nhiều quân nhân vô danh cũng tự sát để bảo toàn danh dự của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Kết luận

Hôm nay, đọc lại những tài liệu cũ về những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không giữ được nỗi bàng hoàng nhớ lại nỗi kinh hoàng của những ngày quốc biến 43 năm trước. Chẳng phải là sử gia cũng không phải là chính trị gia, đa số người Việt ngoài nước lẫn trong nước đều cảm nhận nỗi bất hạnh của quê hương mình và dân tộc mình đã từ hơn một thế kỷ qua, luôn là mảnh đất để các cường quốc ngoại bang và các tập đoàn người Việt, nhân danh những khẩu hiệu giả ân giả nghĩa, đã thay phiên nhau xâu xé, thống trị và bóc lột một dân tộc không ngớt gánh chịu điêu linh.

Bài viết không mục đích định công buộc tội bởi đó là lãnh vực của lịch sử, tuy khi từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu đã nói trước đồng bào là khi tôi ra đi, tôi xin đồng bào, chiến sĩ cán bộ, tất cả các đoàn thể nhân viên tôn giáo, hãy thứ lỗi cho tôi những lỗi lầm gì đã có với quốc dân trong suốt 10 năm qua; và khi gặp Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng ở Luân Đôn đề cập đến cuộc thua trận, ông nói: Je suis responsable mais pas coupable – Tôi chịu trách nhiệm nhưng tôi không có tội (Tâm tư TT Thiệu, tr. 61).

Tuy nhiên, nhìn qua các biến cố, đa số người bình luận có nhận định là VNCH rơi vào tay cộng sản vì 3 lý do chính yếu :

– Thứ nhứt: Muốn rút quân, Mỹ đã phản bội VNCH bằng cách nhượng bộ CSBV nhiều điều nhục nhã và giảm bớt viện trợ quá nhiều và quá nhanh. Hậu quả là VNCH không có đủ thời gian và phương tiện cần thiết để tổ chức lại một quân đội và một chiến thuật quân sự tự lập, khả dĩ chống đỡ lại sức tấn công vũ bão của đạo quân Bắc Việt hùng mạnh hơn gấp nhiều lần, nhất là lúc CS tổng tấn công Ban Mê Thuột, VNCH đã can kiệt súng đạn và nhiên liệu mà theo tướng Cao Văn Viên chỉ còn đủ sử dụng đến tháng 6/1975;

– Thứ hai: Những người cầm vận mạng quốc gia của Đệ nhị cộng hòa, một số tướng lãnh, bị xem là thiếu khả năng lãnh đạo và dũng khí, tham nhũng và phe nhóm, đã làm suy giảm nhiệt quyết của giới sĩ quan trung cấp mặc dù quân sĩ vẫn can trường trên các chiến trận;

– Và sau cùng, sự suy giảm uy tín của chánh phủ TT Thiệu đã dấy lên những cuộc biểu tình chống đối của những phần tử đối lập chân chính và thời cơ, những thành phần thứ ba thật và giả, những thành phần thân cộng và cộng sản trà trộn trong các đoàn thể sử dụng chiến lược tổng nổi dậy của cộng sản làm hậu phương rối loạn khiến cộng sản thắng nhanh hơn.

Nhưng nghĩ cho cùng, khi con người đã quá khổ đau, con người chỉ còn biết bám víu vào định mệnh. Nếu nước VN có một định mệnh thì định mệnh đã bắt VN phải gánh chịu quá nhiều bất hạnh từ 1945 đến nay mà cái bất hạnh lớn nhứt, nguy hại nhứt, là VN đã bị Hồ Chí Minh áp đặt chế độ cộng sản trên miền Bắc năm 1954, gây nên chiến tranh nồi da xáo thịt, rồi thống nhứt chế độ độc tài cộng sản trên toàn cỏi Việt Nam năm 1975.

Sau 43 năm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, đất nước càng thêm tang thương, lạc hậu nhất vùng Á Châu Thái Bình Dương, xã hội băng hoại đạo đức, bị thế giới khinh rẻ vì cấp lãnh đạo, từ trên xuống dưới đều là bọn ngu đần, tham nhũng, độc tài và lưu manh.

Hãy nhìn cuộc viếng thăm chính thức nước Pháp gần đây, từ ngày 25 đến 27 tháng 3, 2018 của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Trọng lơ láo bước xuống phi trường nội địa Orly với đám Việt kiều yêu nước và các nhân viên sứ quán VN tại Pháp, không kèn trống dàn chào, chỉ có một nữ nhân viên Sở Nghi Lễ đến bắt tay. Lần đầu tiên trong lịch sử bang giao quốc tế, nước Pháp dành cho nhân vật số 1 của VN cái “danh dự” nhục nhã nầy. Trong suốt 3 ngày, Trọng chỉ có vài buổi thăm viếng xã giao với Chủ tịch Quốc Hội, không dạ tiệc khoãn đãi (nhưng có ăn trưa với Tổng Thống Macron) không thông cáo chung. Truyền thông Pháp lặng im về cuộc thăm viếng nên đảng ta phải viết bài tự đánh bóng và trả hơn 150,000 euros để đăng nguyên trang trong phần quảng cáo của báo Le Monde. Nhục ơi là nhục.

Chưa hết, tuần lễ trước đó (17/03), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, khi tham dự Hội Nghị Asean-Australia ở Sydney ngồi ngủ gục thoải mái trong đủ các tư thế được báo chí chụp ảnh “triển lãm” khắp thế giới. Năm 2005, khi Thủ tướng Phan Văn Khải công du ở Mỹ tổ chức họp báo ở Seattle bị dân VN chất vấn không trả lời được bèn ra lịnh cho đám cận vệ “ĐM đuổi tụi nó ra ngoài” rồi chấm dứt cuộc họp báo.

Làm nhục quốc thể vì cung cách nhà quê, thất học, ăn nói lật lọng kiểu đá cá lăn dưa là sở trường của các đảng viên lớn nhỏ của bác. Vài câu phát ngôn điển hình:

image009Đỗ Mười, thợ thiến heo, khi thắng cuộc làm Tổng Bí Thư đã phun ra câu nói của bọn côn đồ du đảng (xem hình và lời nói trên), Vũ Minh Giang, giáo sư Đại học Quốc Gia Hà Nội thuộc loài súc sanh: “Đào mồ tổ tiên tôi thì được, nhưng giật đổ tượng Lê-Nin là thiếu văn hoá; Phạm Gia Yên, Chánh Thanh Tra: Dự án chục tỉ, sai phạm 1 tỉ là tốt rồi; Bùi Xuân Gương, Giám Đốc Sở Giao Thông: Kẹt xe kéo dài ở TPHCM chỉ là ùn ứ vì xe vẫn có thể nhúc nhích được”…

Một quốc gia bị cai trị bởi một tập thể vô học, vô đạo đức như vậy thì làm sao khá được? VN đang bị khai thác bởi Tàu Cộng và nhiều quốc gia tư bản. Các nhà đất của người dân bị tịch thu để xây phố thị với nợ công chồng chất mà người dân phải trả không biết bao đời mới hết, tất cả chỉ để cho 20% thị dân thụ hưởng gồm các đảng viên lớn nhỏ bu quanh bởi các đại gia thỏa hiệp với tham nhũng, trong khi 80% người dân nghèo khổ, xã hội chỗ nào cũng thấy chuyện kỳ dị không giống ai.

Nhưng chế độ độc tài nào cũng có ngày phải tàn rụi. Nào có ai ngờ Liên Sô phút chốc bị tan rả, Gaddafi cầm quyền sắt máu xứ Lybia trong 42 năm đột nhiên bị dân Lybia xuống đường giết phanh thây bỏ trên đường phố. Với VN, tuy bị đàn áp, cầm tù, nhưng những cuộc biểu tình của người dân bất mãn với chế độ, những cuộc gặp gỡ giữa các linh mục với giáo dân công khai vạch trần tội ác và sự hèn hạ của chế độ trước Trung Quốc là những đớm lửa cháy ngầm sẽ làm bùng nổ nồi thuốc súng căm hờn đốt rụi đảng cộng sản một ngày không xa.

Người Việt ngoài nước, hơn lúc nào hết, cần góp lửa vào cuộc tranh đấu của đồng bào trong nước, đưa tin vượt thoát bức tường bưng bít, tố cáo với thế giới các tội ác vi phạm nhân quyền, và điều tối quan trọng, không gởi tiền dưới mọi hình thức, không du lịch VN để kẻ thù không có ngoại tệ củng cố chế độ. Đối với những người đang hợp tác hay dự định hợp tác với chế độ, có lẽ đến lúc phải đặt lại vấn đề vì công sức bỏ ra vô bổ mà trước hay sau cũng sẽ bị dính bùn nhơ.

Để kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của Uwe Siemon-Netto, người ký giả gốc Đức đã có mặt trên khắp các chiến trường Việt Nam từ 1965 đến 1972, đã chứng kiến những cảnh tượng cộng sản tàn sát tập thể dân Huế và các giáo sư người Đức đến giảng dạy thiện nguyện cho Đại học Y khoa Huế. Ông viết: “Chiến thắng của cộng sản dựa vào những căn bản độc ác, khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên, tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm điều chỉnh lại hậu quả tàn khốc đó, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc VN, tôi tin là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xảy ra” (Duc: A Reporter’s Love for A Wounded People / bản dịch của Lý Văn Quý).

Vâng, điều đó sẽ xảy ra, chế độ cộng sản sẽ phải chấm dứt, nước Việt Nam sẽ được xây dựng lại từ đầu, trên căn bản đạo lý của dân tộc VN và triết lý của nền giáo dục VNCH: dân tộc, nhân bản, khai phóng và khoa học.

Vendredi treize 04/2018 (Quốc hận năm thứ 43)

Lâm Văn Bé
danlambaovn.blogspot.com

Thư mục tham khảo chính yếu

– Lê Duẩn. Thư vào Nam.
– Trần Văn Trà. Kết thúc cuộc chiến 30 năm.
– Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa Xuân.
– Võ Nguyên Giáp. Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng.
– Lưu Văn Lợi. Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris.
– Lý Quý Chung. Hồi ký không tên.
– Nguyễn Đức Phương. Chiến tranh Việt Nam toàn tập. -Toronto: Làng Văn, 2000
– Nguyễn Tiến Hưng. Khi Đồng minh tháo chạy. – San José: Hứa Chấn Minh, 2005.
– Nguyễn Tiến Hưng. Tâm tư Tổng Thống Thiệu. – San José: Hứa Chấn Minh, 2010 .
– Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa: 10 ngày cuối cùng. – California: Nam Việt, 2006.
– Nguyễn Khắc Ngữ. Những ngày cuối cùng của VNCH.- Montreal: Tủ sách Nghiên cứu Sử Địa, 1979.
– Darcourt, Pierre. Viêtnam, qu’as-tu fait de tes fils. -Paris : Albatros, 1975.
– Nixon, Richard. The Memoirs of Richard Nixon.- New York: Grosset and Dunlap, 1978.
– Todd, Olivier. La chute de Saigon : Cruel Avril. – Paris : Robert Laffont, 2005
– Snepp, Frank. Sauve qui peut.- Paris : Éditions Balland, 1977. (Dịch từ : Decent Interval).
– Uwe Siemon-Netto. Duc : A Reporter’s Love for A Wounded People / Bản dịch của Lý Văn Quý.Vinh quang của sự phi lý.
– Westmoreland, William C. A Soldier Reports. – Garden City: NY Doubleday, 1976.

 

 

 

 

 
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment