Phạm Bá Hoa: Thư Số 78b Gởi Người Lính QĐNDVN – 4 Bài Viết Của Cựu Đảng Viên Cộng Sản

 

Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên chuỗi tội ác mà họ đã gây ra cho Dân Tộc và Tổ Quốc từ năm 1945 đến nay! Vì vậy mà tôi vẫn tiếp nối trách nhiệm của Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, chống lại nhóm lãnh đạo Việt Cộng theo cách mà tôi có thể thực hiện được. Cũng vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.
Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

cong san7Nội dung thư này là 4 bài viết của 4 tác giả, mà tác giả là những người đang là đảng viên hoặc không còn là đảng viên đảng cộng sản mà tôi gọi là “đảng Việt Cộng” cho gắn gọn. Nội dung bài viết của các tác giả, như một lời than, một nhận định, một lời cảnh báo, về nhóm lãnh đạo Việt Cộng đã và đang đẩy đất nước cùng dân tộc Việt Nam đến sát thảm họa. Rồi một tác giả đã ra khỏi đảng, đã vào nhà tù của đảng, và đang chống đảng, với lời kêu gọi các đồng chí đồng đội của tác giả hãy đứng lên ….

Thứ nhất. Với tác giả Nguyễn Quang Lập

Nguyễn Quang Lập với bài viết ngày 7/11/2017 “Sài Gòn đã thay đổi một người Hà Nội như thế nào?”

Vào đầu như lời tâm sự.
Ngay sau ngày 30/4/1975, tôi muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “ngày trọng đại này”. Khổ nỗi là tôi đang học đại học tại Hà Nội nên ba tôi không cho đi. Sau ngày 30/4/1975, cả nhà tôi ai cũng được vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi vào Sài Gòn từ năm 1953, làm cha tôi và cả tôi, phải ghi vào lý lịch là ông “đã chết”, giờ đây là triệu phú ở Sài Gòn.
Rồi tác giả lần lượt nhận ra Sài Gòn nói riêng và Việt Nam Cộng Hòa nói chung, không phải như đảng với nhà nước và hệ thống truyền thông đã nói.
Khi vào Sài Gòn, cha tôi gặp lại Bác và quá đổi vui mừng, vì bác tôi chẳng những còn sống mà là triệu phú tại Sài Gòn. Vậy là gia đình 7 đảng viên cộng sản còn sống, đoàn tụ với Bác. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Vì trước khi về lại Hà Nội, Bác đưa cho cha tôi 20 lạng vàng. Một tài sản mà cả gia đình đảng viên cộng sản chúng tôi, không thể nào tưởng tượng được. Về Hà Nội, cha tôi trả hết nợ, và xây được ngôi nhà ngói 3 gian hai chái rất rộng. Đúng là sự đổi đời của gia đình tôi vô cùng kỳ diệu!
Còn tôi, tuy chưa vào được Sài Gòn, nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng mà thằng Minh, bạn tôi vừa mang từ Sài Gòn về Hà Nội, và ba món là: Bút bi. Mì Tôm. Máy Cassette. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó sử dụng ra làm sao. Tuyệt.
Với bút bi, chỉ cần bắm đít cây bút nghe cái tách, là đầu viết nhô ra, và viết. Viết hoài mà mực vẫn còn hoài. Tôi với mấy đứa bạn đều trố mắt há hốc mồm, vì chúng tôi không thể nào tin là Sài Gòn sản xuất được cây bút tài tình đến như thế. Tối hôm đó, thằng Minh mở gói mì tôm cho vào chén. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào chén, một mùi thơm rất lạ bốc lên, chúng tôi đều nuốt nước bọt khi nhìn thằng Minh ăn ngon làm, làm chúng tôi vừa tức vừa cãi nhau. Tức, vì nó không cho chúng tôi ăn, vừa cãi nhau vì không đứa nào tin là Sài Gòn làm sao sản xuất được món ăn tuyệt vời ấy. Có đứa còn nói, món nào mà đổ nước sôi vào là ăn được ngay mà lại thơm ngon thì chỉ dành cho các du hành gia vũ trụ, chớ người thường chẳng bao giờ được ăn món ấy cả. Rồi thằng Minh khoe cái cassette mà Ba nó cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi thật sự bị sốc, vì nghĩ là Ba nó sao mà giàu thế. Vì tôi nghĩ, cái máy cassette này là một là tài sản lớn mà chỉ những triệu phú mới có.
Thằng Minh nói: “Cái máy đó rẻ lắm. Nó chỉ ghi âm chớ không có radio, giá chỉ chục đồng thôi mà. Chợ Bến Thành Sài Gòn và dọc hai bên đường người ta bầy bán đầy cả”. Nghe đến đây, chúng tôi bắt đầu không tin thằng Minh, tôi bĩu môi nói: “Vừa phải thôi, bộ Sài Gòn là bên Tây hay sao mà vừa giỏi là vừa giàu vậy?”
Thằng Mình tủm tỉm cười, không nói gì, nó lại mở cassette, và là lần đầu tiên anh em chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn. Chúng tôi đứng chết lặng trước giọng ca của cô ca sĩ Khánh Ly nào đó trong bài Sơn Ca số 7. Kết thúc Sơn Ca số 7, thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là Tây rồi tụi bay ơi! Âm thanh “Sài Gòn như bên Tây thật rồi” cứ văng vẳng bên tai tôi, làm đêm nào tôi cũng mơ được vô Sài Gòn. Kỳ nghỉ hè tháng 8 năm 1976, tôi được vào Sài Gòn, dù Ba tôi không cho tôi đi mà phải ở nhà học thêm, nhưng Cô tôi từ Sài Gòn cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm, và tôi đến được Sài Gòn. Và Sài Gòn đây rồi.
Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của bác tôi, từ máy điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi, tới xe máy, xe ô tô, cầu thang máy, và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào là có ngay, tôi thán phục vô cùng. Thán phục chớ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của bác tôi, mà bác tôi là triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thật sự nhìn thấy Sài Gòn.
Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và đề phòng, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mẹ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ với ai. Không có ai cả. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy ngay trong lòng Hà Nội. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Vì từ bé cho đến giờ, tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo, cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý.
Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây thun bó bút bi và cho vào túi nylon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi mà phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nylon gói hàng càng không thể có. Khách hàng nào đòi hỏi dây thun buộc hàng và túi nylon đựng hàng, ngay tức khắc sẽ bị cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng là ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.
Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho ông anh cả. Cô mậu dịch hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch nhưng tôi vẫn đáp: “Dạ có ạ”. Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch ném mạnh miếng sườn heo cho tôi, làm miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi còn cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi. Tôi kể lại đây, để nhận ra cái lịch sự của bà chủ bán tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt là vậy.
Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây cũng là dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ, nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình ở Sài Gòn hoàn toàn khác với Hà Nội. Bất ngờ tôi quơ tay làm rớt ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê nên mặt mày đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.
Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, nhìn thấy sau nhà có một con hẻm bán sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum suê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác–Lê, cuốn Tư bản luận của Châu Tâm Luân, và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung, cùng nhiều sách khác.
Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác-Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú, sinh viên trong này học cả Mác–Lê mà. Tôi ngẩn ngơ cười mà không biết phải nói gì. Đó là chuyện quá nhỏ đối với người miền Nam, nhưng với tôi – người miền Bắc – thật là khác thường, nếu không muốn nói thật là lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì.
Nhưng khi quay về Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, và nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm hấp, thằng lập dị. Tôi thì rất vui, vì biết mình đã được giải phóng.

Thứ hai. Với tác giả Bùi Quang Hải

Bùi Quang Hải với bài viết ngày 7/7/2017: “Tôi dân miền Bắc xin có đôi lời với các bác miền Nam”.
Sai lầm lớn nhất của miền Bắc chúng tôi là đi giải phóng miền Nam. Bởi, sau cái ngày 30/4/1975 có quá nhiều những thay đổi ngoài dự định của chúng tôi đã xảy ra tại miền Bắc. Bởi khi đoàn quân miền Bắc kéo về Hà Nội, mang theo toàn hàng tiêu dùng của miền Nam làm dân Bắc chúng tôi sững sờ. Những chiếc đồng hồ seiko của tư bản Nhật nhìn nó long lanh thẩm mỹ hơn quá nhiều cái anh cục mịch của Nga. Những chiếc quạt Nhật, quạt Mỹ để cạnh anh quạt con cóc của Bắc Việt và anh quạt tai voi của Liên Xô, trông chẳng khác gì con công so với con cú. Những cái đài chạy băng cát sét và băng cối chỉ thấy trong mơ, giờ đây hiển hiện ngay trước mặt, để thay thế cho mấy cái đài VEC206 củ chuối của Liên Xô. Ôi! còn vô vàn các thứ khác không thể nào kể hết.
Từ đó, chúng tôi tự hỏi: “Ơ, hóa ra dân trong Nam toàn dùng những thứ này à? Hàng hóa tiêu dùng toàn đồ tốt như vậy đủ chứng tỏ xã hội trong đó phải phát triển hơn chúng tôi, và những nhà sản xuất ra thứ đó sẽ phải coi trọng con người hơn những nhà sản xuất của Liên Xô và Bắc Việt”.
Sao lạ vậy? Đảng nói người dân trong Nam đói đến không có chén ăn cơm mà?
Tiếp đó lại là nguồn sách và truyện rất phong phú được giấu kín để đưa chui ra Bắc, vì đảng chủ trương đốt sạch sách báo trong Nam. Ôi, văn hóa trong Nam sao mà phong phú và đa dạng đến thế. Rất nhân văn nhân bản, làm chúng tôi rất hoang mang, bởi làm sao mà tẩy não được người miền Nam bây giờ.
Chúng tôi qua một lớp “Học tập cải tạo” để chúng tôi tẩy não người Nam, nhưng đã thất bại thảm hại, bởi các học viên đều ngủ gật. Động não mãi chúng tôi cũng nhận ra rằng, dùng kiến thức của khỉ thì không thể giáo dục được con người . Nếu cứ để cái văn minh của miền Nam mà tràn ra Bắc thì vô cùng nguy hiểm cho chế độ của chúng tôi. Thượng sách là chúng tôi cứ giam chúng nó lâu dài, thế là các bác miền Nam hết đường về, để chúng tôi bớt đi cái lo dân trí.
Chúng tôi vẫn tăng cường nhồi sọ dân Bắc chúng tôi rằng: “Văn hóa miền Nam là đồi trụy, vô nhân tính”, trong khi chúng tôi vẫn cố gắng cóp nhặt tiền để mua những đồ tiêu dùng của miền Nam, và chỉ những cán bộ mới đủ tiền mua sắm. Dần dần nhân dân miền Bắc chúng tôi hiểu ra rằng: “Miền Bắc đang thực hiện chủ trương ngu dân và thần tượng hóa đảng cùng với các lãnh tụ”.
Trước ngày 30/4/1975, Bác Hồ mất, dân Bắc chúng tôi đứng dưới mưa bên loa công cộng khóc còn hơn bố đẻ mình chết. Bác Lê Duẩn nghẹn ngào đọc điếu văn như cảm xúc trào dâng, hóa ra sau này mới biết Bác Duẩn giả vờ khóc, vì Bác Duẩn đã hạ bệ Bác từ những năm 1960. Thế mà Bác Duẩn cũng rớm nước mắt. Đúng rồi, có lẽ Bác Duẩn đã học Bác Hồ về diễn xuất cách khóc trong vụ cải cách ruộng đất. (CCRĐ 1953-1956 tại 3.341 xã, mỗi xã phải giết người theo tỷ lệ 5% dân số của xã. Tổng số đấu tố giết chết là 172.008 người. Tịch thu 148.565 ngôi nhà và 810 mẫu ruộng, rồi đem chi cho 2.000.000 nông dân. Đến Hiến Pháp năm 1959 với quyền sở hữu tập thể, thì tất cả đất đai đều vào tay của lãnh đạo Việt Cộng. Khi kiểm điềm sai lầm trong CCRĐ thì ông Hồ khóc lóc xin lỗi đồng bào. Vậy là xong)
Những người Bắc chúng tôi khi từ Nam trở ra Hà Nội, tự dưng thành những cái loa tuyên truyền kín đáo về văn minh lịch sự của người miền Nam. Thế là đồng bào miền Bắc chúng tôi lại nối tiếp con đường của người Nam, thi nhau đu chân vịt tàu “vượt biên sang miền Nam tư bản” để được cùng giãy chết với công dân ở đó. Ôi! Vô cùng tồi tệ.
Khi kế hoạch ngu dân miền Bắc chúng tôi bị phá sản. Nhân dân nhìn lãnh đạo và Công An như nhìn kẻ thù. Ngồi quán nước thì 99% chửi chế độ quả thật không thể tồi tệ hơn. Giá mà đừng có giải phóng miền Nam, để giờ này lãnh đạo chúng tôi vẫn là những thần tượng của nhân dân, và đến đâu cũng được nhân dân vỗ tay sờ mông sờ đít, và khóc rưng rức thì hạnh phúc biết mấy?
Dẫu biết rằng, đó chỉ là sự biểu lộ của những bộ não đã bị tê liệt vì thuốc lú, nhưng như vậy chúng tôi vẫn thấy hạnh phúc dâng trào, mặc dù dân miền Bắc chúng tôi khi đó chắc chắn vẫn đang ăn bo bo. Thật sai lầm khi giải phóng miền Nam!

Thứ ba. Với tác giả Lê Minh Đức

Bài viết “Gửi các đảng viên đảng cộng sản Việt Nam để nhìn lại chính mình” của tác giả Lê Minh Đức. Từng là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, mà bản chất của đảng là dối trá, nhưng tác giả đã nhìn thẳng vào sự việc và đi thẳng vào nội dung một cách mạnh mẽ:
“Này nhé. Ta chiến đấu vì lý tưởng cộng sản, coi Mỹ là kẻ thù giai cấp, kẻ thù của hoà bình thế giới. Ta thắng nó với lòng tin rằng, chẳng bao lâu sau thằng tư bản sẽ quỳ gối trước mặt phe cộng sản để cầu xin ân huệ. Thế mà tất cả những gì ta hy sinh cho cuộc chiến 20 máu lửa đó, trong phút chốc bỗng biến thành trò cười rẻ tiền. Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tan tành như mây khói. Nay ta quay lại cầu xin nó, theo đuôi nó xây dựng chủ nghĩa tư bản, năn nỉ nó công nhận ta là kinh tế thị trường”.
“Bao thế hệ hy sinh chống Mỹ, để rồi nhìn thấy những thế hệ sau chiến tranh lớn lên hướng về văn hoá Mỹ, cuồng Mỹ. Hoá ra những gì ta làm trong quá khứ đều sai, đều ngu muội, chỉ vì ta có tầm nhìn không quá lũy tre làng. Hỏi như thế có nhục không? Mà nhục như thế thì quên thế nào được. Nay ta trải thảm đỏ mời Mỹ quay lại. Cái mặt dày đểu cáng của ta biết giấu vào đâu? Đành phải lôi lại chuyện quá khứ rằng Mỹ giết dân ta. Thì sao, nó không giết ta để ta giết nó hay sao? Cuộc chiến tranh này do ta chủ trương, có thằng nào trong chúng ta không phải là Việt Cộng trong mắt người Mỹ. Ta sống trong dân, ta giấu vũ khí trong vườn nhà dân. Dân và ta đều quần đùi đen, áo bà ba đen, tay cầm liềm cắt cỏ mà AK 47 giấu trong bờ ruộng. Ta đánh úp nó chết nhăn răng, vì nó tưởng du kích ta là dân lành”.
“Trong khi đó ta giết chính đồng bào ta, ta trói đồng bào ta như trói gà, rồi ta chặt đồng bào ta làm ba khúc sau vườn. Ta dùng cuốc đập đồng bào ta vỡ sọ. Ta chôn sống đồng bào ta sau khi bắt chính họ đào huyệt… Ta tuyệt đối không nhắc lại chuyện đó. Ta tuyệt đối tìm cách quên rằng thằng đàn anh Trung Quốc đã giết đồng bào ta còn tệ hơn giết chó, máu chảy thành sông ở biên giới phía Bắc. Vậy mà ta vẫn tiếp tục thờ lạy nó”.
“Vậy, ta là ai? Ta là cộng sản Việt Nam, là Việt Cộng. Là thứ cặn bã của dân tộc này. Ta là thứ mọi rợ, thứ đạo đức giả. Ta là loài khỉ đột, đã xua đuổi được mọi nền văn minh để tiếp tục tự sướng với nhau trong bóng tối của thời trung cổ. Và còn nữa? Hãy chờ xem ta sẽ nghiến nát kẻ thù là nhân dân, như đàn anh Trung Quốc của chúng ta dùng xe tăng xay thịt nhân dân chúng nó thành thức ăn cho súc vật trên quảng trường Thiên An Môn”.
“Ta là quái thai thời đại. Ta không xứng đáng đứng ngang hàng với loài người văn minh trên trái đất này. Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình”.
“Xin hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, mọi tờ báo, nói chung là mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta”.

Thứ tư. Với tác giả Châu Hiền Lý

Châu Hiền Lý là người lính Việt Cộng tập kết ra Bắc năm 1954, sau ngày lãnh đạo Việt Cộng nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam từ ngày 30/4/1975, người Việt Cộng này trở về miền Nam và nêu 5 câu hỏi, tuy không nói là nêu với ai, nhưng tôi nghĩ, ngoài lãnh đạo Việt Cộng thì còn ai vào đây. Và đây là 5 câu hỏi:
Một. Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1.000.000 người miền Bắc phải bỏ nhà cửa di cư vào miền Nam? Ngược lại, không một công dân nào của Miền Nam chạy ra Bắc?
Hai. Sau ngày 30/4/1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp?
Ba. Tại sao sau khi được giải phóng khỏi gông cùm Mỹ Ngụy, mà hằng triệu người phải vượt biên vượt biển tìm tự do trong cái chết gần kề trên biển cả mênh mông?
Bốn. Tại sao thành viên trong các phái đoàn cộng sản đi công tác ngoại quốc thường hay trốn lại ở các nước tư bản và xin tị nạn chính trị? Và họ tị nạn cái gì?
Năm. Tại sao Liên Xô và các nước cộng sản Ðông Âu sụp đổ?

Trong khi Các Anh suy nghĩ về 5 câu hỏi từ một đồng chí của Các Anh, tôi nêu thêm 4 câu hỏi với lãnh đạo Việt Cộng để Các Anh biết thêm về lãnh đạo của Các Anh:
(1) Tại sao các cấp lãnh đạo Việt Cộng đều đưa con sang Mỹ du học, và mua nhà tại Mỹ rất nhiều, trong khi luôn miệng nói “Đế quốc Mỹ đang giãy chết tại dinh lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản?” Câu đó tôi trích trong “bài học số 1” tại trại “cải tạo” Long Giao tỉnh Long Khánh hồi tháng 9/1975. Còn đây là thống kê mới nhất của Hệ thống Thông Tin về sinh viên và khách mời trao đổi (SEVIS) đến tháng 3/2016, Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia có số lượng du học sinh cao nhất tại Mỹ, với 29.101 sinh viên. Và thống kê của Hiệp Hội Chuyên Viên Địa Ốc Hoa Kỳ công bố ngày 18/7/2017, cho thấy Việt Nam lại có tên trong danh sách 10 quốc gia mua nhà nhiều nhất tại Hoa Kỳ. Hiệp Hội này cho đài BBC biết rằng: “Từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2017, công dân Việt Nam mua nhà tại Mỹ với tổng trị giá lên đến 3 tỷ 0 trăm 60 triệu mỹ kim (3.060.000.000)”.
(2) Tại sao không hòa giải hòa hợp với dân oan và xã hội dân sự trong nước, mà cứ kêu gào Cộng Đồng chúng tôi tị nạn Việt Cộng quay lại hòa giải và hòa hợp với Việt Cộng hoài vậy? Nếu lãnh đạo Việt Cộng làm ngược lại những gì đã gây ra cho người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ từ ngày 30/4/1975 về sau, lúc ấy hãy nói đến hòa giải và hòa hợp. Đó là: “Bồi thường thiệt hại cho hằng chục ngàn thương phế binh bị quăng ra khỏi các quân y viện, và Bộ Chính Trị phải chánh thức xin lỗi. Bồi thường thiệt hại cho hơn nửa triệu Quân Nhân + Viên Chức + Cán Bộ + Đồng Bào suốt thời giam giữ đọa đày trong hơn 200 “trại cải tạo”, và kèm theo lời xin lỗi. Hoàn trả cho chủ nhân tất cả tài sản – nói chung – đã tịch thu của công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ, và bồi thường thiệt hại trên những tài sản đó, đồng thời nói lời xin lỗi chánh thức. Với Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 chiến sĩ Quân Lực VIệt Nam Cộng Hòa chúng tôi đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc. Đã bị lãnh đạo Việt Cộng cho đào xới mồ mả để vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng. Bây giờ phải hoàn chỉnh lại toàn bộ cấu trúc và mồ mả nguyên trạng như trước ngày 30/4/1975, kể cả tượng Thương Tiếc. Làm xong, lãnh đạo Việt Cộng tổ chức buổi lễ tạ tội vong linh 16.000 Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì Tổ Quốc Dân Tộc trong chiến tranh giữ nước.
Cứ ra rả gọi Cộng Đồng Chúng Tôi Tị Nạn Việt Cộng là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn ăn bơ thừa sữa cặn, bọn đỉ điếm lưu manh rác rưởi của xã hội, ..v..v… Lãnh đạo Việt Cộng sỉ vã nhục mạ chúng tôi, rồi muốn chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Còn nếu không làm được, thì lãnh đạo Việt Cộng đừng bao giờ mở miệng kêu gào chúng tôi hòa giải hòa hợp nữa nhé.
(3) Tại sao lãnh đạo Việt Cộng mua vũ khí tối tân đắt tiền hoài mà không thấy xuất quân bắn mấy chiếc tàu Trung Cộng tấn công tàu của ngư dân trên biển? Chẳng lẽ mua vũ khí chỉ để được hưởng hoa hồng? Ngày 27/7/2017, theo bản tin từ đài VOA thì Shephard Media trích dẫn nguồn tin quốc phòng Hoa Kỳ, theo đó thì: “Trong hội nghị gần đây tại Hà Nội, giới chức quốc phòng Việt Cộng nói với phái đoàn Hoa Kỳ rằng, các thương vụ mua bán vũ khí phải được Hoa Kỳ “lại quả” 25% (cho Việt Cộng) trên tổng trị giá của những hợp đồng gộp lại”. Vẫn tin từ Shephard Media, sau lời phát biểu của Việt Cộng thì Hoa Kỳ ngưng ngay buổi họp. Tin tức này do viên chức quốc phòng Hoa Kỳ cho Shephard Media biết, trong khi dự hội nghị và triển lãm phòng thủ hàng hải IMDEX được tổ chức tại Singapore hồi tháng 5/2017. Đài VOA nói thêm là không liên lạc được với viên chức Quốc Phòng Hoa Kỳ để kiểm chứng nguồn tin này.
(4) Tại sao hô hào chống tham nhũng trong khi bộ Chính Trị lại ra Chỉ Thị 15 hạn chế chống tham nhũng? Tháng 3/2015, trong hội nghị phòng và chống tham nhũng, Tướng Phan Anh Minh, Phó Giám Đốc Công An Hồ Chí Minh nói rằng: “Trong thực tế, Hồ Chí Minh là một trong những thành phố bị chỉ trích là tham nhũng nhiều nhất, nhưng phát hiện tham nhũng lại kém nhất. Lý do là Chỉ thị 15 của Bộ Chính Trị ngày 7/7/2007, đã góp phần đắc lực để những đảng viên tham nhũng nấp sau Chỉ Thị này mà thoát tội…”

Thứ năm. Với tác giả Đào Văn Nghệ

Bài viết ngày 23/10/2010 với “Lời Kêu Gọi” của cựu Đại Tá quân đội nhân dân Đào Văn Nghệ. Ông bắt đầu với lời than não nuột: “Đất nước lâm nguy! Giang sơn rơi lệ! Dân chúng lầm than!” Rồi ông mạnh mẽ kêu gọi:
“Hỡi toàn dân Việt Nam ở mọi miền đất nước! Hỡi Quân Đội và Công An Việt Nam, hãy bảo vệ cho người dân Việt Nam, như những chiến sĩ Quân Đội và Công An Nga Sô, Ba Lan, Đông Âu trước kia. Họ đã sớm thức tỉnh, nắm lấy thời cơ, cầm súng đứng về phía Nhân Dân, để ngày nay chính họ, gia đình vợ con họ được dân chủ, ấm no. Họ không còn phải sống trong lo sợ và đói khổ dưới chế độ cộng sản cũ đầy dối trá và tội lỗi. Chế độ đã bao năm khống chế họ bằng luật rừng, bằng họng súng với nhà tù, cưỡi lên đầu lên cổ nhân dân họ. Bởi vậy, đây là thời điểm nhân dân và đất nước đang cần những anh hùng đứng lên giúp dân làm nên một trang sử, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên dân chủ, ấm no không còn cộng sản độc tài”.
“Quân Đội Nhân Dân còn chờ gì nữa? Khẩn cấp tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ cộng sản Hà Nội, kiến lập quốc gia Cộng Hòa Việt Nam…. Tiến hành tổng tuyển cử toàn quốc, để nhân dân được thật sự tự do, ứng cử, bầu cử, tìm những người tài đức lãnh đạo đất nước và có nhiệm kỳ. Thay đổi Hiến Pháp phù hợp với Hiến Pháp chung quốc tế, để bảo vệ quyền con người cho toàn dân. Việt Nam ơi! Thời thế tạo anh hùng. Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ sinh ra những anh hùng”.

Kết luận

Tôi trích đoạn văn của cố Trung Tướng Việt Cộng Trần Độ của Các Anh, lúc đượng thời đã mạnh mẽ nhận định rằng: “Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là “những lưu manh tư tưởng”. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ gì. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc, và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm”.
Và đoạn văn mạnh mẽ của Hội Thanh Niên Dân Chủ trong nước cảnh báo thảm họa Biên Bản Thành Đô ngày 4/9/1990 đã và đang biến thành sự thật ngay trước mắt mọi người, từ lấn chiếm biển đảo đến đất liền Việt Nam, từ sử dụng đồng tiền của Trung Cộng tại các tỉnh biên giới Việt – Trung và khu du lịch Hạ Long, đến thẻ căn cước công dân 12 số theo Tàu, và từ năm học 2019-2020 là học sinh lớp 1 bắt đầu học một loại tiếng Tàu do Trung Cộng soạn sẳn dành quốc gia Việt Nam tự trị từ 5/7/2010 trực thuộc Tổng Đốc Quảng Châu, năm 2020-2021 thì lớp 6 bắt đầu học, và năm học 2021-2022 là lớp 9 bắt đầu học
Hội Thanh Niên Dân Chủ dựa theo tài liệu trên internet và kinh nghiệm đau thương của người dân Tây Tạng từ khi đất nước này vào tay Trung Cộng đến nay, và suy nghĩ cho số phận người dân Việt Nam nói chung, Các Anh và gia đình Các Anh nói riêng, trong tương lai thật gần trước mắt.
Hội Thanh Niên Dân Chủ viết rằng: “Nếu người dân trong nước tiếp tục thờ ơ thì năm 2020 Tàu Cộng sẽ tràn sang thôn tính Việt Nam theo mật ước của hai đảng cộng sản. Số phận của người trong nước sẽ ra sao? (1). Công an và bộ đội, là hai thành phần mà Tàu Cộng cần phải tiêu diệt trước tiên. Công an và bộ đội Tàu sẽ sang thay thế. (2). Đảng cộng sản Việt Nam, là thành phần sẽ bị tiêu diệt đợt 2, sau khi công an và bộ đội đã bị tiêu diệt. (3). Trí thức Việt Nam, là thành phần sẽ bị tiêu diệt đợt 3 để tiêu diệt nhân tài Việt Nam. (4). Phụ nữ Việt Nam, sẽ cung cấp tình dục cho lũ đàn ông Tàu đang thiếu đàn bà, và sinh nhiều con lai Hán tộc. (5). Đàn ông, thanh niên, và trẻ em Việt Nam, phần lớn sẽ bị cưỡng bức đến các khu kinh tế nghèo khổ, lạc hậu, làm việc như nô lệ. Một số chống đối sẽ bị mỗ lấy nội tạng bán cho nước ngoài”.

Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại – đặc biệt là Những Người Lính Chúng Tôi – vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào làm nên lịch sử.
Hãy nhớ, “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Muốn được sống trong Tự Do Dân Chủ, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do Dân Chủ không phải là quà tặng”./.

Texas, tháng 4 năm 2018
Phạm Bá Hoa

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment