Nguyễn Ngọc Danh: Chiều Cao Nguyên Mùa Giáng Sinh

 

Xin gởi tặng Quý Thầy, quý Huynh đệ, quý ân nhân CT/QGS – 2012
Đặc biệt xin gởi tặng anh chị Daklak- Dakba

gs7Chiều Cao Nguyên vào tháng Mười Hai lạnh cóng chân tay, những cơn gió Bấc thổi về len lỏi qua những rặng núi xanh nhạt, mờ mịt trong sương càng làm cho không khí mùa Giáng Sinh thêm giá buốt. Cái buốt lạnh từ các lóng tay ngấm qua từng khớp xương, đi dần vào xương sống. Khuôn mặt chị Cúc càng lúc càng trở nên tái nhạt.

Từ sáng sớm mờ sương vùng Kontum, chị lầm lủi đi trong không gian tĩnh mịch của thành phố núi rừng. Những làn gió Lào thổi nhè nhẹ không đủ lay động hàng dã quỳ ướt đẫm sương đêm dọc hai bên đường, nhưng đủ sức làm cho tấm thân gầy còm trong chiếc áo kaki màu cứt ngựa rộng hơi quá khổ phải run lên từng chập. Chị Cúc thỉnh thoảng dừng lại nghỉ để lấy hơi chuẩn bị lên con dốc cuối cùng dẫn vào thành phố. Đôi giầy bata sờn cũ bị lũng lỗ bên dưới ngón cái nhiều lúc dẫm phải hòn đá làm chị đau buốt tới cột sống. Chị lẩm bẩm “Lạy Chúa sao Ngài bắt con cơ cực quá như thế này. Sức con đàn bà yếu đuối làm sao con có thể tiếp nối con đường còn lại. Con xin Chúa, xin Mẹ Maria phù hộ cho con hôm nay gặp may mắn bán hết những tập vé số”. Chị vừa đi vừa cầu nguyện, hai chân chị nhịp bước trong tê cóng. Bất giác vài giọt sương sớm bay đọng trên đôi gò má nhô cao vì thiếu dinh dưỡng. Chị rùng mình vì lạnh.
Chị bước vào phòng phân phối vé số cho những người nhận đi bán dạo. Tới phiên chị, người thanh niên hỏi với giọng nhát gừng, sắc lạnh:
– Hôm nay chị lãnh bao nhiêu vé số?
– Thưa chú cho tôi mười tập.
– Mọi hôm chị nhận có sáu tập, sao hôm nay chị nhận tới mười tập. Chị chắc có bán hết không?
– Đây là thời gian cuối năm, hy vọng có thêm nhiều người mua và cũng mua nhiều để cầu may. Chị Cúc trả lời.
Nhận xong mười tập vé số, chị Cúc bước ra khỏi phòng. Trời đã 6:30 sáng. Chị đi bán dọc theo vỉa hè khắp thành phố. Chị thường tới các quán hàng ăn, café mời từng người. Mỗi lần tới các tiệm ăn mùi thơm chiên xào, bánh xèo, phở bay ra nhập vào khứu giác, đánh thức cơn đói của chị. Miệng chị chảy nước miếng. Nhiều lúc chị phải nhắm mắt, quay ra phía khác nuốt nhẹ cho dòng nước miếng trôi xuống. Tới khoảng 2 giờ 45 trưa, hai chân muốn bước không nổi. Chị nguyện thầm: “Lạy Chúa, Lạy Mẹ Maria xin cứu con. Hôm nay sao con mệt quá. Nếu con có bề gì thì tội nghiệp cho hai đứa con của con.” Tình mẫu tử dâng trào mỗi chị khi nghĩ tới hai đứa con chỉ còn da bọc xương, suốt ngày quần quật với vữa hồ, gạch đá. Chị ngôi xuống bên vỉa hè lấy chiếc mũ tai bèo phủ trùm phần trước mặt, đầu gục xuống hai đầu gối. Chị lại lẫm bẫm: “Chúa ơi sao người ta ăn không hết, nhà cửa cao sang, thân thể được bao bọc bởi những chiếc áo êm ấm, còn thân phận khốn khổ này của con không đủ tiền cho môt bữa ăn tối, con cái con không đủ áo để che lạnh.”

Chị lấy bàn tay trái thấm vội giòng nước mắt, đứng lên đi lại quán bún quen thuộc. Vì không phải là giờ cao điểm, nên quán vắng. Chỉ có một người đàn ông trung niên đang ngồi im lặng từ lúc nào bên tô bún vơi đi một nửa, và chai nước ngọt. Ngay khi đó chị Cúc bước vào với giọng nhỏ nhẹ :
– Cô Bảy! cho tôi tô bún như mọi hôm nghen!
– Trời! Chị Cúc! Sao, bán được bao nhiêu vé số rồi? Hôm nay em có nồi bún cá anh vũ sông Dăkbla ngon lắm. Cá bắt tuốt trên thượng nguồn, ngon và ngọt lắm. Chị ăn không? Chị là khách quen, em chỉ tính hơn tô bún thường một chút thôi.
– Cô Bảy, tôi không đủ tiền đâu. Cô vui lòng cho tôi tô bún thường thôi. Ăn thứ mắc mỏ như vậy chiều về mẹ con lại mất đi một phần ăn.
Kể từ khi chị Cúc bước vào quán, người đàn ông trung niên thấy có gì hơi khác lạ ở người đàn bà dong dỏng cao, tiếng nói thanh nhẹ trong bộ quần áo lam lũ. Ông lặng lẽ quan sát lắng nghe cuộc đối thoại giữa cô chủ quán và bà khách.
– Bún của chị đây. Chị cần thêm rau không? Quán hôm nay hơi vắng khách chị ạ!
Chị Cúc kéo tô bún vào gần thêm. Bỏ vào chút ớt, vài lá rau thơm. Chị từ tốn múc từng muỗng đưa lên miệng. Cử chỉ khoan thai nhẹ nhàng của chị làm cho người đàn ông thêm tò mò. Ông tự hỏi “Tại sao một người đàn bà ăn mặc lam lũ như vậy lại có những cử chỉ một người nếu không phải quý phái thì cũng thuộc hàng trung lưu?”. Vừa khi đó chị Cúc ngừng tay, trực giác của người đàn bà cho chị biết hình như có ai đang nhìn mình. Chị liếc qua người đàn ông trung niên thì ông ta cũng vừa quay qua chỗ khác. Từ đó chị bắt đầu để ý tới người đàn ông trung niên ngồi xế bên kia.

Uống xong chai nước, người đàn ông đứng lên đi lại trả tiền, ông và cô chủ trao đổi nhau chuyện gì đó cố gắng không cho ai nghe. Cô chủ quán gật gật đầu cười. Người đàn ông ra khỏi quán, qua bên kia đường nói chuyện với hai người xe ôm rồi bỏ đi. Tất cả mọi viêc đều được thu vào cặp mắt quan sát kín đáo của chị.
Ăn tô bún xong, chị lại quầy lấy tiền ra trả, cô chủ quán hỏi :
– Chị Cúc! Chị có quen người đàn ông hồi nãy không? Ông ấy trả tiền cho chị rồi?
– Trời đất! chị có quen ông ta hồi nào đâu! Sao lại kỳ lạ vậy.
Cô chủ quán cười ý nhị nói với chị Cúc.
– Ở đời này cũng còn nhiều người tử tế chị ạ! Theo tôi nhận xét, hình như ông ta từ miền dưới lên đây. Nhìn nước da ngăm ngăm đen tôi đoán ông ta người miền biển. Biết đâu ông ta mê chị thì sao.

Chị Cúc không trả lời, đứng lặng với khuôn mặt ưu tư. Bao nhiêu dấu hỏi chạy qua tâm trí chị. Chị lắc đầu vài cái như cố xua đuổi bao ý nghĩ, tay phải cầm chiếc mũ tai bèo đập nhè nhẹ mấy cái vào đùi rồi đội lên đầu. Ra khỏi quán, chị đi thẳng về phía phải rồi quẹo trái. Bóng chị xa dần, xa dần rồi nhạt nhòa trong thành phố miền Cao Nguyên.
5 giờ 34 chiều chị Cúc vừa bán xong tập vé số cuối cùng. Chị đi thẳng tới văn phòng Vé số, thanh toán tiền xong. Chị đi tới hàng chạp phô phía bên kia đường mua vài lon gạo, vài củ khoai và hai con cá khô. Chị ra khỏi cửa hàng, đi nhanh về phía cuối phố. Bóng chị khuất dần sau đám hoa dã quỳ vàng óng tỏa mùi hương hăng hắc. Mùi hương hoang dã đặc thù của miền Cao Nguyên dãy Trường Sơn.

Nắng chiều trãi xuống phố núi thật nhẹ. Sương lam lãng đãng phủ đầy những ngọn đồi, những ngọn núi nhấp nhô xa mờ theo chiều Nam Bắc-Tây Nam. Cái lạnh xế chiều nhạt nắng của tháng mùa Đông, cái không gian mờ ảo của núi rừng trùng điệp Cao Nguyên đẹp và buồn như bức tranh thủy mặc. Nhưng sau khi mặt trời lặn nửa tiếng, chúng sẽ tràn vào phố, đem cái giá lạnh núi ngàn vào tận hang cùng ngõ hẽm, len lỏi vào những căn nhà tường vách liêu xiêu, mục rữa. Lúc đó nó không còn đẹp như cô gái miền cao nữa. Nó không còn cái lãng mạn của buồi chiều miền sơn cước Cao Nguyên trong thi ca. Nó sẽ là mụ phù thủy hành hạ thân thể những mảnh đời thiếu may mắn suốt đêm dài.
Chiếc xe ôm chạy đều đều qua từng khu phố, qua khỏi Nhà Thờ Gỗ khoảng nửa cây số, rẽ vào khu dân cư nghèo nàn trong ngõ xóm chật hẹp. Đường xá lổn chổm những ổ gà. Cuối cùng xe dừng lại trước căn nhà mái tôn ọp ẹp, bên ngoài là một hàng rào bằng mấy cây rừng mong manh lấy lệ. Người đàn ông trung niên hỏi lại anh tài xế xe ôm lần nữa:
– Anh có chắc đây là nhà chị Cúc không?
– Phải mà, thằng Bửu thợ hồ con chị Cúc là bạn của tôi từ hồi nhỏ. Bây giờ chúng tôi vẫn là bạn. Nó tội lắm chú ơi!
Ông xuống xe nói với anh xe ôm đợi ông rồi đi thẳng lại hàng rào định mở cửa. Bỗng một cô gái độ 18 tuổi từ trong nhà bước ra. Nhìn thấy người đàn ông xa lạ, cô hơi chột dạ, lùi vào trong, giọng hơi hốt hoảng nói với mẹ.
– Mẹ ơi có ông nào lạ hoắc tới nhà mình, ổng đang đứng ngoài cửa. Có chuyện gì không mẹ?
Chị Cúc từ trong bếp hớt hãi bước ra. Chị giật mình vì người đứng trước nhà chị là người đàn ông đã trả tiền tô bún cho chị hồi trưa. Chị muốn cứng người, lớ nga lớ ngớ, chân tay luống cuống không biết nói thế nào. Thâm tâm chị luôn đặt câu hỏi: Ông ta là ai? Tại sao hồi trưa ổng lại trả tiền bún cho mình? Đến đây làm gì? Tại sao ổng lại biết mình ở đây? Mình có làm điều gì sai trái không? Giữa xã hội này chỉ một sợi tóc cũng thành trọng tội. Nghĩ tới đó chị rùng mình. Một cảm giác hồi hộp sợ sệt làm tim chị muốn thắt lại.
Trong khi đó người đàn ông tiếp tục bước tới. Khi còn cách chị Cúc khoảng hai bước, Ông dừng lại, đứng thẳng, hai tay khoanh lại trước ngực, cung cách lịch lãm trang nhã. Ông hơi nghiêng đầu về phía trước tỏ ra thân thiện rồi nhỏ nhẹ:
– Thưa chị! Chị có phải là chị Cúc, vợ anh Hoàng Tấn Lộc không?
– Thưa ông đúng! Ông tới nhà tôi có chuyện gì? Mẹ con tôi côi cút, tuy nghèo nhưng không khi nào làm những điều sai trái lương tâm đâu!
Vẫn với giọng nhỏ nhẹ, tỏ ra tình thân thiện. Tiếng nói của ông có sức thuyết phục chị Cúc trở lại bình tĩnh:
– Chị Cúc! Em đến đây không phải vì chuyện như chị nghĩ đâu. Em đâu ngờ hồi trưa người ngồi bên cạnh em lại là chị. Em có một linh cảm. Nếu biết là chị, em đã theo chị về nhà từ hồi đó. Sau khi rời khỏi quán ăn, em tới gặp anh xe ôm hỏi thăm, đưa địa chỉ và tên của chị. Rất may anh xe ôm biết rõ xóm chị ở và tên của chị nữa. Anh ta nói anh ở xóm trên và là bạn của cháu Bửu từ hồi nhỏ. Anh khuyên không nên tới nhà chị lúc đó vì chẳng có ai ở nhà. Anh ta hẹn em 5:54 giờ chiều đến đó anh sẽ đưa em lại nhà chị. Chị Cúc! em tên Tâm học dưới anh Hoàng Tấn Lộc hai lớp khi còn là đệ tử Dòng Thánh Giuse Nha Trang. Chị nên gọi em bằng chú thì đúng hơn, đừng gọi là ông nữa, người nhà cả mà.
– Lạy Chúa tôi, tại sao chú có địa chỉ và biết tôi ở đây. Nhà chị nghèo lắm. Trước kia ba chị và ba anh Lộc là sĩ quan, anh Lộc là công chức, chị đi dậy tại Nha Trang. Cuộc sống không dư giả, nhưng còn đủ ăn đủ mặc. Sau năm 1975, hai ông bị đi tù, người chết, người mất tích. Vì anh chị là con sĩ quan ngụy quân, ngụy quyền nên họ đuổi không cho dạy học nữa. Anh Lộc cũng mất việc. Họ bắt gia đình chị đi vùng kinh tế mới trên vùng Cao Nguyên giá lạnh này. Anh Lộc thất chí, đau buồn, bệnh tật liên miên rồi mất. Cơ cực quá chị trốn khỏi vùng kinh tế mới về đây sống lây lất trong cái thành phố này. Bây giờ thì Chú thấy đó, tồi tàn nghèo khổ lắm. Còn chuyện hồi trưa làm chị nhớ mãi. Chị cứ tự hỏi: “Sao ở trên đời này lại còn có người tử tế với mình như vậy?”
– Chị Cúc! Hồi trưa tuy chưa quen biết chị, nhưng nhìn chị em nhận thấy từ con người, lời nói, cử chỉ toát ra cái gì đó làm cho người đối diện phải suy nghĩ. Em có một linh tính về chị, và khi nghe cuộc đối thoại giữa chị với cô chủ quán, em càng thương chị hơn. Nhưng lúc đó em chỉ biết làm một chút xíu như vậy thôi. Không gian và thời gian không cho phép em làm gì hơn. Chiều nay em đến đây không phải vì chuyện cá nhân em, nhưng do các anh em CTS/GSNL Quốc Nội và Hải Ngoại nhờ em đến trao Quà Giáng Sinh cho Chị và hai cháu.
Nói tới đây Tâm rút từ trong túi ra chiếc phong bì ..
– Chị Cúc đây là quà Giáng Sinh của ACE/CTS/GSNL Quốc Nội và Hải Ngoại gởi biếu chị và hai cháu…. Chị nhận lấy.
Chị Cúc hai tay run run nhận chiếc phong bì. Bờ vai gầy yếu trong chiếc áo lạnh cũ, hơi quá khổ rung lên nhè nhẹ, đầu chị cúi xuống, rồi từ từ đưa hai bàn tay lên ôm lấy khuôn mặt gầy khô. Tiếng nấc phát ra từ cõi lòng xúc động. Chị cố đè nén nhưng chúng vẫn thóat ra khỏi hai bàn tay bay vào không gian lạnh lẽo buồn hiu hắt của khu xóm nghèo miền Cao Nguyên. Tâm cũng không cầm được xúc động. Hai chị em đứng trong thinh lặng. Cái thinh lặng bao trùm căn nhà tôn lệ xệp. Cái thinh lặng sâu lắng nghe rõ từng âm thanh mỏng nhẹ đến mơ hồ của loài dế đâu đó vọng về. Nhưng lại là những đợt sóng ngầm làm chao đảo cõi lòng của hai chị em trong tình huynh đệ Cựu Tu Sinh. Chị Cúc lau nước mắt, ngước nhìn Tâm nói trong cơn xúc động còn hiện rõ trên khuôn mặt và trong cử chỉ của đôi tay đan vào nhau với chiếc phong bì Tâm mới trao.
– Chú Tâm, sáng nay chị đi từ nhà ra phố, vì quá nghèo và tủi thân, chị than thầm với Chúa; “Lạy Chúa sao con khổ cực đến thế này. Xin Chúa thương con”. Thì chiều nay chú đem quà Giáng sinh của quý Thầy, quý anh chị, quý ân nhân đến cho mẹ con chị. Nó là nguồn an ủi, như môt chiếc phao cho các cháu đang bị trôi lăn giữa dòng xoáy cuộc đời. Chị không ngờ quý Thầy và Anh Em /CTS vẫn còn nghĩ và thương tới thân phận hẫm hiu, côi cút nghèo hèn của mẹ con chị. Xin chú về thưa với quý Thầy, quý anh chị, quý ân nhân. Mẹ con chị sẽ một đời nhớ ơn.
– Chị Cúc! Trình thưa lại với quý Thầy, quý ACE và ân nhân là bổn phận của em.. Em hứa với chị, em sẽ trình thuật lại đầy đủ chi tiết câu chuyện hôm nay. Và đây là món quà của riêng em gởi tặng chị và hai cháu. Chị nhận lấy, chị đừng e ngại chi cả. Dù sao Chúa còn cho em có hoàn cảnh khá hơn chị một chút. Em sẽ không bao giờ quên được kỷ niệm này. Em sẽ nhớ tới anh Lộc, Chị và hai cháu trong Thánh Lễ Nửa Đêm mừng Chúa Giáng sinh năm nay. Quý Cha, quý Thầy, quý ACE/CTS/GSNL khi nghe về hoàn cảnh của chị sẽ cầu nguyện nhiều cho chị và hai cháu. Xin Chúa phù trợ cho chị và hai cháu. Chúa sẽ gìn giữ chị và hai cháu trong vòng tay yêu thương của Ngài, dù chị ở vào bất cứ hoàn cảnh nào của xã hội. Đói nghèo không là cái tội, nhưng Chúa muốn dùng nó như một sứ mạng để trắc nghiệm lòng yêu thương và tình bác ái của con người. Chúc chị và hai cháu nhiều ơn thánh trong những ngày sắp tới. Ngày mai em phải trở về Nha Trang. Rất hy vọng gặp lại chị và hai cháu trong mùa Hè năm tới khi em đi giảng tĩnh tâm cho quý sơ Dòng Ảnh Vảy. Chị có cần nhắn điều gì với người thân ở Nha trang không?
Chị Cúc như vừa nghe tiếng sấm giữ đêm khuya. Cử chỉ nói năng càng trở nên lúng túng.
– Lạy Chúa tôi! Em là linh mục! Sao không cho chị biết sớm. Xin lỗi Cha. Bửu, Hoa, hai con ra đây chào Cha.
Hai người con chị đứng phía trong đã nghe rõ từng chi tiết câu chuyện bước ra. Hơi khúm núm, hai tay khoanh lại để trước ngực nói nhí nhí “Con chào Cha”. Bửu dựa vào cây cột đứng im lặng. Riêng Hoa, cô con gái mười tám cử chỉ rụt rè, nhưng trên khuôn mặt lúc này hiện rõ niềm vui, miệng mỉm nụ cười e lệ thoáng nhẹ. Có lẽ đây là nụ cười đầu tiên ẩn chứa niềm vui kể từ khi cô nhận thức được cuộc đời vì từ trước tới nay cô luôn nghĩ: “Từ linh mục tới gia đình cô có một khoảng cách vô hình, ngàn trùng diệu vợi. Tuy từ nhà thờ tới nhà mẹ con cô chỉ khoảng hơn nửa cây số và họ đi lễ Chúa Nhật hàng tuần.” Hôm nay bỗng dưng cái khoảng cách ấy không còn nữa. Hình ảnh vị linh mục sao thân thương quá. Ngài đến thăm căn nhà nghèo nàn của ba mẹ con cô hôm nay. Với cô nó như một phép lạ.
Hai tay chị Cúc đan chặt vào nhau vẫn để trước ngực. Chị và hai cháu cùng cúi đầu chào Cha Tâm một lần nữa.
– Chị Cúc! Em là linh mục Nguyễn An Tâm, linh mục đặc trách hội Cựu Tu Sinh Giuse Ngôi Lời. Nhân chuyến đi giảng tĩnh tâm cho quý Sơ Dòng Ảnh Vảy, ACE/CTS nhờ em đến trao tặng quà Giáng Sinh cho chị và hai cháu. Em rất hạnh phúc khi thi hành nhiêm vụ này. Niềm vui lớn hơn nữa là được gặp gia đình người anh em cựu tu sinh năm xưa.
Nói xong, cha Tâm chắp hai tay trước ngực, ngước mắt nhìn lên chiếc bàn thờ thật sơ sài với cây thánh giá và hình Đức Mẹ Măng Đen, chiếc bình nhỏ cắm mấy bông hoa dã quỳ. Tay trái để trên ngực, tay phải dơ cao ban phép lành:
– Xin Chúa là Cha nhân lành, chúc lành và ban xuống cho gia đình này nhiều ơn lành hồn xác. Nhân danh Cha và Con, và Thánh thần. Amen.
Chị Cúc và hai người con cúi đầu nhận lãnh phép lành. Chị Cúc đâu ngờ người đàn ông trả tiền tô bún hồi trưa, rồi tới thăm căn nhà nghèo nàn của chị hôm nay lại là một linh mục bạn của chồng mình, bạn của Ba hai đứa con mình. Chị không thể tưởng tượng được nó có thể xảy ra trong cuộc đời của mẹ con chị.
Cha Tâm cúi đầu chào chị Cúc, nắm tay an ủi hai cháu:
– Xin Chúa chúc lành cho chị và hai cháu.
Nói xong cha quay lưng, đầu hơi cúi xuống, bước ra khỏi hàng rào, lên xe ôm. Cha quay lại vẫy tay chào lần cuối. Chiếc xe nổ máy bắt đầu lăn bánh.

Chị Cúc quá xúc động, đứng ngẩn ngơ. Hoa tiến tới đứng sát bên mẹ, hai tay đan vào nhau đặt trên vai phải rồi ngã đầu lên đó. Lọn tóc mềm chảy dài xuống phía trước che lấp hết nửa khuôn mặt thon gầy. Chị Cúc vòng tay ôm con, đặt nhẹ chiếc hôn lên mái tóc người con gái yêu quý suốt đời của chị. Tiếng thở dài thoát ra rất nhẹ nhưng đủ làm cho Bửu con trai của chị quay đi chỗ khác đưa bàn tay lên quẹt nhẹ trên đôi mắt. Chị ngước lên nhìn theo nhưng bóng Cha Tâm và chiếc xe ôm đã khuất ngoài ngõ hẻm. Miệng chị lâm râm: “Lạy Chúa xin Ngài chúc lành trên những ân nhân đã mở bàn tay ra chia sẻ với chúng con miếng cơm manh áo trong cơn túng thiếu nghèo nàn này. Từ chốn núi rừng khất ngàn, lạnh giá hôm nay, người đàn bà góa bụa và hai đứa con côi cút này xin chắp tay gởi tới quý Cha, quý Thầy, quý ACE/CTS, quý ân nhân tiếng nói từ cõi thâm tâm: Xin muôn vàn cám ơn.”

Chị bước vào nhà, cẩn thận mở chiếc phong bì Quà Giáng Sinh, nhìn số tiền ChaTâm tặng. Chị mơ một giấc mơ: Mình cố gắng làm một chút gì đó vì đôi chân đi bán vé số đã mỏi mệt lắm rồi. Chị gọi Bửu lại đứng bên Hoa, vòng tay ôm sát hai con vào lòng. Chị mơ màng hồi tưởng lại quãng đời đã qua… Có lẽ ngày hôm nay, kể từ khi đặt chân lên vùng heo hút này, đây là lần đầu tiên chị cảm nhận được mùi hương thoang thoảng, nhè nhẹ của loài hoa dã quỳ mộc mạc nơi xứ Thượng thoảng về trong một buổi chiều Mùa Giáng Sinh trên vùng Cao Nguyên đất đỏ này. Ngước nhìn lên tượng ảnh Mẹ Mang Đen chị nguyện thầm: Mẹ ơi! con xin cám ơn Mẹ.

Nguyễn Ngọc Danh
California – Mùa Giáng Sinh 2012
__._,_.___

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

1 Comment

  1. Gần đến ngày lễ Giáng Sinh mà được đọc bài viết của Nguyễn Ngọc Danh,tôi cảm thấy có một hơi ấm nhiệm mầu đang bao trùm lên tôi và khung cảnh chung quanh của sứ lạ quê người.Chúa Giêsu Hài Đồng đã đưa hơi ấm tình người,tình đồng đạo,đồng chí hướng qua hình ảnh chị Cúc một người VN nghèo trong xã hội CS ngày nay.Chúa và con cái người vẫn có những mối giây ràng buộc linh thiêng nhiệm mầu qua lời rao truyền của các Thiên Thần”Vinh danh Thiên Chúa trên Trời,bình an dưới thế cho người Chúa thương”Boston – Mùa Giáng Sinh 2017

 
 

Leave a Reply to Đảm Phạm