Phạm Bá Hoa: Thư Số 71 Gởi Người Lính QĐNDVN – Bộ Sách Lịch Sử Việt Nam Mới & Vụ Trịnh Vĩnh Bình Kiện

 

Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên tội ác mà họ đã và đang gây ra cho Tổ Quốc và Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi chế độ cộng sản độc tài chuyên chính trên quê hương bị triệt tiêu, và chế độ dân chủ tự do hình thành.
Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Nội dung thư này, tôi tổng hợp tin tức liên quan đến một đề tài mà hơn 40 năm qua hoàn toàn cấm kỵ trong sinh hoạt chính trị tại Việt Nam, đó là …

Việt Nam Cộng Hoà trong bộ sử mới của Việt Cộng

image006Giữa tháng 8/2017, tin tức loan truyền tại Việt Nam rồi lan ra hải ngoại, theo đó thì Viện Sử Học Việt Nam vừa cho phát hành bộ Lịch Sử Việt Nam gồm 15 tập do Giáo Sư Phan Huy Lê làm chủ biên. Trong đó, tập 12 nói về giai đoạn 1954-1965 trên phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực Nam, đã sử dụng danh xưng “Việt Nam Cộng Hòa” chớ không gọi ngụy quyền Sài Gòn nữa.
Riêng về điểm khác thường này, một số nhân vật trong nước lẫn hải ngoại, có những nhận định khác nhau về nguyên nhân của nó.
Ngày 21/10/2017, tháng 8/2017 là lần đầu tiên từ sau ngày 30/4/1975: “Bộ sách lịch sử Việt Nam” đã nhìn nhận công lao nhà Mạc cùng chúa Nguyễn, các vương triều nhà Nguyễn, và không gọi chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là ngụy quân ngụy quyền như từ ngày 30/4/1975 về sau, đồng thời gọi đích danh quân Trung Cộng là xâm lược Việt Nam. Tin tức này đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 18/8/2017.
Tiến Sĩ Trần Đức Cường, nguyên Viện Trưởng Viện Sử Học, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, tổng chủ biên bộ lịch sử Việt Nam, trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ như sau: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là một thực thể ở Miền Nam Việt Nam”, là một chính thể “rất có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
Ông Cường nói tiếp: “Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc hồi năm 1979, cần phải chỉ đích danh là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Cộng đánh Việt Nam”.
“Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân ngụy quyền, nhưng chúng tôi không gọi theo cách đó, mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn. Vì lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận”.
Diễn giải của ông Trần Đức Cường cũng là phát ngôn đầu tiên, và báo Tuổi Trẻ thận trọng giải thích là “bên lề buổi giới thiệu sách…”, có thể hiểu là phát ngôn này không hẳn là chánh thức.
Căn cứ vào tổ chức và điều hành của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam từ 1954 đến 1975 trên lãnh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và từ 30/4/1975 đến nay trên toàn cõi Việt Nam, tôi tin chắc rằng Giáo Sư Phan Huy Lê hay Tiến Sĩ Trần Đức Cường không thể nào tự mình quyết định biên soạn và hoàn thành bộ sách lịch sử, mà trong đó có phần “trung thực” dưới nét nhìn lịch sử, nhưng dưới nét nhìn chính trị vẫn đậm nét “gian trá” của lãnh đạo Việt Cộng, dù họ chưa một lần lên tiếng về bộ sách lịch sử này. Vậy ai là người cho phép? Và cho phép với mục đích gì? Dưới đây là tôi tóm tắt nhận định của vài tác giả, để nội dung tập 12 nói đến Việt Nam Cộng Hoà thêm phần rõ nét.
Tóm tắt. Vậy là, các nhà sử học Phan Huy Lê + Trần Đức Cường + Nguyễn Nhã, việc thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hoà là sự thật của lịch sử, cũng là sự thật của góc nhìn chính trị trong giai đoạn 1954-1975. Sự thừa nhận này, sẽ làm mạnh thêm về pháp lý trong bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông với Trung Cộng. Hơn thế nữa, sẽ dẫn đến sự hoà giải và hoà hợp với Cộng Đồng Việt Nam đang sống tại hải ngoại. Các vị nói đến sự thừa nhận này có lợi về chính trị và pháp lý, nhưng không vị nào dẫn chứng hoặc với lập luận khả dĩ thuyết phục độc giả chấp nhận.

Với tác giả Phạm Chí Dũng
Chỉ có các cơ quan hoặc viên chức có thẩm quyền cho phép các nhà viết sử, là Ban Tuyên Giáo trung ương, cao hơn một chút là Ban Bí Thư trung ương, và cao hơn hết là Tổng Bí Thư. Rồi tác giả nhấn mạnh: “Nhưng 42 năm qua, trong số các nhân vật trên đây nói riêng, và các nhân vật trong Bộ Chính Trị nói chung, chưa một ai lên tiếng dù chánh thức hay không chánh thức xác nhận “thực thể chính quyền Việt Nam Cộng Hòa”. Duy nhất một lần vào đầu năm 2017, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã “gật” đầu với đề nghị của Chủ Tịch Hội Nhà Văn Việt Nam Hữu Thỉnh, về ý kiến “mời tất cả các nhà văn hải ngoại, kể cả những người đã cầm bút phục vụ chế độ Việt Nam Cộng Hoà về nước dự Hội Nghị Hòa Hợp Dân Tộc nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương”. Dù vậy, Phạm Chí Dũng không tin là ông Nguyễn Phú Trọng “gật đầu” về những nét gọi là trung thực trong tập 12 của bộ sách lịch sử này.
Tác giả cũng nhắc lại: “Hội Nghị Hòa Hợp Dân Tộc Về Văn Học” đã thất bại cay đắng, vì ngay sau khi ông Hữu Thỉnh tuyên bố về hội nghị này thì các diễn đàn trong nước, và đặc biệt ở hải ngoại đã phản ứng như sóng lừng. Rất nhiều ý kiến của nhà văn, nhà báo hải ngoại cho rằng sự kiện này về thực chất chỉ mang tính “cuội”. Họ tung ra một câu hỏi quá khó để trả lời, rằng: “Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài đã ban hành năm 2003, tức mười mấy năm qua mà vẫn không có kết quả gì cả, giờ đây lại sinh ra cái trò chiêu dụ người Việt tị nạn cộng sản nữa”?…

Với Tiến Sĩ Dương Danh Huy
Nhiều tác giả, đặc biệt là Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông qua các bài viết của Tiến Sĩ Dương Danh Huy, đã đi sâu về bang giao quốc tế ngang qua sự công nhận một hay hai quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, và lập luận pháp lý bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Những nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau dẫn đến kết luận rằng: “Sự kiện công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đối với Trung Quốc. Đó cũng là quan điểm có thể chấp nhận về mặt chính trị hiện nay, so với việc chỉ công nhận một quốc gia tại miền Bắc hay tại miền Nam. Nhận định Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là hai quốc gia, cũng là điều được chấp nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế theo nghiên cứu của nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng”.
Giáo sư James Crawford là giáo sư hàng đầu về công pháp quốc tế, đã một lần làm thẩm phán tại Tòa Án Công Lý Quốc Tế. Trong tác phẩm The Creation of States in International Law, đã cho rằng: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là hai quốc gia. Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia không phải là toàn bộ Việt Nam. Đến Hiệp định Paris 1973, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định đối nội và đối ngoại, đáp ứng được các điều kiện có chính phủ và có bang giao với các chính phủ khác trên thế giới”.

Với Tiến Sĩ Nguyễn Nhã
Tóm tắt bài của Thanh Phương ngày 25/03/2009. Tiến Sĩ Nguyễn Nhã là Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Tập San Sử Địa trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn từ năm 1966.
Từ năm 1975 đến nay, Tiến Sĩ Nguyễn Nhã vẫn không ngừng tìm tòi nghiên cứu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mong ước của tiến sĩ Nguyễn Nhã vẫn là phải phổ biến một cách rộng rãi những nghiên cứu của ông về Hoàng Sa – Trường Sa nhất là cho giới trẻ, để mọi ngườI ý thức hơn nữa về việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà cha ông ta đã mất biết bao xương máu để gìn giữ qua biết bao thời kỳ.
Ngày 18/8/2017, Việt Cộng cho ra đời một bộ sách lịch sử mới, trong đó tên gọi Việt Nam Cộng Hòa được dùng để chỉ chế độ chính trị tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tiến Sĩ Nguyễn Nhã cho rằng:
“Việc thừa nhận này có lợi trước nhất cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Như tôi đã nhiều lần phát biểu trong đó có hội thảo xây dựng bộ lịch sử này, để đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20… Từ năm 1954 – 1975 chỉ có chính quyền ở miền Nam Việt Nam mới có quyền quản trị Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này ở dưới vĩ tuyến 17, cũng đã từng được rất nhiều nước thừa nhận, nên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phải được chánh thức thừa nhận mới bảo đảm tính pháp lý quốc tế liên tục”.
Vẫn Tiến Sĩ Nguyễn Nhã: “Công nhận Việt Nam Cộng Hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc. Thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng, giới sử học ở miền Nam trước đây (1954-1975) không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm của chánh phủ. Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển”.

Với nhà văn Nguyễn Tường Thuỵ
Trên làn sóng đài RFA, nhà văn Nguyễn Tường Thụy nhận định qua bài “Ý nghĩa của việc thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa”, rằng: “Bộ Lịch Sử Việt Nam vừa xuất bản và được công luận quan tâm. Nội dung có chút thay đổi về cách nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, mà công luận quan tâm nhất là trả lại tên gọi cho chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Đây là vấn đề cực kỳ tế nhị, vì vậy bộ sử nhận được rất nhiều hoan nghênh, nhưng còn có những ý kiến phản đối dữ dội, … Dù sao thì, việc thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa là một sự can đảm cần khuyến khích. Thế hệ lãnh đạo Việt Nam hiện nay, vào năm 1975 họ chưa có vai trò gì. Họ không phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Cái khó nhất của họ là cuộc chiến tranh do thế hệ lãnh đạo trước tiến hành đã cho họ thừa hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi mặc dù với dân tộc và với đất nước thì không. Vì vậy, nếu họ dám thừa nhận sai lầm của thế hệ lãnh đạo trước và dám sửa cũng là một sự can đảm…”

Với Luật Sư Lê Công Định
Kính Hòa: Hầu như chỉ có báo Tuổi Trẻ là tờ báo duy nhất nói đến bộ sử 15 quyển này, có đưa ra những ý kiến khác nhau. Có ý kiến đi xa hơn nói rằng, công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một bước tiến.
Luật Sư Định: “… Giới sử học từ xưa đến giờ, tôi nói thẳng là họ bị nô lệ cho sự tuyên truyền của nhà cầm quyền. Bây giờ họ có dùng lại đúng nhóm chữ Việt Nam Cộng Hòa, chỉ là họ quay lại sự khách quan của lịch sử, chớ không phải chánh thức là nhà nước công nhận. Cho nên tôi vẫn giữ một thái độ dè dặt trong việc họ nhìn nhận thể chế chính trị ở miền Nam.
Kính Hòa: Có những lý do thực tiễn là để bảo vệ biên giới hải đảo thì họ phải công nhận quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, ông thấy rằng đó có thể là một điều mà họ sẽ làm hay không?
Luật sư Định: “Thực ra chính quyền này có công nhận Việt Nam Cộng Hòa hay không, thì cũng không thay đổi một thực tế là chính quyền ở miền Nam Việt Nam vẫn tồn tại như một quốc gia từ năm 1955 đến năm 1975. Về phương diện pháp lý bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, xét trên phương diện công pháp quốc tế, bởi vì hai quốc gia đã từng tồn tại song song với nhau cho đến 1975, dù cho họ có công nhận Việt Nam Cộng Hòa hay không thì sự thừa kế pháp lý đã diễn ra rồi. Hoàng Sa và Trường sa cũng sẽ được giải quyết như vậy”…
Kính Hòa: Có ý kiến cho rằng nếu có sự thừa nhận nào đó thì có lợi cho việc hòa giải hòa hợp dân tộc, ông thấy đúng không?
Luật sư Lê Công Định: “Xét về chuyện đó thì đúng, nhưng hòa hợp hòa giải dân tộc đòi hỏi những vấn đề khác: Như đối xử với quân nhân của chế độ cũ, với nghĩa trang những người lính đã ngã xuống trong cuộc chiến, ..v..v.. , chứ không chỉ thừa nhận danh xưng Việt Nam Cộng Hòa là nói lên tất cả cái thái độ muốn hòa hợp hòa giải dân tộc. Hãy chờ xem sau khi bộ lịch sử này phổ biến rộng rãi, thì chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc của nhà cầm quyền có thực tâm hay không. Tôi chỉ thấy buồn cười là bên thắng trận lại không có sự độ lượng, thể hiện cái đẳng cấp chính trị của mình để công nhận một quốc gia, mà họ sợ hãi cái tên gọi Việt Nam Cộng Hòa”…
“Bây giờ họ có thay đổi đi chăng nữa thì nó cũng chẳng nói lên được điều gì. Đối với những người quan tâm tới chính thể Việt Nam Cộng Hòa cùng với những thành tựu từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa giáo dục, thì trong lòng họ cũng đã có một sự tôn trọng đối với Việt Nam Cộng Hòa rồi. Còn chính quyền này, thực ra chẳng có gì thay đổi cả. Tôi cũng chẳng quan tâm, và cũng chẳng tin cái thực tâm của họ”.

Với nhà giáo Bùi Văn Phú
Trên đài BBC, nhà giáo Bùi Văn Phú với bài “Từ Việt Nam Cộng Hòa đến hòa giải dân tộc”, ông nhận định: “Gọi tên Việt Nam Cộng Hòa lúc này, có liên quan gì đến việc đòi lại chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều mà tôi cho là xa vời. Vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay quá lớn trong chính trường Việt Nam, khiến lãnh đạo Hà Nội dù có xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, cũng sẽ không làm gì mạnh về chủ quyền trên Biển Đông. Ngay trong tháng trước, do áp lực Trung Quốc mà Việt Nam phải yêu cầu công ty Repsol của Tây Ban Nha ngưng khoan dầu trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã cho thấy điều đó. Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là “Việt Nam Cộng Hòa”, tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên lãnh thổ đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm, và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại hải ngoại.”
Tóm tắt. Các tác giả trong nước cho rằng, có thừa nhận hay không thừa nhận, Việt Nam Cộng Hoà vẫn là một thực thể chính trị từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực nam trong giai đoạn 1954-1975. Nhưng liệu, sự thừa nhận này có thực tâm hay không? Muốn tiến đến hoà giải hoà hợp, đâu phải chỉ thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hoà là hoà giải hoà hợp, những vần đề cần phải đặt ra trước khi nói đến hoà giải hoà hợp, như: “Những người tù cải tạo, nghĩa trang quân đội Biên Hoà, ..v..v..

Với Tướng VIệt Cộng

Ngày 23/8/2017, Tướng Việt Cộng tên Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên cục trưởng cục tuyên huấn, Tổng Cục Chính Trị thú nhận là chưa đọc bộ sử này mà chỉ nghe nói thôi. Ông ta có bài viết trên internet đòi thu hồi bộ sách lịch sử mới phát hành, mà trong nội dung không còn gọi chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là ngụy quân ngụy quyền như trước. Ông ta cho rằng: “Nhóm soạn sách đã bị nhóm cờ vàng hải ngoại và bọn cơ hội cực đoan trong nước buộc bóp méo sự thật, nhằm để mọi người chấp nhận. Nhóm soạn sách đã làm việc không công cho Hoa Kỳ phá hoại đất nước”.
Ông ta miệt thị chính quyền Việt Nam Cộng Hoà và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, rồi lên tiếng kêu gọi: “Đảng nhà nước phải kiểm tra xử lý kiên quyết thu hồi đính chính bộ sách lịch sử, và truy cứu trách nhiệm của những người biên soạn”.
Tóm tắt. Tướng Việt Cộng này như đỉa phải vôi khi nghe nói đến thừa nhận thể chế chính trị Việt Nam Cộng Hoà, và kêu gọi cái Đảng Việt Cộng vô vàn tội ác với dân tộc, phải thu hồi số sách phát hành và trừng trị nhóm biên soạn. Đúng là ông ta sợ mất cuốn sổ hưu, chớ không sợ dãi đất có dạng hình cong chữ S sắp trở thành một tỉnh nhỏ của Trung Cộng.

Với tác giả Thiền Lâm
… Một câu hỏi “day dứt” khác: “Tại sao không phải những năm trước, mà phải đến năm thứ 42 lãnh đạo Việt Cộng mới lấp ló xác nhận gián tiếp về “thực thể Việt Nam Cộng Hòa?”
“Đúng rồi, vì chính trị lẫn kinh tế Việt Nam hiện nay trong tình trạng vô cùng khốn khó, dẫn đến bầu không khí như đang manh nha luồng tư tưởng cùng một số viên chức buộc phải nghiêng dần theo khuynh hướng “cải cách thật sự”. Và trong khuynh hướng “cải cách thật sự” này đã bộc lộ tín hiệu “lấy lòng người Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại”.
Vẫn theo tác giả Thiền Lâm: “Bộ Lịch Sử Việt Nam gián tiếp xác nhận “thực thể Việt Nam Cộng Hòa” rất có thể là liên quan đến ngân sách Việt Nam? Vì sau 23 năm lượng kiều hối từ Cộng Đồng Việt Nam tị nạn hải ngoại gởi về gia tăng liên tục, riêng năm 2016 nhận được 13 tỷ 500 triệu mỹ kim. Nhưng, căn cứ vào kiều hối nửa đầu năm 2017 thì Trung Tâm Nghiên Cứu Pew của Hoa Kỳ dự báo, trong năm 2017 này lượng kiều hối về Việt Nam có thể chỉ khoảng 5 tỷ 400 triệu mỹ kim”.

Với Không Quân Trần Văn Ngọc
Ngày 25/8/2017, rằng: “Kính các Bác. Vừa nghe tin Việt Cộng không xử dụng nhóm chữ “nguỵ quân nguỵ quyền miền Nam”, thì một số người trong cơn mê sảng đã hân hoan đón nhận mà xem đấy như là một hiện tương gió đã đổi chiều, vội vàng gián tiếp hay trực tiếp ca ngợi mà cho rằng Việt Nam Cộng Hòa đã sống lại và tìm đường hòa giải hòa hợp. Chúng ta không cần sự công nhận của đám người cướp nước”.
“Chúng ta được tạo dựng trong gian lao và khổ nhục để trường tồn, đã hiện hữu và sẽ trường tồn với thời gian. Không có sự chấp nhận của đám cướp nước, chúng ta đã có mặt trong quá khứ, trong hiện tại, và ngay cả trong trương lai. Trong giai đoạn hiện tại sự căn cỗi về thể xác, không cho chúng ta cơ hội để điều chỉnh, nhưng con cái chúng ta sẽ thay thế chúng ta làm chuyện đó. Gần một thế kỷ, người dân Việt đã bị cộng sản lừa đảo mà chúng ta chưa học được gì à?”
“Cộng sản không biết nhục và không có tự ái. Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Cái gì người ta cho thì người ta cũng có thể lấy lại. Tỉnh lại đi các Bác!”
Tóm tắt. Các tác giả hải ngoại cùng quan điểm với vài tác giả trong nước, về việc có thừa nhận hay phủ nhận chính thể Việt Nam Cộng Hoà, thì chính thể Việt Nam Cộng Hoà vẫn là một thực thể không thể chối cãi. Đồng thời đặt vấn đề rất rõ ràng rằng, ngoài cái việc lãnh đạo Việt Cộng có sử dụng chính thể Việt Nam Cộng Hoà đã hơn 20 năm kể từ 1954 nắm giữ vững chắc chủ quyền trên Biển Đông, và đã chống trả mãnh liệt khi quân Trung Cộng tấn công Hoàng Sa hồi đầu năm 1974, cũng không loại trừ giả thuyết là họ sẽ kêu gọi Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản hoà giải hoà hợp với họ, để cứu họ đang trong nguy khốn về chính trị và kinh tế tài chánh.
Ngày 30/8/2017, trên trang blog Tre Làng có bản tin ngắn sau đây: “Cuối cùng thì cái gì đến sẽ phải đến, bộ sách lịch sử do Phan Huy Lê làm chủ biên đã bị thu hồi. Bộ sử này do hội “xét lại” của Phan Huy Lê biên soạn đã bị thu hồi”.
Bản tin chỉ có như vậy, không thấy cơ quan nào hay nhân vật nào ra lệnh, mà cái lệnh thu hồi cũng không đầu không đuôi gì cả. Tôi nghĩ, lãnh đạo Việt Cộng đã âm thầm ra lệnh ông Phan Huy Lê biên soạn ấn hành bộ sử mà trong đó có đoạn thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hoà, với mục đích lôi cuốn Cộng Đồng tị nạn Việt Cộng tại hải ngoại “cứu họ”. Khi họ thấy phản ứng từ hải ngoại cũng như trong nước không thuận lợi -nhất là trong nội bộ lãnh đạo- họ lại âm thầm ra lệnh thu hồi.

Nhận định

Lệnh thu hồi bộ sử không đơn giản chỉ có vậy, nhưng hậu quả của nó rất có thể sẽ đẩy sự phân hoá trong nội bộ lãnh đạo Việt Cộng đi xa thêm nữa, vì tự nó bộc lộ mức độ kiệt quệ vì kinh tế suy đồi, tài chánh thiếu hụt nghiêm trọng, lại bị thua kiện với số tiền hằng mấy trăm triệu mỹ kim phải trả cho ông Trịnh Vĩnh Bình trong thời hạn nhất định.
Tác dụng chính trị. Cho dù có thừa nhận hay không thừa nhận thì Việt Nam Cộng Hoà vẫn là một thực thể chính trị từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực nam trong giai đoạn 1954-1975, vì Việt Nam Cộng Hoà chúng tôi được 83 quốc gia thiết lập bang giao hoặc công nhận, trong khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà của Việt Cộng chỉ có 13 quốc gia thiết lập bang giao hoặc công nhận.
Với bộ sử mới phát hành, tôi tin rằng nó không có tác dụng gì với văn kiện mà Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 công nhận vùng biển Việt Nam Cộng Hoà lúc ấy thuộc về Trung Cộng, cũng như với “đường lưỡi bò” của Trung Cộng tự giành cái gọi là “chủ quyền lịch sử” trên Biển Đông. Vì bản chất gian trá của Trung Cộng cũng như của Việt Cộng như nhau, nhưng cái gian trá của Việt Cộng làm sao ngang hàng với cái gian trá của Trung Cộng mà muốn tranh nhau về pháp lý. Với lại, nếu Trung Cộng tôn trọng pháp lý thì đâu có “đường lưỡi bò”, cũng đâu cần đến phán quyết của toà án trọng tài quốc tế. Tương tự như vậy, nếu Việt Cộng tôn trọng pháp lý thì đâu xảy ra ngày 30/4/1975, và Việt Nam Cộng Hoà chắc chắn đã phát triển không kém Đại Hàn, chớ đâu phải lụn bại đến mức nợ lút đầu (vượt trần) như Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Ngân sách thiếu hụt nghiêm trọng. Trần Nguyên Thảo (danlambao) với bài “Hà Nội chánh thức nhìn nhận kinh tế phá sản” ngày 19/5/2017. Đầu tháng 6/2017 Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Xuân Phúc chánh thức nhìn nhận nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phá sản. Cũng trong bài này có đoạn nói đến nợ nần như sau: (1) Nợ xấu trong khu vực ngân hàng thương mại vào khoảng 600 ngàn tỷ đồng, hay là 27 tỷ mỹ kim. (2) Gần như toàn bộ hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã làm ăn thua lỗ, hoặc bị phá sản như: Vinashin, Vinalines, điện lực than khoáng sản… mang món nợ vào khoảng 321 tỷ Mỹ Kim, bằng 157% GDP. (3) Nợ do chánh phủ vay vào khoảng 107 tỷ mỹ kim, bằng 64.5% GDP. (4) Ngân sách năm nào cũng bội chi trung bình khoảng 6%, tương đương 12 tỷ Mỹ Kim. Nói chung là mức nợ vượt trần lên đến 55% (trần nợ được phép là 50%) đối với GDP.
Ngân sách thiếu hụt triền miên là do lãnh đạo Việt Cộng dùng 70% ngân sách để trả lương cho 11 triệu cán bộ mọi ngành toàn là họ hàng thân thích, kể cả dư luận viên, côn đồ được thuê mướn trấn áp người dân, và 25% để trả nợ cũ và tiền lời. Thiếu tiền đến mức phải sử dụng quỹ bảo hiểm để chi tiêu, dẫn đến tình trạng công nhân viên chức nghỉ hưu trong năm nay 2017 này, chỉ nhận được 75% trong số tiền họ đáng được hưởng. Vì vậy mà họ tìm mọi cách moi tiền trong Cộng Đồng chúng tôi tị nạn Việt Cộng tại hải ngoại, mà thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hoà là một cách, có lẽ là cách cuối cùng.
Từ năm 1991, bà con bắt đầu gởi tiền về Việt Nam giúp gia đình, cũng là vô tình giúp lãnh đạo Việt Cộng. Từ đó số tiền gia tăng nhanh lên, nhưng vài năm gần đây thì giảm dần, nhất là năm 2017 này sẽ giảm mạnh. (những con số này chưa kể số tiền mang tay mỗi khi về Việt Nam)
Năm 1991: 35.000.000 mỹ kim. Năm 1995: 285.000.000 (báo Times). Năm 2000: 1.757.000.000. Năm 2005: 3.800.000.000 (Tổng Cục Thống Kê Việt Cộng). Năm 2010: 8.000.000.000 (đài RFA ngày 1/5/2011). Năm 2012: 10.000.000.000 (Wikipedia). Năm 2014: 12.000.000.000. Năm 2015: 13.500.000.000 (ngân hàng thế giới). Năm 2016: 9.500.000.000 (ngân hàng Việt Cộng) Năm 2017: ước tính sẽ là 5.400.000.000 mỹ kim. (trung tâm nghiên cứu PEW Hoa Kỳ căn cứ vào 3 tháng đầu năm 2017)

Thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa để kêu gọi Cộng Đồng chúng tôi “hoà giải và hoà hợp” ư? Không. Không bao giờ. Lãnh đạo của Các Anh không bao giờ thuyết phục được Cộng Đồng chúng tôi tị nạn Việt Cộng tại hải ngoại đâu.
Tôi hỏi đây: Tại sao lãnh đạo Các Anh không hoà giải hoà hợp với người dân trong nước trước, mà cứ lẽo đẽo sau lưng Cộng Đồng chúng tôi mà kêu gào hoà giải hoà hợp hoài vậy? Lãnh đạo Việt Cộng hãy bắt đầu đi hoà giải hoà hợp với hằng ngàn Đoàn Dân Oan, với hằng ngàn tù chính trị dưới bản án hình sự, với hằng trăm người bị giam lỏng tại nhà, bị đẩy lưu vong, với hằng ngàn gia đình có người thân bị bắt vô đồn Công An là lăn quay ra chết,..v..v.. Và khi hoà giải hoà hợp xong với người trong nước, hãy thực hiện 4 sự kiện sau đây mới nói chuyện với Cộng Đồng chúng tôi: 1) Bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần cho hằng chục ngàn thương phế binh đã bị họ quẳng ra khỏi các quân y viện trước, trong, và sau ngày 30/4/1975. (2) Hãy hoàn chỉnh lại nghĩa trang quân đội Biên Hoà như trước ngày 30/4/1975 với diện tích đầy đủ là 125 mẫu tây (năm 2015 chỉ còn 29 mẫu tây thôi), và tổ chức lễ tạ tội với Người Lính Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh vì Tổ Quốc Dân Tộc. (3) Bồi thường thiệt hại vất chất và tinh thần cho nửa triệu Quân Dân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hoà bị họ nhốt trong hệ thống trại tập trung từ Nam ra Bắc trong thời gian từ 3 năm đến 17 năm, và kèm theo lời xin lỗi của Bộ Chính Trị. (4) Hoàn trả tất cả tài sản của công dân Việt Nam Cộng Hoà mà lãnh đạo Việt Cộng đã tịch thu dưới mọi hình thức từ tháng 3/1975 về sau.
Với 4 sự kiện trên đây, chẳng qua là lãnh đạo Việt Cộng chỉ làm ngược lại những điều mà họ đã gây ra sau ngày 30/4/1975, chớ không có gì mới cả.

Kết quả vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện lãnh đạo Việt Cộng
Lần đầu tiên hồi tháng 12/2006 là toà án quốc tế tại Thuỵ Điển, Việt Cộng được phép thương lượng ngoài toà với đương đơn Trịnh Vĩnh Bình, và kết quả do hai bên cùng ký văn kiện thoả thuận tại Singapore. Nhưng lãnh đạo Việt Cộng thi hành không đúng theo những gì cam kết, thế là ông Trịnh Vĩnh Bình lại “dìu” Việt Cộng ra toà lần nữa.
Lần này là toà án trọng tài quốc tế tại Paris, Pháp quốc, và “đương đơn” Trịnh Vĩnh Bình đòi bồi thường 1 tỷ 250 triệu mỹ kim. Phiên toà làm việc từ ngày 21/8/2017 liên tục đến ngày 27/8/2017, lúc ấy hơn 5 giờ chiều, ông Trịnh Vĩnh Bình từ trong toà án bước ra cửa sau của toà, với nụ cười thật vui trong khi đưa hai tay lên theo hình chữ V (victory) dấu hiệu của thắng kiện. Khoảng 10 anh chị em Việt Nam đứng chờ tại đây, cùng vui với “đương đơn”. Và những tin tức được biết như sau:
“Trong vòng 1 tháng, ông Trịnh Vĩnh Bình và luật sư của ông sẽ nhận được thư của tòa án gởi kết quả phán quyết chánh thức tới nhà. Trong phán quyết, tòa sẽ cho phép ông Bình công khai nói những chi tiết nào, và những chi tiết nào mà ông Bình không được tiết lộ công khai, hoặc viết thành sách, truyện để phổ biến. Tiếp đó, Luật Sư của Trịnh Vĩnh Bình sẽ làm các thủ tục cần thiết để gởi thư đòi tiền nhà nước Việt Cộng, trong thời hạn 60 ngày Việt Cộng phải trả tiền cho ông Bình. Ông Bình có quyền lấy hết số tiền một lần, hay cho nhà nước trả góp hàng tháng có lời. Nếu đến thời hạn mà ông Trịnh Vĩnh Bình không nhận được tiền, thì Luật Sư của ông Bình sẽ đưa phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế cho các tòa án ở 28 nước Âu Châu có giao thương với Việt Nam, để họ tống đạt lệnh phong tỏa hay đóng băng tài sản và tài khoản ngân hàng của nhà nước Việt Cộng tại Âu Châu, Mỹ Châu, và Á Châu”.
Chưa hết đâu. Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức, lãnh đạo Việt Cộng như đang chờ một quyết định từ chánh phủ Cộng Hoà Liên Bang Đức, như cái giá mà họ phải trả cho hành động vi phạm luật của Đức và luật quốc tế. Bằng cách đưa toán người võ trang từ Châu Á sang Châu Âu xâm nhập lãnh thổ Đức để bắt cóc công dân của họ, và đã dối trá khi không thừa nhận sự kiện, lại còn tạo dựng màn kịch “Trịnh Xuân Thanh trình diện tại Bộ Công An. “Cái giá” này rất có thể ảnh hưởng nặng đến vấn đề Đức viện trợ cho Việt Cộng, nhất là với Hiệp Định Thương Mại đã ký hồi cuối năm 2015 mà Việt Cộng rất kỳ vọng, và dự định Quốc Hội các quốc gia trong khối Liên Hiệp Châu Âu sẽ duyệt ký vào cuối năm 2017 này hoặc đầu năm 2018 tới.
Chính xác là luật rừng của Việt Cộng mạnh tay áp dụng trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam thôi, và vì quen mạnh tay với luật rừng trong nước nên mang ra áp dụng quốc tế xem họ dám làm gì. Quốc tế không có gì để gọi là dám hay không dám, mà vụ Trịnh Xuân Thanh với vụ Trịnh Vĩnh Bình thì quốc tế chỉ áp dụng đúng luật thôi. Chỉ có vậy là đủ cho chế độ độc tài chuyên chính trong tay Việt Cộng lung lay đến tận gốc rễ.
Và thật dứt khoát, xin bà con trong Cộng Đồng chúng ta tị nạn trên khắp thế giới không chấp nhận bất cứ lời kêu gọi nào của lãnh đạo Việt Cộng. Hãy để cho chúng sụp đổ hoàn toàn, đó là lúc chúng ta sẽ chung góp mọi thứ có thể được, để trong ngoài cùng nhau khôi phục lại một xã hội nhân bản, và xây dựng một quốc gia phát triển toàn diện.

Kết Luận

Tôi thông cảm với Các Anh, là những người sinh ra, lớn lên, học hành, và trở thành Người Lính trong quân đội nhân dân. Tất cả những gì Các Anh học tập chính trị trường cũng như tại các đơn vị, cộng với những chính sách về các lãnh vực sinh hoạt xã hội, mà Các Anh theo dõi hằng ngày. Trôi dần theo thời gian, chính sách độc tài của cộng sản lan tỏa đến mọi ngóc ngách trong sinh hoạt xã hội, rồi biến thành một nếp trong đời sống thường ngày đối với người dân nói chung, với Các Anh nói riêng từ lúc nào không ai biết.
Nhưng với phương tiện truyền thông trên thế giới ngày nay, trong một chừng mực nào đó, Các Anh có cơ hội tiếp xúc với thế giới tự do ngang qua hệ thống internet – mà Các Anh gọi là trang mạng – như Các Anh đang đọc lá Thư này. Tôi tin là trong những lúc mà Các Anh sống thật với trái tim và khối óc của chính mình, nhất thiết Các Anh đã và đang có những suy nghĩ … để nhận ra bản chất cộng sản là độc tài và dối trá. Khi đã là bản chất, thì không bao giờ thay đổi, và cách duy nhất là phải triệt tiêu nó. Từ đó, Các Anh hãy chọn cho mình một hướng đi, cùng 94 triệu đồng bào hòa nhập vào Cộng Đồng thế giới tự do, để được ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh lịch sự, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.
Lịch sử Việt Nam sẽ lưu danh Các Anh và đồng bào triệt hạ chế độc cộng sản độc tài toàn trị, rồi trong ngoài cùng nhau khôi phục và ổn định cuộc sống của đồng bào, xây dựng và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị theo nguyện vọng người dân.
Tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản), có đoạn: “… Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị…. Sau đó, sự đàn áp thường ngày,sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai… những ký ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong tình trạng sợ hãi. Các quốc gia cộng sản đều trong qui luật này”.
Các Anh hãy nhớ lời của Đức Đạt Lại Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, rằng: “Đảng cộng sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà đảng cộng sản làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc lại cho họ.”
Và hãy nhớ, “Tự do không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.

Texas, tháng 9 năm 2017
Phạm Bá Hoa

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment