Phạm Bá Hoa: Thư Số 66 Gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

 

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” tôi viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy và lãnh đạo cấp Sư Đoàn, ngoại trừ lãnh đạo cấp Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Với Thư này, tôi tóm tắt một số sự kiện mà lần lượt các nhóm lãnh đạo Việt Cộng thực hiện trên dãi đất có dạng hình cong chữ S, sau khi khi nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam từ ngày 30/4/1975 đến nay. Đây là tôi giúp Các Anh có cơ hội nhìn lại chế độ cộng sản độc tài chuyên chính, đã cai trị từ 60 triệu đồng bào (năm 1975) đến nay (năm 2017) là 94 triệu đồng bào tàn bạo nghiệt ngã như thế nào, trong khi lãnh đạo Việt Cộng hèn hạ với lãnh đạo Trung Cộng, đến mức quy lụy để giao nước Việt và dân tộc Việt cho Trung Cộng vào năm 2020 tới đây, và chính Các Anh cùng gia đình Các Anh sẽ bị Trung Cộng đày đọa, như họ đã đày đọa người dân Tây Tạng từ năm 1950 đến nay! Các Anh hãy đọc bằng chính tâm hồn của Các Anh nhé.

Thứ nhất. Từ tháng 4/1975 đến tháng 8/1990

Dưới đây là chuỗi tội ác trong giai đoạn 1:
Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam ngày 30/4/1975, lãnh đạo Việt Cộng tịch thu toàn bộ tài sản quốc gia, lúc ấy trong ngân hàng quốc gia còn khối lượng tiền mặt rất lớn, và 16 tấn vàng khối. Lãnh đạo Việt Cộng tịch thu luôn các công ty vận tải đường biển, và công ty vận tải đường hàng không.
(1) Ngày 13-14-15/6/1975, không thông qua bất cứ cơ quan luật pháp nào khi bắt giam hơn 500.000 quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, và những người trong giới kinh doanh thương mãi, dịch vụ, đẩy vào hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực nam đến trại Cổng Trời cực bắc, trong mục đích đày đọa chúng tôi chết dần chết mòn mà họ gọi là “cải tạo”. Nhưng kinh tế Việt Nam suy sụp, buộc họ phải thả chúng tôi thì họ mới được thế giới tự do giúp đỡ mà tồn tại. Và hơn trăm người cuối cùng chúng tôi phải 17 năm sau mới ra khỏi trại, trong khi hơn 10.000 người chết trong trong đau thương đói khỗ, và thân xác bị chôn vùi không mồ mả, chẳng khói nhang! .
(2) Ngày 20/8/1975, Bộ Văn Hoá Thông Tin Việt Cộng ra lệnh mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra “tòa án nhân dân”. Chính sách này giống chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Đông cộng sản.
(3) Ngày 2/9/1975, lãnh đạo Việt Cộng bất thình lình đổi tiền theo trị giá “500 đồng Việt Nam Cộng Hòa chỉ đổi được 1 đồng bạc Việt Cộng, và mỗi gia đình chỉ được đổi 100.000 đồng VNCH để 200 đồng Việt Cộng”. Như vậy, 1 đồng Việt Cộng bằng 1 mỹ kim. Lúc ấy, gia đình nào còn dư tiền thì đem đốt bỏ, và nhiều người phẫn uất đến tự tử.
(4) Rồi ngày 4/9/1985, 10 đồng bạc Việt Cộng đang lưu hành, đổi được 1 đồng bạc Việt Cộng mới phát hành. Gia đình 2 người chỉ được đổi 100 đồng, gia đình 3 người trở lên thì người thứ 3 chỉ được đổi 50 đồng, và mỗi gia đình tối đa chỉ đổi được 500 đồng đang lưu hành, để nhận lại 50 đồng mới. Tương tự như lần trước, gia đình nào còn dư tiền thì đem đốt bỏ, và cũng nhiều người phẫn uất đến tự tử. Vậy là 1 đồng bạc Việt Cộng năm 1985 bằng 5.000 đồng VNCH năm 1975. Và ngày 22/3/2017, phải có 22.560 đồng bạc Việt Cộng mới đổi được 1 mỹ kim. Kinh tế Việt Cộng thảm hại như vậy đó.
(5) Tháng 6/1977, lãnh đạo Việt Cộng buộc tất cả nông dân có ruộng mà họ gọi là “vận động”, đem tập trung vào Hợp Tác Xã. Nông dân vẫn canh tác nhưng sản phẩm do Hợp Tác Xã quản trị, còn nông dân tùy theo lao động của mình bỏ ra mà nhận lại đồng lương bằng sản phẩm do Hợp Tác Xã quyết định. Và họ quản trị lao động công việc đồng áng chẳng khác những trại lính. Trần Bá Đệ, một sử gia miền bắc viết rằng: “Trong khi nông nghệp miền bắc đang trên con đường hợp tác hóa trên 15 năm chưa tìm ra lối thoát, đảng lại chủ trương đưa nông nghiệp miền nam đi tiếp con đường không lối thoát đó”. (trích quyển “Lịch sử hiện đại Việt Nam 1945-2006” của tiến sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành, xuất bản năm 2008, trang 643)
(6) Ngày 4/9/1977, theo Quyết Định số 111/CP do Phạm Hùng ký, tịch thu nhà cửa đất đai tài sản của đồng bào gốc Việt Nam Cộng Hòa, nhưng giấu kín đến ngày 11/9/1977 đồng loạt thực hiện tại 17 tỉnh từ Quảng Trị trở xuống, và thành phố Sài Gòn. Đợt 1, tịch thu toàn bộ tài sản của người Việt gốc Hoa, và bắt buộc những người bị cướp hết tài sản, phải đến sống tại các nơi mà Việt Cộng gọi là khu kinh tế mới. Và đợt 2 từ tháng 3/1978 đến năm 1990, tịch thu toàn bộ tài sản của các tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ, cơ sở kỹ nghệ nhẹ, và các công ty giao thông đường bộ, đường thủy. Cả 2 đợt, số người bị đẩy vào các khu kinh tế mới vào khoảng 600.000 người.
(7) Tháng 5/1978. Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị, toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam trở thành tài sản của lãnh đạo Việt Cộng, người dân chỉ được cấp phát – sau khi xét đơn xin – dưới tên gọi “người sử dụng đất”. Vậy là, sau khi cướp tài sản của 18.000.000 dân Việt Nam Cộng Hòa (cũ), lãnh đạo Việt Cộng cướp cả một phần đất trên mặt địa cầu.
image002(8) Tháng 11/1978, “Bộ Công An trách nhiệm thực hiện lệnh của lãnh đạo Việt Cộng, cho phép các Sở Công An tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần người Việt gốc Hoa, với 3 lượng vàng mỗi đầu người, nhưng thực tế thì Công An bắt mỗi đầu người ghi tên vượt biển phải nộp cho họ 7 lượng vàng. Lệnh này có mục đích vừa đẩy thành phần đó ra khỏi Việt Nam, vừa thu vàng bổ sung ngân sách. Từ năm 1978 đến năm 1982, Bộ Công An thu được 700.000 lượng vàng”. Bản tin này tôi nhận trên internet do một tổ chức bên Germany phổ biến. E-mail cũng cho biết, tin tức này tiết lộ từ Bộ Công An Việt Cộng. Vàng thì họ thu khi ghi danh, còn bao nhiêu người thoát khỏi Việt Nam thì không ai biết, chỉ có họ với Trời mới biết số vàng khổng lồ đó đi đâu.
Những sự kiện trên đây, cộng với chủ trương kỳ thị người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ bằng tất hình thức nào thỏa mãn lòng thù hận của họ, đồng thời đem lại lợi ích riêng tư cho họ, đã đẩy người dân đến mức sợ Việt Cộng hơn sợ chết, nên đã bồng bế nhau vượt lên sự chết để tìm sự sống, dù sự sống rất mong manh trên biển cả và trong những cánh rừng hoang vu rậm rạp!
Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc công bố vào năm 2000, thì từ năm 1975 đến năm 1995 (20 năm), đã có 839.200 người vượt biên vượt biển đến tị nạn chính trị tại 91 quốc gia tự do, và Liên Hiệp Quốc ước lượng khoảng 400.000 đến 500.000 người đã chết trên biển và trong rừng, trên đường chạy trốn cộng sản! Lại cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 2 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do.
Xin nhắc lại là trong 300 ngày từ sau Hiệp Định Đình Chiến 20/7/1954 có hiệu lực, đã có 868.672 người từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chạy vào nước Việt Nam Cộng Hòa dân chủ tự do tị nạn. Từ năm 1954 đến năm 1956, có thêm 102.861 người trốn khỏi phần đất cộng sản vào phần đất tự do Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi tị nạn. Cộng chung là 971.533 người. Đó là cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 1 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do.

Thứ hai. Tháng 9/1990 đến nay là tháng 4/2017

Ngày 4/9/1990, Tổng Bí Thư của Các Anh là ông Nguyễn Văn Linh, và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng – tức Thủ Tướng Việt Cộng – là ông Đỗ Mười lúc ấy, đã ký vào Biên Bản Thành Đô, với sự chứng kiến của Cố Vấn là ông Phạm Văn Đồng. Thành Đô là thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên của Trung Cộng. Tôi trích một đoạn, như sau:
“…. Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam, đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Hoa đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết từng bước êm thắm cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.
Đây là tội ác ghê tởm nhất trong dòng lịch sử oai hùng Việt Nam!
Tài liệu này do trang Wikileaks phổ biến trên internet vào giữa năm 2011. Ông Julian Assange – chủ trang Wikileaks – hiện vẫn đang ẩn trú trong Tòa Đại Sứ Ecuador tại Luân Đôn, thủ đô nước Anh. Lý do: Vì những tài liệu phổ biến đều là tài liệu mật của các quốc gia, nên các quốc gia liên quan truy tìm để bắt ông, vì cho rằng ông đã đánh cắp và phổ biến tài liệu mật của họ. Trang Wikileaks đã công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được. Trong số đó có 2.300 điện thư từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, và 800 điện thư từ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong số 3.100 điện thư này, có “biên bản Thành Đô”, và biên bản này có ghi trong hồi ký của cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là ông Trần Quang Cơ năm 2011, và “nhật ký ngoại sự” của Thủ Tướng Trung Cộng là ông Lý Bằng.

Dưới đây là chuỗi tội ác từ sau ngày 4/9/1990:
(1) Năm 1995, trong hội nghị tại Trung Cộng – dù Trung Cộng không tham gia – về thành lập Ủy Hội Sông MéKong, các nước tham dự đã thỏa thuận không phản ứng khi có bất cứ quốc gia nào khai thác dòng sông MéKong. Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là ông Nguyễn Mạnh Cầm, một trong bốn quốc gia hội viên trong hội nghị, không một lời giành quyền phản kháng của một quốc gia cuối nguồn, vì bất cứ một đập nào trên thuợng nguồn cũng ảnh hưởng đến sự sống của người Việt Nam nói chung, và gần 20.000.000 người dân vùng đồng bằng Cửu Long nói riêng. Nhớ lại Ủy Hội Sông Mê Kong trước kia cho đến năm 1975, qui định bất cứ thành viên nào cũng có quyền phản kháng. Vì vậy mà nay là năm 2017, đồng bằng sông Cửu Long đang chết dần, còn người dân thì vô cùng khốn khổ, vì nước không lên đồng ruộng nên không thể trồng được lúa, dòng nước Cửu Long cạn dần nên nước biển tràn sâu vào nội địa các tỉnh ven biển, từ Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, rồi Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, và vòng qua Rạch Giá. Cá nước ngọt cũng biến mất. Lãnh đạo Việt Cộng im lặng hoàn toàn, chừng như thảm họa này ở đâu ấy!
(2) Ngày 31/12/1999, lãnh đạo Việt Cộng ký Hiệp Ước Biên Giới với Trung Cộng, và mất 789 cây số vuông biên giới. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội có bài viết như một lời than, rằng: “… Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lãnh đạo Việt Nam thông báo trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng cộng sản vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đã thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”. Rồi ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? Vì sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa?”
Đến Bác sĩ Trần Đại Sỹ, lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC), vì vậy mà ông thường qua lại giữa Pháp với Trung Hoa. Ngày 9/1/2000 – tức 10 ngày sau ngày ký Hiệp Ước bán đất biên giới – ông được hai người bạn Trung Hoa đang là ký giả cho ông biết chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đã thuộc về Trung Cộng. Về mặt nhà nước, Bộ Ngoại Giao Việt Cộng đã lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên internet mà Các Anh gọi là mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lãnh thổ Việt Nam khởi từ Cây Số KHÔNG ở phía bắc”. Ông nói thêm: “Cây Số Không bây giờ lui vào nội địa Việt Nam 5 cây số”.
(3) Ngày 25/12/2000, sau nhiều lần thảo luận giữa hai quốc gia cộng sản, Chủ Tịch Trần Đức Lương sang Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và hai bên cùng ký Hiệp Ước. Theo đó, lãnh đạo Việt Cộng bán một phần Vịnh Bắc Việt cho lãnh đạo Trung Cộng với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và lãnh đạo Trung Cộng trả cho lãnh đạo Việt Cộng qua hình thức đầu tư. Các Anh hãy nghe ông Lý Bằng nói với ông Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân vào ngày hôm sau (26/12/2000), như sau: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua một phần Vịnh Bắc Việt là hợp lý”. Lý Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đã giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, … của Việt Nam”.
Vậy là, Trung Cộng đã chiếm đoạt 789 cây số vuông trên biên giới và 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt, mà Trung Cộng không tốn một mạng người, không tốn một viên đạn, không tốn một giọt xăng dầu, cũng không nhỏ một giọt mồ hôi, lãnh đạo của họ chỉ cần nhón 3 ngón tay, cầm cây viết, và ký vào bản Hiệp Ước là xong.
Với tư cách là “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”, có khi nào Các Anh cảm nhận sự giằng xé từ trong chiều sâu tâm hồn của những công dân đối với Tổ Quốc không? Nếu KHÔNG, tôi xin hỏi: “Vậy, Các Anh là người Việt Nam hay người Trung Hoa?” Nếu CÓ, tôi xin nhắc: “Vậy, Các Anh biết mình phải làm gì rồi chớ?”
(4) Năm 2006, lãnh đạo Việt Cộng cấp phép cho công ty Formosa khai thác khu kỹ nghệ Vũng Áng, với số 40.000 công nhân tại đây. Bà Nguyễn Thị Hải Vận, Cục Trưởng Cục Làm Việc thuộc Bộ Lao Động & Thương Binh Xã Hội nói rằng: “Ít nhất là có 10.000 công nhân Trung Cộng trong số 40.000 đó”. Ngày 6/4/2916, thảm họa bởi chất thải quá độc từ công ty Formosa nên cá biển chết trắng dọc ven biển khoảng 200 cây số, từ Hà Tình vào đến Đà Nẳng. Ngư dân sống dọc theo ven biển rất khốn khổ, vì ngư dân mà không còn biển sạch để ra khơi thì lấy gì mà sống! ?
Hai tuần sau đó, Tổng Bí Thư Việt Cộng Nguyễn Phú Trọng đến thăm công ty Formosa, và hết lời ca tụng những thành công của công ty này. Tuyệt nhiên, ông Trọng không đến thăm người dân khốn khổ, cũng không xem bãi biển đầy cá chết, thậm chí không một lời nào nói về thảm họa này! Vậy, ông Trọng này có phải là người Việt Nam hay không, mà lại vô cảm đến như vậy? Rôi tôi nhớ lại là giáo dục xã hội chủ nghĩa chỉ đào tạo những con người vô cảm để tuân phục đảng và nhà nước. Nếu nói theo Trung Tướng Việt Cộng Trần Độ thuở đương thời, thì: “Giáo dục làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc. Nó cũng làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo. Nó tạo ra, và nó bắt buộc người dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, và một tâm lý phải tuân phục, ngay cả lãnh đạo đảng lãnh đạo nhà nước cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm…”.
(5) Tháng 11/2007, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết Định số 167, về thăm dò và khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025. Và Tập Đoàn Than & Khoáng Sản quốc doanh Việt Nam dành hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác tại Nhơn Cơ tỉnh Đắc Nông, và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng. Dưới nét nhìn quân sự, Cao Nguyên này được xếp vào vùng trọng yếu bậc nhất, được ví như Mái Nhà Của Tổ Quốc. Khi nhiều vị lão thành từng là lãnh đạo đảng với nhà nước, cùng với các tổ chức xã hội dân sự nêu kiến nghị dừng lại vì nguy cơ quốc phòng, thì Nguyễn Tấn Dũng nói rằng: “Đó là chủ trương đúng đắn của đảng và nhà nước”.
(6) Năm 2009, Trung Cộng tự công bố bản đồ Biển Đông với hình “đường lưỡi bò” và giành quyền làm chủ đến 80% diện tích Biển Đông. Philipines kiện, nhưng Việt Nam không kiện. Cùng năm 2009, Bộ Công Thương công bố 41 dự án do Trung Cộng trúng thầu trên toàn quốc. Vẫn trong năm 2009, lãnh đạo Việt Cộng cho phép Trung Cộng thành lập Viện Khổng Tử tại Việt Nam. Đây là chiến lược mềm mà Trung Cộng sử dụng để đưa văn hóa của họ xâm nhập Việt Nam, trong khi Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới dẹp bỏ viện này, hoặc không cho thành lập.
(7) Đến năm 2010, Trung Tướng cộng sản Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, kiến nghị hãy hủy các hợp đồng cho Trung Cộng thuê hơn 300.00 mẫu tây đất rừng đầu nguồn, vì an ninh quốc gia. Nhưng lãnh đạo im lặng.
(8) Năm 2011, chánh thức thành lập hệ thống nhiệt điện than trên toàn quốc. Khi thành lập thì có 19 nhà máy hoạt động, dự trù đến năm 2020 có 48 nhà máy, và năm 2030 sẽ có 80 nhà máy. Lúc ấy, chất thải độc hại từ tro xỉ bao phủ bầu trời Việt Nam, cũng là lúc bệnh nhân ung thư càng gia tăng nhanh chóng. Ngày 6/10/2016, trong hội thảo về bệnh ung thư tại Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, Chủ Tịch Hội Ung Thư Việt Nam thừa nhận: “Trong khi trên thế giới cứ 5 năm lại công bố kết quả điều tra về ung thư một lần, thì Việt Nam ta gần 10 năm qua vẫn chưa có điều tra mới. Số liệu điều tra về ung thư ở Việt Nam rất cũ (đến năm 2007) và rất tản mạn, chừng như không muốn nêu ra sự thật. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 94.000 người chết vì ung thư, chia đều cho 365 ngày, thì mỗi ngày có 260 bệnh nhân chết …”
image006(9) Cùng năm 2011, đài truyền hình VTV tại Hà Nội, trong bản tin thời sự đài truyền hình Việt Nam VTV lúc 7 giờ tối ngày 14/10/2011, khi loan tin chuyến thăm Trung Cộng của ông Nguyễn Phú Trọng, có hình cờ Trung Cộng có 6 ngôi sao, gồm 1 sao lớn và 5 sao nhỏ. Hiện nay, cờ Trung Cộng có 1 ngôi sao lớn là dân tộc Hán, và 4 ngôi sao nhỏ là các dân tộc Hồi, Mông, Tạng, và Mãn. (Hình học sinh cầm cờ 6 ngôi sao đón ông Tập Cận Bình)
(10) Năm 2014, Trung Cộng xây dựng phi trường trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.
(11) Cùng năm 2014, bắt đầu bồi đấp 7 Đá Ngầm đã chiếm của VN từ năm 1988.
(12) Năm 2015, hoàn tất 3 phi trường với phi đạo dài 3.000 thước trên Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn, và Đá Xu Bi. (tôi sử dụng tên nguyên gốc trên bản đồ)
(13) Năm 2016, ngày 12 tháng 7, tòa án trọng tài quốc tế công bố phán quyết đo đơn kiện của Philipines từ năm 2011. Theo đó thì tòa án trọng tài quốc tế bác bỏ “đường lưỡi bò” mà Trung Cộng tự vẽ ra và giành chủ quyền hơn 80% trên Biển Đông, và xác định chủ quyền cực nam của Trung Cộng là đảo Hải Nam mà thôi. Từ đó, Trung Cộng nhanh chóng hoàn tất các cơ sở chứa hỏa tiễn, và các cơ sở phục vụ quân sự trên các Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, và Đá Châu Viên.
(14) Cùng năm 2016, bắt đầu cấp Chứng Minh Nhân Dân 12 số. Ngày 30/1/2016, dân số Việt Nam là 94.026.107 người, trong khi thẻ CMND với 9 số đã sử dụng tại Việt Nam từ lâu nay, và 9 con số này vẫn sử dụng đến khi dân số lên đến 999.999.999 người mới cần thêm 3 con số nữa. Nhưng liệu bao nhiêu thế kỷ nữa thì dân số Việt Nam mới lên đến con số tỷ người, mà lãnh đạo Việt Cộng lại sử dụng 12 con số ngay từ giữa năm 2015? Tướng Công An Việt Cộng Trần Vệ, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Cảnh Sát quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội, cho biết: “Mỗi công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên đều được cấp CMND, với một số CMND duy nhất cho người đó, không cho phép một người có nhiều CMND, hoặc nhiều người có số CMND giống nhau. Giai đoạn 1 từ giữa năm 2015 và kéo dài trong 5 năm, sẽ cấp thẻ Chứng Minh Nhân Dân cho 24.000.000 người”.
(15) Thàng 12/2016, TBT Việt Cộng Nguyễn Phú Trọng sang thăm Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình, từ ngày 12 đến 15/1/2017. Ngay chiều 12/1/2017, đã ký 15 căn kiện soạn sẳn. Rất có thể khi thấy ứng viên Tổng Thống Donald Trump nhắm vào Trung Cộng nếu ông đắc cử, thì ông Tập Cận Bình gọi ông Nguyễn Phú Trọng sang ký các văn kiện này, để cán bộ Trung Cộng sang làm việc chung với cán bộ Việt Cộng, như thể cùng một quốc gia?
(a). “Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa lãnh đạo Việt Cộng với lãnh đạo Trung Cộng”. Sẽ không bao giờ có chuyện “hợp tác song phương”, mà phải hiểu là “chỉ có hợp tác một chiều”. Liệu có phải Trung Cộng chuẩn bị nhân sự cho cuộc sáp nhập êm thắm không?.
(b). “Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh Tế trung ương Việt Cộng với Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Vụ Viện Trung Cộng”. Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của lãnh đạo Việt Cộng, sẽ là một phần trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung Cộng. Liệu có phải những kế hoạch kinh tế của Việt Cộng từng bước đi vào kế hoạch của Trung Cộng chăng?
(c). ”Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”. Khi một dự án nằm trong lãnh thổ Việt Nam được đưa vào “văn kiện hợp tác”, liệu có phải Trung Cộng đang biến lãnh thổ Việt Nam từng bước trở thành lãnh thổ Trung Cộng chăng?.
(d). “Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng với Bộ Quốc Phòng Trung Cộng đến năm 2025”. Phải chăng, hai Bộ Quốc Phòng chỉ là một, trên một lãnh thổ?
(e). “Hiệp định khung hợp tác cửa biên giới đất liền giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng và Tổng Cục Hải Quan Trung Cộng”. Quan thuế cũng theo kế hoạch chung do Trung Cộng lãnh đạo?
(f). “Kế hoạch hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Hoa giai đoạn 2017-2019”. Liệu đây có phải là “tập dượt” cho những bước để người Việt Nam và người Tàu quen dần với văn hóa Tàu ngang ngược, thô lổ sơ khai, dần theo thời gian sáp nhập vào nước Tàu chăng?
(g). “Thỏa thuận hợp tác giữa nhà xuất bản Sự Thật của Việt Cộng với nhà xuất bản Nhân Dân của Trung Cộng giai đoạn 2017-2021”. Đây là một nâng cấp để nhà xuất bản Sự Thật tại Hà nội sẽ xuất bản theo lệnh của Bắc Kinh.
(h). “Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam – sức lôi cuốn của Trung Hoa” giữa đài truyền hình Việt Cộng và đài truyền hình Trung Cộng. Sự hợp tác được hiểu là một chiều như sự hợp tác của nhà xuất bản vậy.
(i). “Thỏa thuận hợp tác giữa Đài Phát Thanh trung ương của Việt Cộng và Đài Phát Thanh trung ương của Trung Cộng”. Sự hợp tác về phát thanh, cũng trong trường hợp hợp tác về truyền hình..
(16). Theo lệnh Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, từ năm học 2017-2018, học sinh tiểu học và trung học phải học tiếng Trung Hoa. Đồng thời khuyến khích sinh viên Cao Đẳng và đại học chọn ngôn ngữ Trung Hoa là ngoại ngữ chánh.
Như vậy, theo Các Anh, liệu chuỗi tội ác mà tôi vừa tóm lược trên đây – dĩ nhiên là còn nhiều nữa – có phải là trong kế hoạch từng bước đưa Việt Nam sáp nhập vào nước Tàu không? Chữ “từng bước” không phải do tôi nghĩ ra, mà là tôi trích nguyên văn đoạn cuối trong Biên Bản Thành Đô ngày 4/9/1990, là: “… Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết từng bước êm thắm cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.

* * *

Ngày 4/3/2017, bài viết “Trên Dường Hán Hóa” của Ký Thiệt, như sau: “Theo tài liệu tối mật về Hội Nghị Thành Đô năm 1990, chỉ còn 3 năm nữa thì Việt Nam trở thành 1 tỉnh nhỏ của Trung Cộng. Từ khi những bí mật của Thành Đô bị phơi bày ra ánh sáng, thì mọi người Việt Nam đều kinh hãi và bàn tán rất nhiều trong dân gian, về việc lãnh đạo Việt Cộng lén lút ký tên giao nước Việt Nam cho Trung Cộng, mà miệng của họ vẫn chối lia lịa”. Nhiều sử gia trong nước cũng như tại hải ngoại nhận định rằng: “Tội bán nước của Việt Cộng là sự thật ít nhất cũng đến 90%”. Quí vị hãy kiểm lại những sự kiện trong thực tế 30 năm qua, sẽ nhận ra điều này. Nếu 94 triệu dân trong nước không đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước, thì năm 2020, người dân sẽ ra sao?
Và ngày 6/3/2017 với bài viết “Khi Trở Thành Khu Tự Trị Của Trung Cộng” của Giáo sư Trần Đình Sử, và là nhà giáo nhân dân, thì: “Trước hết, tên nước Việt Nam bị xóa mất. Tiếp theo là dân Tàu tràn sang nước ta. Chữ Hán sẽ là ngôn ngữ chánh, văn hóa Việt, tiếng Việt, sẽ biến mất theo thời gian. Người Việt sẽ bị di dời tản mác trên lãnh thổ mênh mông của Tàu, và dân số sẽ giảm dần, dù dãi đất hình cong chữ S vẫn còn đó!”

Kết luận

Với tôi, bản chất gian trá của lãnh đạo Việt Cộng giữa lời nói với hành động trong giai đoạn lịch sử từ năm 1954, đến nay là năm 2017, như sau:
Nói giải phóng, nhưng họ thật sự là xâm lăng.
Nói thống nhất, nhưng họ đã nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế.
Nói “nhân dân là chủ, cán bộ là đầy tớ”, nhưng thật ra nhân dân chỉ là một phương tiện lót đường cho họ nắm quyền lực mà thâu tóm tài sản.
Nói độc lập, nhưng họ quy lụy Trung Cộng.
Nói tự do, nhưng họ là độc tài.
Nói hạnh phúc, nhưng toàn dân như bị họ nhốt trong cái lồng.
Nói tự do ngôn luận, nhưng mọi người bị họ bịt mắt bịt tai bịt miệng.
Nói giáo dục khoa học, nhưng chỉ đào tạo những thế hệ thần dân để tuân lệnh đảng, và chết cho đảng. Mở miệng ra là khoa học kỹ thuật, nhưng sử dụng côn đồ và luật pháp rừng rú đàn áp người dân yêu nước chống Tàu lấn chiếm biển đảo.
Nói từ khi có đảng đến nay, không còn người bóc lột người. Đúng vậy, không còn người bóc lột người, mà 60 năm qua chỉ có đảng bóc lột người dân một cách tàn tệ và toàn diện thôi. Không phải chỉ dân bị bóc lột, mà tổ quốc cũng bị bóc lột, đến nỗi da đầu của tổ quốc lỡ loét nhăn nhúm vì Việt Cộng tặng 789 cây số vuông dọc biên giới cho Tàu, bên phải mãng da đầu cũng bị Việt Cộng cắt đi 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt cho Tàu, và toàn thân Mẹ Việt Nam thì loang lỗ, bởi Việt Cộng cho dân Trung Cộng lập những làng mạc riêng biệt trên khắp lãnh thổ Việt Nam.
Và lãnh đạo Các Anh nói đến quê hương dân tộc, nhưng họ nhân danh lãnh đạo để đứng trên đầu Tổ Quốc với Nhân Dân.
Tôi lại mời đọc tiếp hai chữ độc tài trong xã hội xã hội chủ nghĩa, m à tôi muốn giúp Các Anh nhận rõ hơn nữa về lãnh đạo Việt Cộng:
Độc tài chính trị, duy nhất chỉ có đảng cộng sản lãnh đạo, để chỉ phục vụ quyền lợi riêng tư của họ, mà không hề phục vụ nguyện vọng người dân.
Độc tài trong cầm quyền, sử dụng giáo dục và công an, tạo nên một xã hội theo mục tiêu của đảng, rồi đảng với nhà nước cùng nhau thao túng xã hội.
Độc tài trong Quốc Hội, vì gần 90% là những cấp lãnh đạo từ Bộ Chính Trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước đều là Đại Biểu, nên những luật ban hành hoàn toàn theo lệnh đảng để phục vụ đảng với nhà nước.
Độc tài trong truyền thông, nên không có tiếng nói của sự thật từ người dân. Hơn thế nữa, bất cứ ai suy nghĩ khác hay hành động khác với đảng và nhà nước, sẽ bị ghép tội và bị bắt, vì vậy mà mọi người trên toàn cõi Việt Nam không hề biết sự thật nằm ở đâu, vì hệ thống truyền thông của đảng suốt ngày đêm phun ra toàn dối trá, hoặc sai lạc sự thật.
Độc tài trong luật pháp, vì tất cả viên chức từ cơ quan điều tra đến viên chức trong phiên tòa đều là đảng viên cộng sản, nên bản án được đảng quyết định trước đối với những “bị can” mà đảng thấy là bất lợi cho họ. Dù vậy, năm 2014 Bộ Chính Trị ban hành Chỉ Thị 25 loại tối mật. Theo đó thì Bộ Công An muốn điều tra bất cứ cán bộ nào, phải trình lên Bộ Chính Trị quyết định.
Độc tài sở hữu đất đai, vì chỉ có đảng cộng sản là chủ nhân toàn bộ đất đai, vì vậy mà lãnh đạo các cấp toàn quyền cướp đoạt tài sản của dân liên quan đến đất đai vườn ruộng.
Độc tài kinh tế tài chánh, vì nền tảng trong lãnh vực này toàn là quốc doanh dưới tên gọi “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Do không có cạnh tranh nên không thể phát triển thích ứng với nền kinh tế thị trường thế giới tự do.
Và độc tài dẫn đến bóc lột. Đảng nói rằng, từ khi có đảng đến nay không còn cái cảnh người bóc lột người. Đúng vậy, vì 60 năm qua chỉ có đảng bóc lột người dân một cách tàn tệ và toàn diện mà thôi. Không phải chỉ dân bị bóc lột, mà tổ quốc cũng bị bóc lột, đến nỗi da đầu của tổ quốc lỡ loét nhăn nhúm vì Việt Cộng tặng 789 cây số vuông dọc biên giới cho Tàu, bên vai trái của tổ quốc cũng bị Việt Cộng xén một mảng rộng 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt cho Tàu, và toàn thân Mẹ Việt Nam thì loang lỗ, bởi Việt Cộng cho dân Trung Cộng lập những làng mạc riêng biệt trên khắp lãnh thổ Việt Nam.
Sau cùng là vài nhân vật nhận định về cộng sản:
Cựu Tổng Bí Thư Liên Xô Gorbachev đã từng nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”
Tổng thống Nga Boris Yeltsin, lúc đương thời đã nói: “Cộng sản là không thể nào sửa chữa, mà phải đào thải nó.”
Giáo Sư Trần Phương, đương nhiệm Chủ Tịch Hội Khoa Học & Kinh Tế Việt Nam, chủ tọa hội thảo gòp ý dự thảo các văn kiện Đại Hội XI của đảng cộng sản Việt Nam. Sau khi diễn giải từng đoạn, ông nhấn mạnh: (1) Chúng ta tự lừa dối chúng ta, và chúng ta lừa dối người khác. Chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, vì nó chỉ là ảo tưởng.
Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét “căn bệnh giả dối là nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất”, đang hoành hành xã hội Việt Nam, khiến “người ta thật sự không còn tin vào bất cứ điều gì nữa. Thậm chí, lãnh đạo đảng với nhà nước đều là người vô cảm”.
Tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản), có đoạn: “… Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị…. Sau đó, sự đàn áp thường ngày, sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai… những ký ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong tình trạng sợ hãi. Các quốc gia cộng sản đều trong qui luật này”.
Đức Đạt Lại Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng: “Người cộng sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc lại cho họ”.
Mới nhất là lời của Nhật Hoàng. Vua và Hoàng Hậu Nhật Bản thăm Việt Nam từ ngày 28/2 đến 5/3/2017. Trong những ngày thăm Việt Nam, Nhật Hoàng đến thăm dài tưởng niệm Cụ Phan Bội Châu, một nhân vật Việt Nam mà Nhật Hoàng rất trân trọng. Trước khi rời Việt Nam, Nhật Hoàng nhắn nhũ rằng: “Người Việt Nam hãy nhìn lại lịch sử, vì lịch sử rất cần cho hôm nay, cũng là chuẩn bị cho ngày mai”.
Các Anh đừng bao giờ quên rằng, “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Và Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.

Texas, tháng 4 năm 2017
Phạm Bá Hoa

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment