Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/single.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/header.php on line 2
Người Việt Boston — VATV Ngày 23/7/2014: Ls Tạ Văn Tài Và Pháp Lý Của Biển Đảo Việt Nam

VATV Ngày 23/7/2014: Ls Tạ Văn Tài Và Pháp Lý Của Biển Đảo Việt Nam

 


Luật sư Tạ Văn Tài và Giáo Sư Trần Văn Thành thảo luận về “Pháp lý của Biển Đảo Việt Nam” trong chương trình VATV tại Boston vào lúc 7 giờ tối thứ Tư ngày 23/7/2014 trên hệ thống truyền hình BNN đài số 9/Comcast hoặc 15/RCN đồng thời trên www.bnntv.org. Mời xem:

* * *

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HÒANG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ TỂ Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH, VÀ TRIỂN VỌNG GỈAI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC, BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN.

Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại Học Luật Harvard

Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả mọi đảo, đá – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ tể (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea, UNCLOS). Viết cho Hội thảo ở đây, thì chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn, và chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vũng chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế.

I. Căn bản về mặt sự kiện lịch sử và mặt pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ tể trong các vùng biển bao quanh chúng.

A. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay tục lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối.
Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá/reef, rock, chứ không phải là đảo/island, theo định nghĩa trong UNCLOS) thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình (vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế).
Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngòai là Trung quốc, chiếm đọat bằng võ lực đá Gac Ma từ tay Việt Nam năm 1988, giết 88 hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Phi Luật Tân, đuổi dân chài Phi và tầu chiến Phi ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Phi liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi sảy ra. Riêng trưòng hợp Việt Nam, thì có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hòang sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch) – hải trình này thực hiện bởi Đội Hòang Sa (lập vào thời Chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635-1648); và cũng ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên—hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử Việt Nam, như cuốn Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776, của Lê Quí Đôn, hay Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, 1686, nhưng ngòai ra có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung quốc (thí dụ như Hải Ngọai Ký Sự, 1696). Đến thế kỷ 19 thời Nhà Nguyễn, tài liệu lịch sử cho thấy các cuộc hải trình của nhà nước nói trên vẫn tiếp tục, từ 1803 đến năm khởi đầu Pháp thuộc 1884, với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa Pháp, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất, 29, hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung quốc chiếm nămn 1988 và các năm sau. So sánh với nước khác thì Trung quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ đường chín đọan thâu tóm 80% Biển Đông, với Hòang Sa và Trường Sa gồm trong đó. Trung quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc chiếm đảo Itu-Aba năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tấn công tiêu diệt hải quân Việt Nam năm 1988 tại Gac Ma. Trong khi Trung quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển quốc nội ngày 1/1/2013 ghi nhận là danh sách các đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau—chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác.
Trong vùng Hòang Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung quốc, vào tháng 5, 2014, đặt giàn khoan dầu khí HY981 ở vùng biển giữa Hòang Sa và bờ biển Miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô dầu 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung quốc tuyên bố một câu gọn, là vị trí đặt giàn khoan “là hòan tòan trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung quốc”, hàm ý là ở trong vùng Đặc quyền Kinh tế của họ tính từ Hòang Sa mà họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng Hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hòang Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hỏang gây ra do gìan khoan HY981 chỉ là biến cố gần đây nhất.
Những sự kiện lịch sử về việc Việt nam khám phá và chiếm cứ Hòang Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ Biên Tạp Lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung quốc không đả động gì tới Hòang Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp sọan, mà một bản sao của J.B.Bourguignon mới được Thủ Tướng Đức Merkel tặng Chủ tịch Nước Tập Cẩn Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập qủan lý cả Hòang Sa lẫn Trường Sa. Nhật Ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây Phuơng cũng nhắc lại như vậy. Bài này chỉ có đủ chỗ để nói sơ qua các điểm chính.
Có hai nhóm đảo/đá trong Hòang Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (Lưỡi Liềm),trong đó có hòn Hòang Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung quốc chiếm, vì người Tàu đọat bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng Hòa trong sự chống cự của hải quân Việt Nam thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thưà kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng Hòa Xã Chủ Nghĩa Việt Nam, mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay. Về nhóm các hòn đá phía đông của Hòang Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có hòn Woody (Pháp gọi là Boisée), thì vào năm 1909 khi Pháp lơ là, Tổng Đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt nam không vững lắm. Nhưng lập trường gỉai thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đòan khoa học tới Amphitrite, kể cá ở Boisée, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội Trung Hoa Dân quốc chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui.Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về Hậu Chiến, Liên Sô đưa ra đề nghị để Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ Tướng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hòang Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp Định Geneva 1954), thì ngọai trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt nam lần nữa, khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm Woody (Phú Lâm) bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hòang Sa.
Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái Công hàm hay Công thư ngọai giao năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc Việt Nam) gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai vào dịp Trung quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý . Sau nhiều lần viện dẫn Công Thư Phạm Văn Đồng như một lời nhuợng lãnh thổ Hòang Sa Trường Sa, thì Trung quốc vào năm 2014 lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HY981 trong vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung hai văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Đồng viết cho Ông Chu: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc.”
Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hòang Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp Định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho Việt Nam Cộng hòa ở phiá nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành sử chủ quyền Hoàng Sa, Trường sa là thuộc thẩm quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hòang Sa năm 1974 giữa hải quân Việt Nam Cộng hòa — lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo — và hải quân Trung quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Đồng của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc Việt Nam Cộng hòa. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý mà Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố cho Trung quốc.
Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Viêt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa, là đúng với luật quốc tế, và theo đó Việt Nam Cộng hòa là quốc gia hành sử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25-11-2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung quốc dùng võ lực chiếm nốt Hòang Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Saigon, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp.”
Chiếu điều khỏan quy định về sự hiện hữu của một quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 thâu tóm luật quốc tế truyền thống hay tục lệ đã có nhiều thế kỷ, thì Việt Nam Cộng hòa là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c ) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do dó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác,nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Sô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc miễn ngọai giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khỏan ký thác trong các ngân hàng ở Liên Sô. Thế mà Việt Nam Cộng hòa đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Sô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất, sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và Việt Nam Cộng hòa không có dưới ánh mặt trời; nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp Định mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận Việt Nam Cộng hòa, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp Định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngọai giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Đồng có quyền ban bố cho Trung quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam Cộng hòa? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian hai mươi năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại — tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất.
Điểm thứ hai là Công thư 1958 của ông Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”, không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức và đan Mạch/Hòa Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngòai ra, Tòa án Công Lý Quốc tế , trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France”, 1974 I.C.J.253, xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử là khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải gỉai thích chăt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành của mình, thí cần giải thích chặt chẽ… Chi cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác gỉa về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “trong bốn góc của trang giấy” – “within the four corners of the page”), văn bản chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác, nhưng văn bản cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt văn bản đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946, theo đó, vai trò thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền chủ tịch nước, phó chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, đọan a và h), rồi lại phải có quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Đồng không thể hành sử quyền qua mặt chủ tịch nước và quốc hội được. Tức là Công thư 1958 của ông Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Mỹ hỗ trợ với tầu và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mả Tổ chỉ cách lục địa vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan.
Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích Công thư 1958 một cách chủ quan, như Trung quốc đã làm, để thủ lợi cho mình.
Còn vài luận cứ khác của Trung quốc cũng nên bàn để bác bỏ.
Trung quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân Nhật Báo, số ngày 6-8-1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đọan ghi hai chữ Xi Sha và Nan Sha (Tây Sa và Nam Sa), số ngày 9-5-1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao Ưng Văn Khiêm. Rồi nói Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung quốc, năm 1956, chiếm hòn Woody (Boisée) ở khu vực Amphitrite phía đông quần đảo , và năm 1974, chiếm hòn Pattle/Hòang Sa ở khu vực Cresent phía tây. Sau hết, Việt Nam in bản đồ với tên Xi Sha (China), Nan Sha (China), và cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: Chuỗi đảo từ Nansha và Xisha, tới Hải Nam, Đài Loan, Penghu và Zhoushan, có hình như cái cung và tạo thành Bức Trường Thành bảo vệ lục địa Trung quốc”.
Việt Nam có thể phản biện là ngay Công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung quốc để nịnh Trung quốc ở thời điểm Việt Nam tuỳ thuộc viện trợ Trung quốc, những lời không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi mất các hòn ở Hòang Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay Việt Nam Cộng hòa, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo, và Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vội vã chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung quốc để bảo lưu chủ quyền về các hòn đá, đảo đã mất. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung quốc (có gửi cố vấn làm việc trong cục bản đồ), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung quốc in hình đường 9 Đọan vào thông hành của Trung quốc cấp cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung quốc trên 80% Biển Nam Hải. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng Thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất, mà làm sao Việt Nam nhượng Đaì Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung quốc với việc in sách gíao khoa?
Sau khi giải quyết khúc mắc chính là Công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn tòan cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954-1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hòang Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay Việt Nam Cộng hòa, do Hiệp Định Geneva 1954 trao phó. Hiệp Định này có một số cường quốc ký, cả Trung quốc, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng ký do ông Đồng đại diện. Hành sử quyền do quốc tế giao, Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hòang Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa đối với Hòang Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19-1-1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung quốc tới xâm chiếm Hòang Sa, sau khi Trung quốc thông báo chủ quyền ngày 12-1, và VNCH phản đối ngày 16-1 với lời yêu Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận đánh, VNCH ngày 20-1-1974 lại yêu cầu Hội Đồng Bảo An LHQ họp khẩn. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung quốc là tại Hội nghị Luật Biển của LHQ ngày 28-6-1974 ở Caracas.
Sau khi thống nhất đất nước, Công Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung quốc. Ngày 24-9-1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ Tướng Trung quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung quốc tuyên bố sát nhập các quần đảo vào Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối hợp đồng Trung quốc ký với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gac Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung quốc tàn sát 88 hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ gìan khoan 2014, Việt Nam đem tầu hải giám bao quanh nó, hô các khẩu hiệu chủ quyền, cho dân chài tiếp tục đánh cá gần đó, và cứ xông vào vòng vây các tầu Trung quốc quanh gìan khoan, ở một khỏang cách an tòan, hầu tránh xung đột võ trang, để xác lập chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung quốc hung hãn nhiều ,dùng võ lực như đâm tầu Việt Nam và dùng vòi nước tàn phá tầu Việt nam. Các lời phản đối và hành động trên làm cho chủ quyền Việt Nam được bảo lưu, không bị soi mòn.
B. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa, South China Sea, West Philippines Sea) là nơi Trung quốc gây ra tranh chấp vì Trung quốc vẽ ra Đường 9 Đọan, còn gọi là Đường Lưỡi Bò, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện gỉải trong các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến vòng cung lịch sử (historical circumference), khi thì nói đến các vùng biển lân cận (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hòang Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như nói trên.
Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS) vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyền và quyền chủ tể (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thuỷ triều thấp, và trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở Thềm Lục Địa (Continental Shelf, CS) kéo từ đường cơ sở ra mép lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ tể về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong cột nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô-sinh như dầu khí và khóang chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và dây cables. Nhưng các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong Vúng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục Địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”.
Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng EEZ hay vùng biển cả (high sea) ở ngòai xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách Đường 9 Đọan vô căn cứ của Trung quốc (tại hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston năm 2010, dại điện Trung quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là ‘vào trong vùng Đường 9 Đoạn, quí vị phải tuân theo luật Trung quốc’). Đường 9 Đọan này hòan tòan trái với UNCLOS (điều 89 nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô gía trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi). Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp dưới thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, nó bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, nó mới được Trung quốc nạp vào hồ sơ xin thềm lục địa nới rộng gửi Ủy hội Liên Hiệp Quốc về Ấn định Biên giới Thềm Lục Địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf); nhưng lập tức, nó bị Việt Nam, Phi Luật Tân và Indonêxia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung quốc đưa ra để biện minh cho Đường 9 Đoạn,xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các dân tộc Đông Nam Á, như các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hồ vào thế kỷ 15, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Mã Lai, Indonêxia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Phi Luật Tân, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam — có trình bày trong hồ sơ Phi Luật Tân nạp Tòa án Trọng tài Luât Biển.
Các viên chức và học gỉa Trung quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong Đường 9 Đọan trong các hội nghị quốc tế.

II. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ sảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa gỉai (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán.

Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung quốc, trong tháng 5, 6 và 7,2014, đặt giàn khoan HY981 trong vùng biển giữa đảo Tri Tôn trong quần đảo Hòang Sa và bờ biển Miền Trung Việt. Trong khi Trung quốc nói là gìan khoan ở trong vùng biển của Tri Tôn hay đảo Hải Nam thì Việt Nam nói là nó đặt trong Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa của Việt Nam.
Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mỹ, Úc, Nhật, Ấn v.v. thì đến ngày 15.7.2014, Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách.
Phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan/định chế/và thủ tục giải quyết tranh chấp.
A. Việc Trung quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ tể của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới cuả Công Ước Luật Biển 1982 dành cho các quốc gia, nhất là quốc gia cận duyên quanh Biển Đông.
Bộ ngọai giao Trung quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn Đường 9 Đọan đã bị mọi nước chất vấn: giàn khoan “đặt hòan tòan trong vùng nước của Hòang Sa của Trung quốc” (“placed completely within the water of China’s Paracels”). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên: Vế (i) Hòang Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ nạp thêm hồ sơ cho Tổng Thư Ký LHQ Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, Công thư ông Đồng, và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa Án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hoà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của Tòa. Vế (ìi) của Trung quốc : vị trí giàn khoan ở trong Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục Địa tính từ Hòang Sa đang thuộc quyền Trung quốc.Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi có sự dùng võ lực của Trung quốc, suốt từ 1956 và 1974 đến nay, và Trung quốc không có quyền về Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm Lục Địa tính từ Hoàng Sa. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết — giả thiết mà thôi – là Trung quốc có chủ quyền trên Hòang Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa Án Trọng Tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bó buộc về gỉai thích và áp dụng Công Ước, mà ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn, như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm (Boisée hay Woody hay Yongxing) tại Hòang Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của điều 121 UNCLOS, là có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có coca cola thay nước như một học giả Mã lai nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo điều 121 đọan 3. Và nếu là đá thì không có Vùng Đặc quyến Kinh Tế và Thếm Lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (121 đọan 3 vừa nói). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, Vùng Tiếp Giáp (Contiguous Zone), Vùng Đặc quyền Kinh tế, Thềm Lục Địa, y như đất liền lục địa vậy. Trước tòa án trọng tài luật biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bó buộc (compulsory procedure) để kéo Trung quốc ra tòa mà xin tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng Công Ước Luật Biển (điều 286 và 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của Đội Hòang Sa đời vua chúa hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hòang Sa được, và cũng không đòi Vùng Đặc quyền Kinh tế hay Thềm Lục Địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan đã xâm phạm vào Vùng Đặc qưyền Kinh tế và Thềm Lục Địa của Việt Nam.
Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thỉên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm—điều 60 UNCLOS), không thể đòi Vùng Đặc quyền Kinh Tế hay Thềm Lục Địa xuất phát từ các hòn đá; và Đường 9 Đọan càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ diểm xuất phát.
Nhưng Trung quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hòang Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra Vùng Đặc quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa của họ là 200 hải lý, và đo đó gìan khoan nằm trong khỏang 180 hải lý của các vùng biển đó cuả Trung quốc, và dù giàn khoan cách đảo Ly Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự trùng lấp giữa hai Vùng Biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã sảy ra nhiều nơi trên thế giới; và chiếu Công Ước, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một gỉai pháp công bình (equitable solution) trưóc khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng đường trung tuyến (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là Việt Nam có vụ kiện Trung quốc khó hơn vụ Phi Luật Tân kiện Trung quốc (dù Phi kiên nhẫn thương nghị với họ 17 năm, Phi cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung quốc hơn ngàn hải lý, ở trong Thềm Lục Địa của Phi, chứ không có vùng trùng lấp nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, thì không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo dó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung quôc, mà không được trả lời, thì Trung quốc đã vi phạm Công Ước như nói dưới đây.
Tranh chấp hay điểm thứ hai để Việt Nam kiện trước Tòa án Luật Biển là Trung quốc đã vi phạm điều 74 và 83 của Công Ước là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp bạo đông như phun vòi nước hay đâm tầu để gây thiệt hạấ vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thới, theo các điều khỏan đó.
Tranh chấp thứ 3 mà Trung quốc gây ra, và điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung quốc, với tư cách quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm điều 297 đọan 1a Công Ước – bằng cách gửi một số lớn tầu hải giám, và cả tầu quân sự, và máy bay, tuần hành ở vùng biển quanh gìan khoan, không cho các tầu của các nước khác tới gần, không cho tầu hải giám Việt Nam thi hành luật hay tầu dân chài Việt Nam tới.
Tranh chấp thứ 4 Trung quốc gây ra, và là điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện, là vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là dùng bạo lực như đâm chìm tầu dân chài (vụ ngày 26-5-2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyển thống của họ, lấy ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá, như vậy là tước đi quyền kiếm sống của họ; vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì có thể viện dẫn Hiệp Định Trung-Việt về Nghề Cá ở Vịnh này, nó buộc 2 bên phải gỉai quyết hòa bình; nếu vi phạm xảy ra ở ngoài Vịnh, thì chính phủ có thể kiện Trung quốc hay uỷ quyền cho dân chài kiện Trung quốc, trước Tòa án Luật Biển, theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề vi phạm nhân quyền hàng loạt trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
Trong tương lai, các điểm vi phạm trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hòan cảnh khác sau vụ giàn khoan trong đó Trung quốc có thể lại dở chứng nói “trỗi dậy trong hòa bình” mà kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam
B. Các cơ quan/định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp.
Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp gỉai quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu điều 2 và 33 Hiến Chương LHQ, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội Đồng Bảo An LHQ mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình.
Có 3 thủ tục chính: các thủ tục phi tài phán như thương luợng, hòa giải; thủ tục tài phán trước Tòa Án Công lý Quốc tế hay Tòa án Luật Biển; và trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại Hội Đồng hay Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức địa phương như ASEAN.
1. Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa gỉai. Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp trùng lấp hai Vùng Đặc quyền Kinh tế hay hai Thềm Lục Địa của hai nước, thì điều 298(a) cũng như điều 74 và 83 Công Ước Luật Biển đòi hỏi các quôc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả lần Tổng Bí Thư Đảng gọi sang Trung quốc mà Trung quốc không nhấc máy trả lời. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành sử bình tĩnh hơn Trung quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình chung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa Nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến Chương, UNCLOS và các thỏa ước vùng như Tuyên Bố Ứng Xử ASEAN. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu sợ sự hung hãn của Trung quốc trong tháng 5 và 6, 2014, và ngả theo Mỹ, Nhật, Âu, Ấn, Úc trong mối lo của họ, thì Trung quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn Phòng Tổng Thư Ký LHQ một tờ trình mà gợi ý là có lẽ hai nước Trung quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp nạp các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16 tháng 7, 2014 thì Trung quốc rút giàn khoan.
Ngòai thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục Địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung quốc sẽ ngại bị cô bập hóa. Đặc biệt Việt Nam nên sử dụng ngọai giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là ưa làm việc với ASEAN trước đã về Bộ Luật Ứng Xử (Code of Conduct) trước khi bàn với Trung quốc, hay khi ông kêu gọi trong Diễn đàn Shangrila là cần tạo niềm tin chiến lược (strategic trust).
Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Bỉển Nam Hải: ‘zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa’ (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, cộng đồng khai phát). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai Tuyên Bố Ứng Xử, vốn chỉ là khuyến cáo, thành Bộ Luật Ứng Xử có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát trỉển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác — thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông nam Á, vì có vẻ như Trung quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị gỉải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trưòng các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói là đối diện Trung quốc, phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ, mà cũng không tỏ sự tức giận.
2. Kiện trước Tòa Án Công Lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) và Tòa Án Trọng tài Luật Biển (Arbitral Tribunal of the Law of the Sea).
a) Kiện trước Tòa Án Công Lý ICJ về chủ quyến lãnh thổ trên Hòang Sa — mà Trung quốc cướp mất của Việt Nam năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối xuất đình của Trung quốc, họ sẽ không ký điều khỏan nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý xử.
Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này.
– Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia không xuất đình để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu tòa ICJ thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước Thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó vế thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia ra tòa có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể cho bản án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyến trên Hòang Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa trong Hiệp Định phân ranh ở Vịnh Bắc Bộ năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung quốc trong vụ kiện của Phi Luật Tân không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tê; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hòang Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa ICJ, kèm lời mời Trung quốc nhận thẩm quyền của tòa dể làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Cohen trong Hội Thảo ở Đà Nẵng ngày 20-6-2014 ưa các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa ICJ rồi mời Trung quốc nếu tin là lẽ phải về phần mình, thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung quốc không chịu xuất đình, thì cũng như đã “treo’ được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế.
– Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh huởng mạnh, có thể yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ hay một cơ quan của LHQ xin 1 bản án cho ý kiến (advisory opinion) về bằng chứng chủ quyền Hòang Sa thì Tòa ICJ cũng có thể cho –thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại Hội Đồng LHQ yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa ICJ đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hê mà vẫn cho ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ.
b) Trước Toà án Luật Biển, một quốc gia có thể dùng thủ tục bó buộc (compulsory procedure) quy định trong các điều 286 và 288 của Công Ước Luật Biển để xin tòa gỉai thích và áp dụng các điều khỏan của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các Vùng Đặc quyền Kinh Tế trùng lấp mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra toà của họ, thì quốc gia khác, dựa vào điều 298 đoạn 4, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra toà theo thủ tục bó buộc.
Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bó buộc trước Tòa Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau :
– Trung quốc, trong các hành vi quanh gìan khoan, đã vi phạm điều 297 đọan 1a, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và họat động khác như đặt giây cable.
– Trung quốc, khi có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần
– Trung quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự uỷ quyền của nhà nước Viêt Nam, theo đúng UNCLOS
3. Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quôc tế.
– ASEAN, với Tuyên Bố Ứng Xử luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Bộ Luật Úng Xử.
– Can thiệp của Tổng Thư Ký hay Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc có thể lảm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời thủ tuớng Nhật Abe hay lời bộ trưởng quốc phòng Mỹ Hagel. Sau khi đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5, 2014, yêu cầu Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung quốc cũng tuyên bố không dùng tầu chiến bảo vệ gìan khoan. Chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ và văn phòng Tổng Thư Ký LHQ tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi.

KẾT LUẬN.

Dư luận quốc tế, nhất là các nước lớn Tây Phương và Nhật Bản, Ấn Độ, bênh lẽ phải của Việt Nam. Phi Luật Tân thì mong Viêt Nam khởi kiện sớm.
Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện trước khi gìan khoan rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lở dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia.

Tạ Văn Tài

 

Related Posts

  • No Related Posts
 
 

2 Comments

  1. luãt sư NGUYEN LE-HA says:

    Chào ban biên Tập,
    Chúng tôi có gửi bài viết về Hoàng Sa va Truờng Sa nhân dịp GS Ta Văn Tài nói chuyện về đề tài này nhưng không thấy xuất hiện trên báo mà chỉ thấy Email của chúng tôi.Bởi vậy, vì một lý do nào đó không đựơc đăng. yều cầu Quí Ban xoá địa chỉ email của chúng tôi vì đó la thông tin cá nhân.trân trọng cám ơn. ls Nguyen Le -Ha

    Kính Luật sư,
    1. Đây chỉ là phần góp ý dưới bài viết được đăng.
    2. Ban Biên Tập không nhận được bài kèm theo.
    3. Bài muốn đăng xin gởi về: editor@nguoivietboston.com.
    4. Đã xóa phần comment trước theo yêu cầu.
    Cảm ơn đã theo dõi Người Việt Boston.
    Trân trọng.
    BBT/NVB

  2. Thaithanh says:

    Thái thanh ,Chào quý vị
    HOÀNG SA TRƯỜNG SA TRÊN BIỂN ĐÔNG LÀ
    CỦA VIETNAM
    Đả đảo trung cộng xâm chiếm BIỂN ĐẢO
    Kính chào

 
 

Leave a Comment

 




 
 

 
 

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4

Warning: Illegal string offset 'id' in /home/nguoivie/public_html/wp-content/themes/telegraph-test/footer.php on line 4