Trọng Ðạt: Ðón Giao Thừa
By HoangHac • Feb 6th, 2010 • Category: Truyện Ngắn
Cuối tuần nào cũng vậy, khi màn đêm vừa buông xuống là Tân lại vội đến thăm Lộc, người bạn chí cốt ở gần nhà để hàn huyên tâm sự, bàn bạc những vấn đề thời sự chính trị, văn chương… Ðộ này hai người hay bàn chuyện văn thơ, nghệ thuật, những buổi tọa đàm như vậy đã giúp họ giết thì giờ trong cuộc sống tha hương buồn tẻ. Người Việt ở đây rất đông, bạn bè bà con cũng nhiều nhưng Tân vẫn cảm thấy một sự lạc lõng, bơ vơ có lẽ vì nó không phải là đất nước của mình. Xa xứ khá lâu nhưng mỗi lần tỉnh giấc anh vẫn biết rằng mình đang sống tại một nước non xa lạ với lối sống, tập quán mà đối với anh cũng vẫn còn xa lạ, anh vẫn có cảm tưởng như mình vẫn chưa hoàn toàn hội nhập được vào xã hội mới. Những buổi đàm luận ấy cũng thật bổ ích vì khi trao đổi ý kiến, nó cũng mở mang tầm hiểu biết của họ hơn lên.
Tối nay, một tối mùa đông giá lạnh, tết Tây đã qua, tết ta lại gần kề, năm nay hên, ngoài trận tuyết mong manh hôm nọ người ta không phải nếm cái mùi băng giá thấu xương như năm ngoái. Ngoài các chợ Á Ðông, chợ Việt, chợ Tầu… hàng Tết đã bầy đầy cả ra từ mấy tuần trước, thôi thì đủ thứ nào bánh chưng, bánh tét, dưa món, kẹo, mứt, cây quất, cành mai, hoa đào, hoa cúc… người mình cũng nô nức mua sắm hàng Tết đón xuân, mặc dù ai cũng cố quay lại truyền thống dân tộc, phong tục cổ truyền nhưng cũng không tránh khỏi cái vẻ lạc lõng của một thứ vui gượng vì tất cả đang nằm giữa một ngoại cảnh, một nước non xa lạ. Lộc cũng đã mua sắm được một ít bánh mứt, hạt sen, trà tầu đem ra đãi khách cho có chút hương vị dân tộc, quê hương trong những ngày năm cùng tháng tận, bạn pha trà mời Tân nhấm nháp rồi đưa cuốn sách mới mượn ở thư viện ra bảo:
– Cuốn này viết về văn học miền Nam, phần tiểu sử các tác giả đầy đủ lắm, nhiều tác giả không có tên tuổi gì cũng được đề cập rất đầy đủ chi tiết, một người bà con tôi là nhà văn ít ai biết thế mà ông soạn giả này cũng biết rất rành, tôi lấy làm lạ, ông ấy căn cứ ở đâu mà biết rõ thế?
Tân cầm cuốn sách ngắm nghía một lúc, xem sơ mấy trang rồi dở phần tiểu sử ở cuối ra xem, lật qua lật lại bỗng anh dừng lại ở một trang rồi lẩm nhẩm đọc.
“Trần Ðại, sinh tại Bắc phần năm 1941, vào Nam năm 1954. Dạy đại học. Sau 1975, mất tích trên đường vượt biển tị nạn chính trị. Chuyến đi khởi hành ngày 2-10-1978.
Tác phẩm: Con đường (tựa của Vũ Hoàng Chương, 1963)”
Tân bèn đọc lớn cho Lộc nghe rồi bảo.
– Chắc đúng là anh bạn tù cải tạo cùng tổ với tôi hồi 1975, 76, 77… anh này có dạy ở một trường đại học Ðà Lạt, cỡ tuổi tôi, được về sớm, mấy người cùng trại với tôi nói anh chàng đi vượt biên mất tích cả gia đình từ 1978. Hồi ấy không nghe anh nói đã viết sách, nhưng các chi tiết khác đều đúng hết.
Tân cứ tấm tắc khen ông soạn giả thật là kỳ tài, biết rõ cả chuyến đi vào ngày nào tháng nào nữa, mình là bạn anh ta mà cũng chỉ biết loáng thoáng thôi. Lộc bèn hớp một ngụm trà Tầu đang bốc hơi nghi ngút rồi chép miệng than.
-Bao nhiêu tinh hoa của đất nước đã bị chôn vùi dưới đáy biển!
Từ đấy anh cứ thắc mắc, ưu tư về cái tên Trần Ðại mãi, nhớ hồi hắn ta được về hơn một năm, mọi người bị chuyển đi trại khác, Bình bạn thân của Ðại có nói với anh em ngoài bãi lao động.
-Trời ơi! Ðại tốt lắm, anh chị có lại thăm vợ tôi, cho vợ tôi mượn một ngàn đồng, tôi đã viết thư dặn vợ tôi nếu anh ấy muốn mượn bất cứ cuốn sách gì cũng cho anh ấy mượn.
Rồi tự nhiên Tân lại tò mò đi điều tra xem có đúng người trong cuốn sách này là anh bạn tù xa xưa của mình hay không, y như một nhà thám tử đi điều tra một vụ án, chàng bèn tìm hỏi Bình hiện đang sống tại Mỹ, cho Bình biết chi tiết trong cuốn sách, anh ta đáp.
-Vậy thì đúng hắn rồi! Ðại có ra một tập thơ, anh ấy tốt nghiệp Cao học ở Ðà Lạt, đậu thủ khoa được nhà trường giữ lại để giảng dậy. Sau có làm cho bộ văn hóa, xã hội gì đấy. Hồi anh ấy sắp đi vượt biên có cho vợ tôi mượn một ngàn đồng, một ngàn hồi ấy lớn lắm, mỗi lần thăm nuôi tụi mình chỉ có mấy chục hay một trăm thôi. Nói đến anh ấy bà xã tôi xúc động lắm, em của Ðại hiện ở Mỹ.
Thế là cuộc điều tra của Tân đã hoàn tất, đúng là hắn, người ấy là anh! Và rồi trong ký ức anh Ðại tự nhiên sống dậy y như một cuốn phim cũ nay được đem ra chiếu lại.
… Tân nhớ lại hồi 1975, công chức ra trình diện cải tạo được đưa lên trại Long Thành, năm đầu có một số đợt thả về khá đông nghe nói Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn Gia Ðịnh ăn hối lộ đã cho những người chạy tiền về trước. Chừng một năm sau trại đượïc chuyển giao cho Bộ nội vụ, cái thòng lọng ngày càng xiết chặt, sau nhiều đợt chuyển tù công chức cao cấp và trung cấp đi Bắc, họ còn vài trăm người được giữ lại, dọn nhà hai ba lần và sau cùng ở một căn nhà rộng bằng gỗ gọi là nhà 13.
Ðại ở chung đội rồi chung tổ với Tân, anh có cảm tình với hắn vì tính hiền lành, Ðại hay đùa dỡn trêu chọc Tân, có lần cáu quá Tân la lối hắn um cả lên, thế mà hôm sau hắn lại vui vẻ vỗ vai anh bảo:
-Tớ có chọc gì cậu đâu mà cậu la tớ dữ vậy, tụi nó chọc cậu mà sao cậu không la tụi nó, cậu lại la tớ!
Ðại y như ông Bụt vậy, không biết giận biết ghét ai bao giờ, hắn thích trêu chọc bạn nhưng chỉ đùa vui, không có ác ý. Ngoài bãi lao động chàng ta hay kể chuyện vui, có khi bàn chuyện kinh tế ngoài xã hội, Ðại có vẻ người hiểu biết.
Tân còn nhớ một buổi chiều tối, hồi ấy tù còn được tự do thoải mái. Tân và chàng pha trà ngoài sân kể chuyện ngày xưa, chàng thích kể lại những ngày còn giảng dạy ở trường Ðại học Ðà Lạt và có vẻ tiếc nhớ thời vàng son.
Cải tạo được hơn hai năm thì bỗng có đợt thả về khoảng mười sáu người đa số có bảo lãnh hoăc quá trình nhẹ, không liên hệ đến an ninh chính trị là mấy, Ðại may mắn có tên trong danh sách đợt này… Thế rồi hơn một năm sau mọi người lại chuyển trại đến một khu rừng âm u, nhân một buổi lao động Bình có nhắc đến Ðại, khen anh là người bạn tốt đã cho vợ Bình mượn một ngàn đồng để thăm nuôi chồng, sự thực Ðại muốn để lại cho bạn số tiền lớn ấy trước khi lên đường đi tìm Ðất hứa. Trước khi ra đi chàng còn làm được một việc tốt cho xã hội, còn giúp được một người bạn tù.
Ðược thả về giữa cái xã hội nghèo đói sơ sác, đâu đâu cũng chỉ thấy toàn những cảnh áp bức hăm doạ, bắt bớ ghê sợ của cảnh sát công an, Ðại không còn cách nào khác hơn là phải tìm cách thoát thân ra khỏi vũng lầy. Hồi ấy người ta đổ sô nhau tìm đường xuất ngoại, ai nấy thu vét tiền bạc trong nhà để nạp cho bọn tổ chức hy vọng thoát thân tới được bờ bến mới.
Và rồi vào chuyến đi ngày 2-10-1978 anh đã cùng gia đình lênh đênh qua cửa Cần giờ. Theo thống kê cũng như lời xác nhận của dân tỵ nạn, số người bỏ xác trên đường vượt biển phần lớn là do hải tặc Thái Lan đâm chìm tầu, chúng cướp bóc hãm hiếp, bắt đàn bà con gái rồi đâm chìm tầu để phi tang.
Tân lại mường tượng ra cảnh biển cả rộng mênh mông bát ngát, một con tầu gỗ mỏng manh lềnh bềnh trôi trên làn sóng, rồi trận phong ba bão táp nổi lên hay tầu hải tặc sông tới cướp bóc hãm hiếp rồi đâm chìm thuyền tỵ nạn, Tân mường tượng ra cảnh bạn mình và bao nhiêu người khác đang cố vùng vẫy trên mặt biển. Bản năng tự vệ sinh tồn khiến con người phải cố sức chống lại cái chết đến cùng dù chỉ là để sống thêm được một vài giây phút nữa, để rồi cũng từ từ chìm sâu dưới làn nước biếc.
…. Tất cả không còn gì trừ sóng biển. .
Ðại dương mênh mông bát ngát đã chôn vùi không biết cơ man nào mà kể những kẻ bất hạnh đi tìm Ðất Hứa. Biển cả đã chôn sâu cái hy vọng cuối cùng của đời chàng, của hàng nghìn, hàng vạn những người tỵ nạn khác, của những kẻ đã chết trên con đường đi tìm Ðất hứa, chết trên con đường đi tìm tự do cũng vẫn còn sướng hơn làm nô lệ. Biển cả cũng đã chôn vùi biết bao tinh hoa của đất nước, biết bao người tài trí đã bỏ nước ra đi và cũng đã có biết bao người không hẹn ngày về.
Hôm được trả tự do, các bạn tù vẫy tay chào Ðại và mười mấy người khác bước lên xe vận tải, bọn ở lại nhìn những kẻ diễm phúc bằng cặp mắt thèm thuồng tuy trong lòng có chút mừng thầm cho họ, ngày trở về của Ðại tươi đẹp và hạnh phúc biết bao.
“Ngày trở về anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre,
Nắng vàng hoe vườn rau trước hè chờ đón người về”…
Ðại đã ra khỏi trại giam và còn phải ra khỏi nước, trại giam là nhà tù nhỏ, đất nước, xã hội là nhà tù lớn. Anh đã xây dựng nhiều mộng đẹp, lập lại cuộc đời mới ở xứ tự do, ở miền Ðất Hứa, những giấc mộng của anh đẹp và rực rỡ như nắng mùa hè.
Thế rồi tất cả ước mơ, hy vọng của Ðại chỉ là những toà lâu đài xây trên bãi cát, những ảo tưởng vĩ đại, những mơ mộng hão huyền của kẻ tuyệt vọng đi tìm Ðất hứa. Biển cả đã chôn vùi mộng đẹp của chàng , của muôn vạn kẻ bất hạnh cùng đường tuyệt vọng khác.
Ðối với cac nhà nghệ sĩ, biển cả thật là mỹ miều thi vị dưới những tên thật là gợi hình, bóng bẩy, nào là Biển Nhớ, Hoàng Hôn Trên Bãi Biển, Bãi Biển Nương Dâu… nhưng với bọn thuyền nhân khốn khổ đi tìm tự do, biển cả mênh mông lại là hiện thân của sự hãi hùng, một hình ảnh vĩ đại bao la bát ngát kinh hoàng, nó đã chôn vùi biết bao sinh linh vô tội, ngay cả những người đã định cư tại bờ bến mới mấy chục năm mỗi lần nghĩ lại vẫn còn rùng mình ghê sợ.
Thế rồi tuần sau, Tân lại đến thăm Lộc vào một ngày năm cùng nguyệt tận, tối ấy nhiều người đã lên chùa, đến nhà thờ để chuẩn bị đón Giao thừa. Thế là lại thêm một cái Tết nơi đất khách quê người, rồi lại xuân tha hương…. tuổi đời cứ chồng chất thêm trên mái tóc, ngày tận cùng của đời người cứ từ từ tiến lại.
Tối nay, một tối mùa đông giá lạnh, đôi bạn tha hương đón giao thừa, Lộc bầy một bàn tiệc nhỏ để đãi người tri kỷ: một đĩa bánh chưng đã cắt làm nhiều miếng, một bát dưa món, mấy đĩa mứt sen, mứt gừng, mứt bí, một chai rượu nho mầu chiều tím, gọi là có chút hương vị quê nhà trong mấy ngày thiêng liêng dân tộc. Khi ấy tiếng hát thanh tao dịu dàng của cô ca sĩ bỗng vang lên trong máy ngoài phòng khách.
“Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến hoa mơ hoa mận nở. .
… … .. . .”
Ðể mở đầu buổi đàm luận tối nay, Tân nói cho Lộc biết Trần Ðại, tác giả tập thơ Con Ðường đúng là người bạn tù của mình hai mươi mấy năm trước đây, nghe vậy, anh bạn bèn rót rượu vừa ra giọng triết lý bảo.
– Thế gian như một cái quán trọ, con người chỉ là khách qua đường.
Hai người nâng ly chúc mừng năm mới, uống xong một hớp rượu xuân Tân bèn thở dài đáp .
– Cuộc đời chỉ là giả tạo, cái chết mới là có thật! Ôi một đời người! sinh ra ở miền Bắc, lớn lên di cư vào Nam, học hành xuất chúng, làm giáo sư, công chức cho chính phủ, rồi vào tù, được thả về, mang nhiều mộng đẹp, lên đường đi tìm Tự do, Ðất hứa. Biển cả đã chôn vùi cái hy vọng cuối cùng của đời chàng… một đời người đã hết, chẳng còn một vết tích gì, chẳng để lại đến một mảnh xương tàn, chỉ còn lại một vài dòng tiểu sử trong một cuốn sách nói về văn học miền Nam.
Trọng Ðạt














