Ước Muốn Đòi Hỏi Tự Do Độc Lập Của Người Tây Tạng Đang Bùng Cháy

 

Nguyễn Minh Tâm dịch theo tạp chí TIME ngày 14/11/2011.

Hình: Shiho Fukada for TIME

• Sau 60 năm dưới ách thống trị của Trung Cộng, một số tu sĩ Tây Tạng đã chọn con phương pháp tự thiêu để phản đối. Cuộc đấu tranh đòi tự do của người dân Tây Tạng theo hinh thức mới sẽ đi tới đâu?

Không một vòng hoa phúng điếu, hay một lễ cầu siêu để đánh dấu điạ điểm nơi ông Tsewang Norbu chết. Ngày 15 tháng Tám vừa qua, vị tu sĩ Tây Tạng 29 tuổi, ở Tawu, một vùng hẻo lánh xa xôi, đã tẩm dầu hôi lên người, và bật diêm châm lửa tự thiêu. Trong lúc ngọn lửa đang cháy hừng hực ngay giữa trung tâm thành phố, người tu sĩ trẻ can đảm đã không ngừng gào thét đòi tự do cho người dân Tây tạng, và gọi tên ngài Dalai Lama, vị lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng đang sống lưu vong ở hải ngoại.

Hai tháng rưỡi sau, dưới bóng tối của màn đêm che phủ, tôi đến thăm cây cầu ở Tawu nơi ông Norbu đã liều mình tự thiêu. Thành phố này gọi theo tên Trung Hoa là Daofu. Nguyên cả thành phố đang ở tình trạng bị phong tỏa, canh chừng nghiêm nhặt. Nhiều máy thu hình được gắn ở cột đèn đường để theo dõi mọi hành vi chống đối trong thành phố. Cách đó không xa, công an Trung quốc đang lên cơ bẩm súng trường để chuẩn bị đi tuần tra. Thỉnh thoảng ánh đèn pha của xe díp công an vũ trang lại loé lên, chiếu sáng địa điểm tự thiêu của vị tu sĩ để coi xem có ai lai vãng đến đây không.

Nước Tây Tạng đang hừng hực bừng cháy. Sau ngày ông Norbu can đảm châm lửa tự thiêu, tám vụ tự thiêu khác đã liên tiếp xảy ra để phản đối sự cai trị tàn ác của Trung quốc trên đất Tây Tạng. Kể cả ông Nordu, có ít nhất sáu người đã chết vì tự thiêu. Hồi tháng Mười, bọn công an Tầu đã đem dấu đi một số thân xác bị thiêu cháy thành tro than. Phật giáo Tây tạng được cả thế giới biết đến, với những bài giảng, bài nói chuyện và hình ảnh về hoạt động của Đức Dalai Lama. Nhiều vụ tự thiêu đang xảy ra, và được coi như một loại vũ khí tiêu biểu cho phương thức đấu tranh mới của những tu sĩ trẻ đang sống trên lãnh thổ Tây tạng thuộc Trung Hoa.

Những vụ tự thiêu gần đây cho thấy một điều là cuộc đấu tranh chuyển sang một giai đoạn có tính chất quyết tử, liều lĩnh, đang diễn ra trên vùng cao nguyên Tây tạng. Kể từ ngày xảy ra các vụ nổi loạn của những sắc tộc thiểu số cách đây ba năm, lực lượng vũ trang an ninh của Trung quốc ra sức phong tỏa, kiểm soát chặt chẽ lãnh thổ Tây tạng. Trong đó gồm có nước Tây tạng nguyên thủy, và bốn tỉnh Trung quốc có chung ranh giới đặt chung vào khu vực lớn bị phong toả kiểm soát nghiêm nhặt. Chính quyền Trung quốc bắt giam hàng ngàn người Tây tạng. Các tu sĩ bị buộc phải lên án, nói xấu Đức Dalai Lama. Các quan chức điạ phương bị bắt đi học những lớp chính trị, bài bản tuyên truyền. Nhiều khu vực bị phong tỏa, cấm người nước ngoài không được vào thăm viếng, hay đi du lịch.

Nhưng thay vì làm cho người dân Tây tạng trở nên hiền lành nhu nhược, sự đàn áp của lực lượng an ninh lại khiến cho họ nổi giận, và gây ra bạo động. Ngoài những vụ tự thiêu, biểu tình, dân chúng còn luân lưu, phổ biến truyền đơn thông tin về họat động của ngài Dalai Lama, nhất là ở vùng phía đông Tây tạng thường được gọi là vùng Kham. Vào khoảng trung tuần tháng Mười, lực lượng an ninh Trung Cộng đã bắn chết hai người biểu tình ở tỉnh Kardze, một thành phố tự trị ở vùng Kham, bao gồm tỉnh Tawu. Ngày 26 tháng 10, một trái bom nổ tung vào ban đêm ngay trong toà nhà chính phủ ở miền Đông Tây tạng. Sau đó, xuất hiện nhiều khẩu hiệu vẽ lên tường đòi quyền độc lập cho Tây Tạng, truyền đơn yêu cầu ngài Dalai Lama ở Ấn Độ trở về nước lãnh đạo dân chúng. Vị lãnh đạo tinh thần phải đi tị nạn sau cuộc nổi dậy bất thành vào năm 1959. Một ông sư trẻ than thở: “Chúng tôi không thể chịu được nữa. Sẽ còn xảy ra nhiều vụ bạo động bởi vì người Tây tạng mất tin tưởng vào chính quyền Trung quốc.”.

Từ nhiều năm nay, Đức Dalai Lama tìm cách cải thiện quan hệ với chính phủ Bắc Kinh bằng cách nói rằng ông chỉ xin có một sự tự trị cho nước Tây Tạng thôi, ông không đòi phải trả độc lập cho Tây Tạng. Cố gắng tìm được sự đồng thuận bằng gỉai pháp hoà bình của ông bị chỉ trích là chính sách “đi hàng hai”. Dù nhún nhường, chịu nhịn nhục, thế mà hôm 29 tháng 10, ngài Dalai Lama phải ra một tuyên cáo qui trách nhiệm chính phủ Trung quốc về những vụ tự thiêu này. Ngài kết án: “Người lãnh đạo ở điạ phương phải suy xét sâu xa nguyên nhân đích thực đưa đến những cái chết này. Chính vì chính sách sai lầm, liều lĩnh và vô lý của họ đã gây ra những vụ tự thiêu”. Hai ngày sau, ống loa của hệ thống tuyên truyển Trung quốc là Nhân Dân Nhật Báo đã viết một bài xã luận so sánh Đức Dalai Lama với tên giáo chủ cuồng tín David Koresh, kẻ cầm giữ giáo dân trong họ đạo của hắn làm con tin trong vụ tử thủ ở Waco, Texas vào năm 1993.

Mùa hè vừa qua, chính quyền Bắc kinh làm lễ kỷ niệm 60 năm ngày họ xâm chiếm Tây Tạng, nhưng họ gọi là “Gỉải phóng một cách hòa bình nước Tây Tạng.”.

Theo luận điệu của Đảng Cộng Sản Trung Hoa, bài học lịch sử về vụ thôn tính Tây Tạng được viết lại như sau: “Người dân Tây Tạng sống trong kiếp nông nô dưới ách thống trị của các ông vua được tôn làm thánh theo kiểu Phật Giáo Tây Tạng. Do đó, họ đã mời những người giải phóng xã hội chủ nghĩa đến giúp để cải thiện tăng mức sống cơ cực của họ”. Đúng là giọng lưỡi tuyên truyền xuyên tạc lịch sử của Cộng Sản Trung Hoa. Sự thực là mức sống của người dân Tây Tạng vào thời Hồng Quân Trung Hoa xâm lăng rất sơ khai, nghèo khó. Nhưng nước Tây Tạng bao giờ cũng là một quốc gia độc lập. Dân chúng ở đây luôn luôn có tinh thần dân tộc, như một quốc gia riêng của họ. (Trung quốc cho rằng Tây Tạng là một phần lãnh thổ của Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước, và không thể bị chia cách được.) Chính phủ Trung Quốc tìm đủ mọi cách làm nhụt ý chí đòi độc lập của người dân Tây tạng, từ việc truy lùng bắt giam những phần tử chống đối, đến việc mua chuộc, dụ dỗ bằng quyền lợi kinh tế. Nhưng tất cả đều thất bại. Trong suốt hơn ba thập niên, chính quyền Trung quốc tìm cách nhồi sọ người dân Tây Tạng những bài học chính trị nói về “lòng yêu nước với tổ quốc Trung Hoa”. Nhưng một người dân trong tỉnh Kardze tâm sự với tôi là người Tây tạng vẫn luôn luôn coi họ là “100% gốc Tây Tạng, không có được 1% dòng máu Hán của người Tầu”, và họ vẫn coi ngài Dalai Lama là vị lãnh đạo tinh thần tối cao của họ.

Trong ít năm qua, người Trung Hoa đưa vào Tây Tạng một số lượng khá đông dân gốc Hán. Người Hán chiếm đa số ở Trung Hoa. Điều này lại càng làm cho người dân Tây Tạng tức giận. Người Tây Tạng than phiền rằng những việc làm tốt nhất trong vùng đều chỉ dành riêng cho người Hán. Lực lượng cảnh sát, và công chức trong guồng máy chính quyền điạ phương đa số toàn là người Hán. Chức vụ cao cấp nhất trong Đảng Cộng Sản điạ phương không bao giờ được giao cho người Tây Tạng. Tiếng Tây Tạng được dạy trong trường học, nhưng muốn có việc làm trong chính phủ phải biết thông thạo tiếng Hoa. Văn thư chính quyền in ra chỉ viết bằng tiếng Quan Thoại. Chính vì vậy, vị tu sĩ niên trưởng trong chùa Phật Giáo Tây tạng ở tỉnh Kardze nói với du khách người Hán như sau: “Nếu chúng ta không làm gì, tôi e rằng văn hoá Tây Tạng sẽ bị tiêu diệt. Tình hình hiện nay hết sức khẩn trương. Chúng tôi muốn cứu đất nước và dân chúng tôi khỏi nguy cơ bị diệt vong.”.

Tỉnh Kardze, trong vùng Kham, nằm giữa lằn ranh khu người Hán và người Tây Tạng, đang ở tuyến đầu của những tranh chấp về sắc tộc và văn hoá. Tất cả các vụ tự thiêu đều xảy ra trong tỉnh Kardze (tên tiếng Hoa là Ganzi) hay tỉnh Ngaba (tên tiếng Hoa là Aba) ở bên cạnh. Nói chung người Tây Tạng có tiếng là dân tộc hiền hòa, nhẫn nhục. Riêng người dân vùng Kham lại nổi tiếng là những người giỏi về chiến tranh, trận mạc từ nhiều năm nay.

Hồi thập niên 1950’s, CIA, cơ quan tình báo Mỹ từng huấn luyện những kháng chiến quân sinh quán ở vùng Kham. Số lính do CIA thành lập có lúc lên đến hàng ngàn người. Nhưng kể từ khi bang giao Hoa Mỹ trở nên mặn nồng hồi thập niên 1970’s, Hoa Thịnh Đốn ngưng không yểm trợ tài chánh cho những kháng chiến quân này. Đức Dalai Lama gởi lời kêu gọi thu băng, yêu cầu các kháng chiến quân hãy bỏ súng không chiến đấu nữa. Một số chiến sĩ đã tự sát, thay vì buông súng, bỏ dở sự nghiệp đấu tranh cho nền độc lập của Tây Tạng.

Sáu chục năm sau ngày cộng sản tiến vào Tây tạng, vùng đồng cỏ cao nguyên của tỉnh Kardze vẫn có nét của một vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Thủ phủ của tỉnh được gọi là Kangding, có nghĩa là “vùng Kham được bình định”. Nhiều biểu ngữ tuyên truyền to tướng được trương lên giữa cánh đồng cỏ, với lác đác vài khu gia cư nhỏ nằm gần đó, vài con bò Tây tạng đang gặm cỏ. Một biểu ngữ viết: “Công an và nhân dân có chung một mục tiêu là nuôi dưỡng sự phát triển.”. Nhưng biểu ngữ ấy viết bằng tiếng Hoa, nhiều người Tây tạng không đọc được. Một biểu ngữ khác: “Hồng kỳ bay phất phới khắp trời xanh”, hay “Chúng ta đi chung nhau trên con thuyền xây dựng môi trường hoà bình”. Xe díp của công an chạy đi lùng khắp nẻo đường đất để theo dõi hành tung người dân Tây Tạng, những người du mục hay có răng bọc vàng. Trong tu viện Phật giáo đầy dẫy công an chìm đội lốt tu sĩ. Du khách dễ dàng nhận ra những tên công an này với thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, và cái nhìn soi mói của chúng. Dân chúng ở đây ngán ngẩm với cuộc sống bị theo dỏi từng li từng tí một. Họ không sợ phải di chuyển trong vùng núi cao 13,000 ft, khí hậu lạnh, không khí mỏng, nhưng họ sợ sự theo dõi của bọn công an người Hoa.

Khắp nước Tây tạng, những ai cất dấu tấm hình chân dung Dalai Lama đều bị kết tội phản động, và bị bắt bỏ tù. Bắc Kinh nói xấu ngài Dalai Lama, gọi ông là “con chó sói mặc áo thầy tu”. Nhưng riêng ở tỉnh Kardze, tôi trông thấy hình của Dalai Lama ở khắp mọi nơi. Trong tu viện tôi đến thăm, các tu sĩ đều cất dấu tấm ảnh ngài Dalai Lama trong chiếc áo nâu sòng. Các thầy cho tôi xem tấm hình trong cell phone của họ. Ở ngoài phố, hình đức Dalai Lama được dấu trong gói đậu phộng hay đằng sau cuộn giấy toilet để trên quầy hàng của tiệm tạp hoá. Một phụ nữ khóc sưng cả mắt khi tôi kể cho bà nghe tôi đã từng đến tỉnh Dharamsala, ở Ấn độ nơi ngài Dalai Lama đang sống lưu vong.

Mặc dù được dân địa phương rất kính trọng, nhưng chủ trương lấy lòng từ bi, và tranh đấu bất bạo động của Đức Dalai Lama đã bị thay đổi. Phương thức đấu tranh bất bạo động giúp cho phong trào đòi tự do cho Tây tạng được cả thế giới biết tiếng. Tôi hỏi các vị tu sĩ ở Kardze các vị có biết rằng tự thiêu là đi trái với lời dạy của Đạo Phật cấm sát sinh hay không. Một thầy đã giải thích với tôi: “Những vị tu sĩ tự thiêu làm việc này không phải vì cá nhân của họ, mà họ hy sinh vì dân tộc Tây tạng. Tôi hết sức ngưỡng mộ việc làm can đảm của họ”.
Tu sĩ tự thiêu trở thành tin tức hàng đầu. Chi tiết về diễn tiến vụ tự thiêu được loan truyền trên khắp vùng Tây tạng, dù cho chính quyền Trung Cộng tìm đủ mọi cách để ngăn chặn tin tức trên internet. Nhưng khi chúng tôi nói chuyện với vài tu sĩ trẻ, có gò má đỏ hồng, họ trưng hình Dalai Lama bên cạnh hình các tuyển thủ bóng rổ trong NBA, tôi thấy rằng phong trào tự thiêu sẽ không có tác dụng nhiều. Ngày xưa, người Khampas thường là những chiến sĩ can trường ngoài trận mạc. Nhưng bây giờ họ khó có thể kết hợp lại thành một lực lượng chiến đấu hùng mạnh được. Hãng thông tấn Tân Hoa Xã của Trung quốc vừa đăng một tin cho biết chính phủ tịch thu nhiều vũ khí lén đem từ Miến Điện vào Tây Tạng. Số vũ khí này là những khẩu súng cổ lỗ sĩ, của mấy xứ nghèo, chậm tiến, không thể địch lại được với sức mạnh, và vũ khí tối tân của Giải Phóng Quân Trung Cộng. Những ai cho rằng việc tự thiêu của các nhà sư Tây tạng cũng na ná giống như hành động tự thiêu của người thanh niên trẻ ở Tunisia, có thể làm nẩy sinh ra cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền là không đúng. Người Hán có thể bất mãn với Đảng Cộng Sản đang nắm quyền. Nhưng sự bất mãn của người Hán không giống, và không liên hệ gì đến những oán hận của người Tây Tạng. Việc chính phủ cộng sản Trung quốc đối sử tệ bạc với người Tây tạng không phải là mối quan tâm của người Hán ở Trung Hoa.

Tôi có dịp nói chuyện với một cán bộ nhà nước mang hai dòng máu Hoa và Tây tạng. Ông ta lớn lên ở tỉnh Tawu. Ông tỏ ra dễ mến và lịch sự. Ông muốn nói cho tôi nghe những gì thực sự đang xảy ra trong tỉnh Tawu của ông. Theo ông người Tây Tạng tham lam quá. Chính phủ đã cung cấp cho họ đủ thứ, từ loại tín dụng dễ dàng đến những kiến trúc hạ tầng cơ sở. Nhưng họ vẫn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Chính phủ Trung quốc xây cất những căn nhà cho người du mục ở dọc theo cao nguyên hình mặt trăng, nhưng không có người ở. Dân du mục Tây tạng không chịu sống trong căn nhà kiểu người Hoa. Những căn nhà này ấm hơn những căn lều bằng da bò Tây tạng. Vậy mà người du mục Tây tạng vẫn không chịu ở. Nếu chính phủ Trung quốc để họ được độc lập chắc là họ sẽ chết vì đói, và rét.

Không giống như những cán bộ nhà nước khác chỉ biết nói toàn những giọng điệu tuyên truyền theo bài bản của nhà nước. Ông cán bộ của tỉnh Tawu này đưa ra những lý luận rất sắc bén. Ông nói với sự tức giận là chính ông Dalai Lama và người em gái trốn thoát sang Ấn độ đã đạo diễn gây ra phong trào tự thiêu này. Ông kết luận: “Cho đến khi nào ông Dalai Lama chết đi, mọi rắc rối sẽ hết. Thế hệ trẻ Tây tạng được giáo dục đúng đường lối sẽ không còn gây ra rắc rối nữa”.

Nhưng theo những gì tôi được mục kích tận mắt thì sự thực trái ngược, không đúng như vậy. Trước hết chính những người trẻ đã tự hiến mình hy sinh, mặc dù họ bị tuyên truyền, nhồi sọ hàng ngày với những bài học chính trị vừa dai vừa dở. Thứ hai là trong cộng đồng người Tây tạng lưu vong ở Dharamsala, có chính phủ lưu vong, đã xảy ra cuộc thảo luận gay gắt để tìm hiểu xem chính sách đi hàng hai, tức là thương lượng Bắc Kinh, và bất bạo động, phải chăng có hại hơn là tốt cho Tây Tạng. Ngài Dalai Lama có lập trường trung dung, mềm mỏng hơn nhiều người Tây Tạng, ông tin rằng Bắc Kinh không chịu chấp nhận những điều kiện nhượng bộ. Trong vùng cao nguyên Kham, lòng phẫn nộ ngày càng dâng cao sau mỗi vụ tự thiêu.

Trong lần ghé thăm Dharamsala mới đây, tôi được gặp ông Tsewang Dhondup, một thương gia gốc ở tỉnh Kardze. Ông trốn thoát khỏi Tây tạng sau vụ baọ động năm 2008. Năm đó, xung đột lớn xảy ra giữa người Hán và người Tây Tạng. Đôi bên đều có người bị thương hay thiệt mạng. Theo sự ước tính của người TâyTạng lưu vong bên phía quân đội Trung quốc đã bị giết khoảng 150 khi họ tìm cách bao vây người Tây Tạng. Chính ông Dhondup bị thương lúc ông đang cứu giúp một tu sĩ. Sau này, nghe nói vị tu sĩ bị thiệt mạng. Hình truy nã ông Dhondup được dán khắp nơi trong làng, nhưng bạn bè đã tìm cách đưa ông lên khe núi ẩn náu. Dòi bọ làm mưng mủ vết thương của ông, và ông Dhondup phải nằm dưỡng thương trong vùng băng giá 14 tháng trước khi thoát sang Ấn độ. Ông nói lần ông được diện kiến Đức Dalai Lama là một kỷ niệm sung sướng nhất đời ông. Tuy nhiên, ông tiên đoán rằng một khi ngài Dalai Lama qua đời, nước Tây tạng sẽ nổ tung lên vì tức nước vỡ bờ.

Ngay cả lúc này, việc các tu sĩ Tây tạng từ chối không chịu chối bỏ nhà lãnh đạo tinh thần đang sống lưu vong. Đó chính là mồi lửa dấy lên phong trào tự thiêu. Ông Tsewang Norbu, vị tu sĩ tự thiêu ở tỉnh Tawu từng sống trong tu viện Nyitso. Tu viện này bị cấm không được làm lễ kỳ niệm sinh nhật của Dalai Lama trong tháng Bảy vừa qua. Trong những năm trước, chính quyền điạ phương làm ngơ để các tu sĩ kỷ niệm ngày huý nhật, và không can thiệp chi cả. Nhưng năm nay thì khác, sự bất tuân lệnh chính quyền của các tu sĩ bị trừng phạt bằng cách cúp điện, cúp nước dẫn vào chùa. Việc phong tỏa tu viện Nyitso kéo dài cả mấy tuần lễ, cho đến lúc thầy Norbu bước ra khỏi tu viện, đi bộ xuống đồi, vào trung tâm thành phố. Ông ngừng lại ít lâu để phân phát truyền đòi độc lập cho nước Tây Tạng, và làm kỷ niệm húy nhật cho ngài Dalai Lama. Sau đó, thầy lấy dầu hôi ra tự thiêu.

Khi tôi lái xe đến tu viện Nyitso, trời đã tối. Máy thu hình của cơ quan an ninh được gắn khắp nơi, đầy công an chìm nổi, và xe công an đi tuần. Bóng tôí bao trùm, tôi chỉ thấy hình ảnh tu viện mờ mờ đằng sau bức tường. Tôi không trông thấy một tu sĩ nào trong tu viện cả. Theo dân điạ phương, và những người Tây tạng sống lưu vong có lẽ các tu sĩ đã bị đưa hết vào trại tù cải tạo. Giống như trường hợp của tu viện Kirti ở tỉnh Ngaba. Tu viện đó có bảy tu sĩ hay cựu tăng tự thiêu.

Nhân viên làm trong chính quyền tỉnh Tawu nói rằng còn một vài tu sĩ ở lại trong tu viện. Nhưng những ông này là những tu sĩ gián điệp, làm tay sai cho chính quyền, theo dõi hành động của các tu sĩ khác. Mọi thứ đều mang một mầu ảm đạm thê lương. Nhưng cuối cùng tôi trông thấy một màu sáng bóng treo ở trên tường tu viện. Tôi cứ mong đó là chiếc áo mầu huyết dụ của các thâỳ tu trong chùa. Nhưng thực ra đó chỉ là dụng cụ chữa cháy, mới tinh, mầu đỏ bóng lộn vừa được trang bị trong tu viện.

 
 
 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

 
 

Leave a Comment