ThanhTran: Hiểm Họa Từ Phương Bắc.
Sự an nguy cho Dân Tộc và Đất Nước trải qua bốn ngàn năm lịch sử tỉ lệ nghịch với sự thịnh suy của các triều đại phương bắc từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh và ngay cả sự lớn mạnh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa từ cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21.
Trước hết xin nói về nước Âu Lạc (208 trước CN–180 TCN) và Nhà Tần (221 TCN–208 TCN ): Năm 221 trước công nguyên Tần Vương sau khi thu tóm sáu nước về một mối tự xưng là Tần Thủy Hoàng đế, rồi sai Đồ Thư cử 50 vạn quân chia làm năm đạo đánh Lĩnh Nam (trong đó có Tây Âu, tiền thân của Âu Lạc sau nầy). Mặc dù thủ lĩnh Tây âu tử trận, quân Tần bị sa lầy ở chiến trận phía cực nam nầy. Quân Tần cũng thiệt hại đến hàng chục vạn người trong đó có tướng Đồ Thư. Tình hình chiến trường và tình cảnh quân Tần tại nơi nầy cho đến khi Tần Thủy Hoàng chết được Sử gia Tư Mã Thiên mô tả như sau:
“Đương bấy giờ, nhà Tần ở phía bắc thì mắc họa với người Hồ, phía nam thì mắc họa với người Việt (Tây Âu là một nhóm của Bách Việt). Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong. Trong hơn mười năm, đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây ở dọc đường… kịp khi Thủy Hoàng Đế băng, cả thiên hạ nổi lên chống”.(1)
Khi Thủy Hoàng chết vào năm 209 TCN, năm sau Tần Nhị Thế ra lệnh bãi binh ở Bách Việt. Trong cuộc kháng chiến của Tây Âu chống Tần có một tướng kiệt xuất là Thục Phán. Lợi dưng lúc quân Tần sa lầy ở chiến trường và Tần bắt đầu suy yếu, Thục Phán đưa quân về nam chiếm nước Văn Lang thành lập nước Âu Lạc (208 TCN-180 TCN) và lấy vương hiệu là An Dương Vương.
Nhà Tây Hán (206 TCN–8 sau CN) và Nước Nam Việt (196 TCN–111 TCN)
Trung quốc dưới thời Hán vũ đế (140 TCN–87 TCN) đã trở thành một đế quốc rộng lớn và hùng mạnh: phía bắc quân Hán đánh chiếm Hung nô chiếm một vùng đất rộng lớn đó là tây bắc Thiểm tây và Cam túc ngày nay, mở đường thông thương với các nước miền Tây vực. Sứ thần nhà Hán đến tận An tức (Iran ngày nay) và Thân độc (Ấn độ); phía đông chiếm đóng Triều tiên, giao thương với Nhật bản, cho nên Nam Việt là mục tiêu sau cùng của nhà Hán là bành trướng xuống phương Nam.
Tại sao Nam Việt lại là mục tiêu bành trướng của Đế quốc Hán (Tiền Hán)?
Lý do: Nam Việt có thủ đô Phiên ngung (Quảng châu ngày nay) gần biển, phía cực nam có ba quận Giao chỉ, Cửu chân và Nhật Nam (Bắc phần và bắc Trung phần ngày nay) nằm trên đường thương mãi hàng hải quốc tế. Con đường nầy được hình thành khoảng thế kỷ thứ ba, thứ hai trước công nguyên nối La Mã bên châu Âu với đế quốc Hán ở phương đông. Ba quận Giao chỉ, Cửu chân, và Nhât Nam là nơi đô hội, dân số ba quận chiếm gần hai phần ba dân số Nam Việt trong đó có Quảng Đông và Quảng Tây. Lê quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục có ghi: “Sau khi bình định xong Nam Việt, vua Võ Đế nhà Hán lấy đất đai Nam Việt chia làm chín quận.” Lúc bấy giờ nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (Bắc phần và Bắc Trung phần) “Vào thời nhà Hán làm vua Trung quốc nước ta (Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam) có 143.743 hộ (nóc nhà) và 981.828 nhân khẩu….” (2)
So với “cả hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây – vào thời Hán, chỉ được 71.805 hộ và 389.673 nhân khẩu…” Do hai yếu tố trên mà, thời đó, sau năm 111 trước công nguyên, Thứ sử Giao Chỉ kiêm cả Lưỡng Quảng với trung tâm hành chánh là thành Long Biên (Hà nội ngày nay). Theo Lê quí Đôn thì “Đô thành nước ta (thành Thăng Long) làm nơi trung chính tâm điểm để bốn phương tấu tập tụ hội hay sao (3).
Cơ hội đã đến cho cuộc nam xâm của Nhà Hán khi nước Nam Việt bắt đầu suy sau khi Triệu Đà mất vào năm 137 TCN. Nội bộ Nam việt chia làm hai phe: Phe Cù Thái hậu và con là hoàng đế Triệu Hưng. Phe nầy muốn Nam Việt nội thuộc Nhà Hán; còn phe kia là Tể tướng Lữ Gia và Thái tử Kiến Đức chống lại. Mùa đông năm 111 TCN, tướng Nhà Hán là Lộ bạt Đức tiến quân vào Phiên ngung, thế là nước Nam Việt bị diệt vong.
Có thể nói từ năm 220 TCN (nhà Tần thống nhất Trung quốc) cho đến đầu thế kỷ 21, các Triều đại Tần Hán cho đến Minh Thanh cho đến Trung cộng luôn luôn nghĩ đến hoặc bành trướng xuống phía nam khi có cơ hội.
Kể từ năm 111 TCN đến năm 939 sau CN, Đất Nước trải qua ba lần bắc thuộc: lần thứ nhất từ 111 TCN (Nước Nam Việt bị diệt vong) – Năm 40 sau CN (Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng); lần thứ nhì từ năm 43 sau CN (Mã Viện đánh bại Hai Bà Trưng) – năm 544 (Lý Bí thành lập nước Vạn Xuân) và lần thứ ba từ 618 (Nhà Đường thống nhất Trung quốc) – năm 939 (Ngô Quyền mở đầu thời đại tự chủ). Lần bắc thuộc thứ ba nầy có những vấn đề đáng chú ý Hán hóa từ thượng tầng Thứ sử, Thái thú đến tận xã ấp.
Năm 679 nhà Đường thành lập An Nam đô hộ phủ ở thượng tầng, chính quyền đô hộ mở rộng cơ sở cai trị đến tận dưới huyện như hương, xã (4). Về thuế má thì hai lần bắc thuộc trước thì phương thức thu thuế chỉ là sư cống nạp nhưng lần bắc thuộc thứ ba dân phải trực tiếp đóng tô thuế: thuế đóng vào ruộng lúa, thuế đóng vào nghề dệt, và thuế đóng vào sưu dịch cá nhân. Triều đại Nhà Đường hùng mạnh so với các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh về sau này. Nhà Tống phía bắc thì bị nạn Liêu, Hạ. Nhà Tống phải nạp cống cho hai xứ nầy. Vương an Thạch, Tể tướng đưa ra chính sách cải cách về kinh tế và mưu cầu một chiến thắng ở phương nam. Cuộc nam chinh thất bại, nhà Tống dần bước vào suy vong. Yên định được mặt bắc và ba lần chiến thắng oanh liệt trước quân Nguyên nên dưới hai triều đại Lý Trần gần 500 năm Đất Nước được hưng thịnh và hòa bình. Có thể nói nền văn minh Lý Trần là nét vàng son trong quá trình lịch sử Dân Tộc.
Triều đại nhà Thanh từ nửa sau thế kỷ 19 gặp nhiều đại họa: bên ngoài thì liệt cường xâu xé Trung quốc, Anh cai trị Hong kong sau chiến tranh nha phiến 1842, các cường quốc khác đều có lãnh địa…. bên trong thì cuộc khởi nghĩa của Thái bình thiên quốc, Hồng Tú Toàn thủ lãnh cuộc khởi nghĩa đã chiếm được 14 tỉnh ở miền nam. Do đó Triều đình nhà Thanh phải đi từ nhượng bộ nầy đến nhượng bộ khác với các cường quốc như Anh Pháp Mỹ Đức Nhật… để nổ lực tái chiếm các tỉnh phía nam. Sau 30 năm duy tân Nhật đọ sức với Hải quân Nhà Thanh. Kết quả trận hải chiến Trung-Nhật cuối thế kỷ 19 Nhà Thanh thua nặng phải ký Hòa ước Mã quan 1894 nhường Triều Tiên cho Nhật cai trị.
Phía bắc thì Nga hoàng mở ảnh hưởng sang phương đông đường xe lửa ngang qua Mãn châu hướng ra biển gây ra cuộc chiến Nga Nhật 1904-1905. Sang đầu thế kỷ 20 tình hình Trung quốc cũng không khá hơn Năm 1901 tám cường quốc trong đó có Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Nhậ,t Đức hội ở Thiên Tân tiến quân vào Bắc kinh. Triều đình nhà Thanh phải nhượng bộ bồi thường chiến phí cho liệt cường 1 triệu lượng vàng, 8 triệu lượng bạc. Nội bộ nhà Thanh bị phân hóa thành hai phe: phe thủ cựu và phe cải cách ngoài ra Triều đình Nhà Thanh còn lo đối phó với phong trào cách mạng do Tôn Văn khởi xướng. Trong tình hình nội trị bấn loạn như thế, Nhà Thanh vẫn không quên chuyện ngoài bờ cõi ở phương nam. Năm 1882 Pháp chiếm Bắc kỳ và năm 1883 đưa tàu chiến đến đánh chiếm Thuận An uy hiếp Triều đình Huế. Hòa ước Quí mùi 1883 Bắc kỳ trở thành một xứ bán thuộc địa của Pháp. Công sứ nhà Thanh ở Paris phản đối Hòa ước và đòi chia đôi Bắc kỳ. Quân Tàu nhân đó tràn sang Bắc kỳ hợp với quân Cờ Đen (Dư đảng của Thái bình Thiên quốc) và quân của Triều đình Huế giao chiến với quân Pháp. Pháp vừa chống trả quân Tàu vừa đưa hải quân lên biển Hoàng hải, giao chiến với quân nhà Thanh ở Bắc lệ. Kết quả quân Thanh thua trận và phải công nhận Pháp đô hộ Việt Nam. Từ đó mới ra đời Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương mãi Pháp-Hoa ngày 9-6-1885 tại Thiên tân (5) giữa Lý Hồng Chuơng (Đại diện Thanh Triều) và Jules Patenôtre (Đại diện Pháp). Hiệp ước gồm 10 điều, trong đó điều 3 qui định đại diện hai bên sẽ làm việc để xác định biện giới Việt-Hoa. Ngày 26-6-1887 Pháp Hoa ký kết Thỏa Ước Phân Định Biên Giới Hoa Việt, ngày 25-6-1895 ký kết Thỏa Ước bổ túc thỏa ước phân định biên giới Việt-hoa ký ngày 26-6-1887 ở Bắc kinh. Thỏa ưóc năm 1895 ấn định một số điểm cụ thể:
Trên bộ: Triều đình Nhà Thanh được thêm một số địa điểm đó là Hoành Mô (70km2) vùng đất nằm giữa thượng nguồn sông Tiên Yên và sông Long Hồ ở Quảng Đông, xã Đèo Lương (300km2) ở Quảng tây và xã Tụ long (750km2) ở Vân nam (6). Xã nầy có mỏ đồng Tụ Long.
Trên biển: ở Vịnh Bắc Việt, Phảp phân chia như thế nầy: Pháp chia theo kinh tuyến Paris là 105 độ 43 phút đông (kinh tuyến quốc tế Greenwich 108 độ 03 phút 18 giây đông) thì Việt Nam được 62% và Trung hoa được 38% vịnh Bắc Việt. Tất nhiên, Triều đình nhà Thanh rất mừng vì các triều đại trước đây vẫn xem Vịnh Bắc Việt thuộc Việt Nam và Trung hoa đã gọi là Giao Chỉ hải (Chiao-Chih Ocean). Phía Pháp thì cần Nhà Thanh thi hành hiệp ước Pháp–Hoa 9-6-1885 để yên việc cai trị Việt nam.
Còn sự bành trướng của Trung cộng từ 1949 đến nay:
Có hai giai đoạn – Từ 1949-1979
Trước tiên, hai di thần nhà Minh là Dương ngạn Địch và Trần thương Xuyên đem 3.000 người Hán đến xin chúa Nguyễn phúc Tần ở Đàng Trong được tá túc vì cuộc phục hưng nhà Minh không thành. Họ đến Đàng Trong năm 1679 và được chúa Nguyễn cho định cư ở Miền Nam (Đồng nai và Định tường). Lớp người mới đến nầy và các hậu duệ của họ qua nhiều thế hệ gọi là người Minh hương.
Từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, có nhiều đợt di dân từ Hoa lục đi khắp thế giới nhiều nhất là châu Á. Đợt di dân vượt Thái Bình Dương sang miền tây Hoa kỳ, trong số họ có nhiều người là công nhân xây dựng đường Hỏa xa xuyên nước Mỹ. Một đợt di dân khác theo đường biển đến các nước Đông Nam Á nhiều nhất ở Mã lai có một công đồng người Hoa sống ở thị thành ngay eo biển Malacca về sau nầy ra đời quốc gia Singapore từ năm 1965.
Riêng ở Việt Nam thì cộng đồng người Hoa rất đông đảo, theo bước Trần thượng Xuyên, Dương ngạn Địch, Mạc Cửu, nhất là cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, họ đến định cư khắp các thành thị từ bắc chí nam, họ chuyên hành nghề kinh doanh, thương mãi. Họ lập thành bang hội. Có bốn bang chính Quảng Đông, Triều Thâu, Phúc Kiến, Hải Nam. Công việc làm ăn của họ phát đạt nơi quê hương mới nên mới có câu: “Nơi nào có mặt trời mọc nơi đó có người Hoa.”
Từ năm 1949 -1969 (năm Hoa kỳ công nhận CHNDTH), Trung cộng xem cộng đồng người Hoa ở hải ngọai nhất là ở châu Á là đạo quân thứ năm. Sau 1-10-1949, Trung cộng tiến hành sự bành trướng bằng lực lượng quân sự. Phía bắc thi có Liên bang Xô viết hậu thuẩn cụ thể họ giao Cựu hoàng Phổ Nghi cho chính phủ nước CHNDTH vì trước đây Lenine đã nói con đường tới Paris đi qua Bắc kinh. Phía đông bắc họ tiến hành cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, phía tây họ xâm lăng Tân cương, Tây tạng, gây chiến với Ấn độ 1962; phía đông pháo vào Kim môn Mã tổ chuẩn bị chiếm Đài loan.
Mặt nam trong đó có Việt nam thì họ tiến hành sự bành trướng qua phương cách:
Trên bộ (phía biện giới Việt-Hoa): Năm 1950, Cộng hòa Nhân Dân Trung hoa công nhận nước Việt nam dân chủ công hòa. Lãnh thổ Trung hoa bấy giờ trở thành hậu cứ an toàn cho Việt Minh. Theo phúc trình của Đại tướng Henri Revers thì Viên Tướng nầy khuyến cáo Pháp nên rút quân khỏi Cao Bắc-Lạng đề tránh đụng độ với Trung cộng. Bản sao phúc trình mật nầy lại nằm trong túi áo của một sinh viên thân Việt minh, sang đầu năm 1951 Việt minh đánh Cao Bắc Lạng. Đồng thời Trung cộng gởi cán bộ, quân đội, vũ khí sang giúp Việt minh, mặt khác Trung cộng dần đưa người Hoa đến định cư và tràn qua biên giới. cũng năm 1951 ông Hồ chí Minh cho triệu tập đại hội đảng với danh xưng là Đảng Lao động Việt Nam. Danh xưng nầy tồn tại đến năm 1976 (7).
Nhớ lại năm 1945 sau 2-9-1945 Việt minh bị cô lập nên đã giả vờ giải tán Đảng cộng sản và biến nó thành Hội nghiên cứu chủ nghĩa Maxism. Khi có hậu thuẫn của Liên xô và Trung công Đảng cộng sản ra mặt hoạt động tuy còn ởm ờ với cái danh xưng là Đảng Lao động Việt nam.
Trên biển: Sau khi chiếm Hải Nam, Trung cộng lại đưa quân chiếm Hoàng Sa, lấy cớ là tiếp thu đảo do Nhật đã chiếm đóng trong đệ nhị thế chiến. Thực hiện việc nầy tức là Trung cộng muốn xem phản ứng của quốc tế như thế nào đối với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa còn non trẻ. Tại hội nghị San Francisco, Hiệp ước Hòa bình và Phòng thủ chung giữa Hoa kỳ và Nhật bản ngày 8-9-1951 ra đời, Nhật tuyên bố từ bỏ chủ quyền các quần đảo Hoàng sa và Trường sa mà Nhật đã chiếm trong thế chiến 2, Thủ tướng Trần văn Hữu thay mặt chính phủ Quốc gia Việt nam tại hôi nghị đã đọc diễn văn xác định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo nầy, không một nước nào phản đối, từ đó đến năm 1974 không thấy bóng dáng của lính Trung cộng.
Sự bành trướng của Trung cộng từ 1979 đến nay:
Trên bộ: Ngày 17-2-1979, Trung cộng đưa trên 200.000 quân tấn công sáu tỉnh biên giới của Việt Nam, có nơi họ tiến sâu vào nội địa Việt Nam đến 40 km. Họ đã phá hủy những cột mốc biên giới có từ thời Pháp thuộc rồi dựng lại những cột mốc mới sâu vào lãnh thổ Việt nam (8). Sau khi Trung cộng rút đi ngày 5-3-1979, về phía Việt nam các thành phố vùng biên giới bị phá hủy hòan toàn.
- Năm 1984 Trung cộng lại chiếm thêm 6 đỉnh cao ở vùng biên giới Việt-Hoa. Trận chiến nầy có thể gọi là cuộc chiến biên giới lần thứ hai. Tiếp theo có hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung quốc thì sau đó Nam qua, Bản Giốc thuộc về Trung quốc. Dần dần, ảnh hưởng của Trung quốc trên lãnh thổ Việt nam gia tăng: hàng hóa đa dạng giá rẻ tràn lan, cán cân thương mãi hằng năm nghiêng về phía Trung quốc đến gần 7 tỉ USD hằng năm (Viêt nam nhập siêu từ Trung quốc). Đường cao tốc đã và sẽ hoàn thành và nối liền Vân Nam-Vịnh Bắc Việt; Lạng sơn-Hà nội…. Trong tương lai, Trung quốc sẽ cùng Hoa kỳ và Việt nam khai thác khoáng sản như than đá ở châu thổ Sông Hồng rộng đến 5.700 km2. Hà nội còn để Trung quốc khai thác mỏ bauxite ở Tây nguyên mặc cho có sự can gián từ mọi phía. Cách nơi khai thác bauxite về phía Cambodia, Lào, Trung quốc thuê Attapu (thuộc Nam Lào) trong 99 năm. Trên thượng nguồn sông Mekong thuộc Trung quốc có nhiều đập thủy điện trong đó đập Tiểu Loan cao nhất thế giới, rồi đến các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Hồng ở Vân Nam. Những đập thủy điện nầy cung cấp điện lực cho Hoa nam và vài nước Đông Nam Á như Lào, Miến Điện, Việt nam. Những đập thủy điện nầy còn có tác dụng là đưa nước lên sông Dương tử, nước từ Dương tử có thể đưa lên xa đến Hoàng hà. Còn hạ nguồn sông Mekong thì gánh chịu hậu quả tai hại. Nặng nhất là 13 triệu dân đang sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long. Nền văn minh miệt vườn nơi đây sẽ tàn phai theo thời gian do thảm họa về môi sinh do con người tàn phá do sông nước ngập mặn nước biển từ các cửa sông dâng cao và tiến sâu vào đất liền. Mùa nước lũ sẽ không còn có đều đặn hàng năm. Nước lủ có lợi ích là hằng năm tô bồi phù sa cho hạ lưu. Người ta cần lo âu khi có một “sự cố” nào đó mà vỡ đập thì hạ lưu gánh chịu trận đại hồng thủy như “sự cố” vừa mới xẩy đến cho Nam hàn ngày 6-9-2009: Đập thủy điện Hwangang thuộc Bắc Triều tiên nằm trên thượng nguồn sông Imjin, Bắc Triều Tiên thình lình xả đập mà không thông báo nước lủ đã cuốn trôi 6 người Nam Hàn.
Trên biển: Công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm văn Đồng xác nhận chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa đã mở đường cho Trung quốc tiến vào biển Đông sau nầy. Đầu năm 1974, Trung cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Năm 1988, Trung cộng lại chiếm thêm một số đảo lớn thuộc quần đảo Trường Sa do quân đội nhân dân của nước CHXHCN Việt nam trấn đóng. Hải quân Việt nam thua trận và thiệt mất 64 người. Trong lúc đó, hải quân Liên xô trấn đóng ở Cam ranh không can thiêp theo tinh thần hiệp ước an ninh hổ tương 1978. Tiếp theo năm 2000, Trung quốc đòi chia thêm lãnh hải trong vinh Bắc Việt. chính quyền cộng sản Trung hoa cho rằng thỏa ước Bắc kinh ngày 26-6-1887 là bất công và đòi phân chia lại mặc dù theo thỏa ước nầy thì Việt nam được 62% Trung quốc được 38%. Cách phân chia mới theo hiệp định 25-12-2000 giữa Việt nam và Trung quốc thì Việt nam được 53.23%, Trung hoa được 46.77% (diện tích Vịnh Bắc Việt là 123700 km2). So sánh hai con số đó ông Lê công Phụng tự mãn cho rằng ta hơn Trung quốc 6.46% khoảng 8.215 km2. Ông Phụng quên hoặc cố quên từ 1887 trở về trước các triều đại Trung hoa vẫn cho Vịnh Bắc Việt của Việt nam và đã gọi đó là Giao Chỉ Hải.
Tổng kết từ đời nhà Tần từ năm 221 TCN cho đến ngày nay (cuối năm 2009 của thế kỷ 21 sau Công nguyên) thì cuộc nam tiến hay nam xâm do Trung quốc thực hiện đã gặt hái nhiều thành công nhất trong giai đoạn 1979 đến nay. (1-1-1979 Hoa kỳ chính thức bình thường hóa bang giao với Trung cộng và từ đó nước nầy cùng với Nga Mỹ trở thành một siêu cường quân sự và cùng với Nhật trở thành siêu cường kinh tế ở Châu Á). Trên đất liền, Trung quốc gia tăng ảnh hưởng lên Miến Điện để mở đuờng ra Vịnh Bengale, Trung cộng còn thuê các cứ điểm trên đất Lào và Cambodia 99 năm, hàng trăm ngàn người Hoa vào lãnh thổ Việt nam dưới nhiều dạng như du lịch, làm công nhân. Ngay tại nội địa Việt nam thì Hội an là nơi ông Giang trạch Dân, Hồ cẩm Đào mỗi lần công du đến Việt nam, hai ông thường đến thăm và tắm biển, có khi ông Hồ cẩm Đào đến Hội an nghỉ ngơi trước khi đến Hà nội phó hội. Các ông xem Hội an như là hành cung Nhiệt hà thời các Hoàng đế Trung hoa. Ngoài biển Đông thì Trung quốc tự vẽ ranh giới lãnh hải hình lưỡi bò chạy sát bờ biển Việt Nam. Lãnh hải hình lưỡi bò đó bao gồm đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa giờ đây Trung quốc gọi là vùng biển phía nam của tổ quốc (Trung hoa). Từ vùng biển nầy, Trung quốc nối tiếp công việc của Toa Đô đời Nguyên cũng như Trịnh Hòa đời Minh (9) đồng thời chiến hạm cũng như thương thuyền từ biển Đông xuống Malacca qua Ấn độ duơng đến tận bờ biển đông Phi châu. Từ nội địa đến biển cả, Trung quốc đã tạo thế gọng kềm trên bán đảo Đông dương, những đập thủy điện ở thượng nguồn sông Hồng và sông Mekong là lưởi dao bén đang kề cổ 86 triệu dân Việt Nam nếu ta so sánh 40 triệu mét khối nước tự thượng nguồn sông Imjin thuộc Bắc Triều Tiên cuốn trôi 6 người Nam Hàn ở hạ lưu do” sự cố xả nước không báo trước”.
Trung quốc đã thành công trên đà bành trướng về phía nam và giờ đây họ gọi vùng biển Đông là vùng biển phía nam của tổ quốc (Trung hoa) còn các hướng khác thì sao?
Mặt bắc: Vào đời Tần Trung quốc gặp họa người Hồ (Hung nô) ở phương bắc, nhà Tần cho xây Vạn lý Trường Thành rất tốn công tốn của. Tường thành không ngăn được tai họa từ những bộ tộc bên ngoài thảo nguyên gây rối nơi biên cương cũng như không ngăn được vó ngựa quân Mông cổ và bộ tộc Mãn châu tràn vào cai trị Trung nguyên. Một khi trở thành siêu cường quân sự của thế giới và siêu cường kinh tế châu Á đầu thế kỷ 21, thế lực của Trung quốc cũng không tiến xa hơn về Mông cổ và Liên bang Nga. Với nước Mông cổ lớn hơn gấp 3 lần Việt Nam dân số khoảng 3 triệu, tài nguyên khoáng sản phong phú, Trung quốc không giành được quyền khai thác tài nguyên trước Liên bang Nga. Với Liên bang Nga mà ngày trước Trung quốc gọi là nước La Sát hàng hóa từ nước CHND Trung hoa cũng không tràn ngập thị trường Nga như ở Châu Âu hoặc Bắc Mỹ hoặc ở Việt Nam. Vì Nga là một nước cô lập giàu khoáng sản, dầu hỏa, khí đốt châu Âu, châu Á đang cần các thứ đó. Nga lại có một nguồn nước ngọt lớn nhất thế giới: Hồ Baikal chứa 25% lượng hước ngọt của thế giới. Hơn nữa người Nga không hiếu khách từ đó ít thân thiện với người ngoại quốc. Bên cạnh đó Nga cũng không tha thiết trở thành hội viên thứ 151 của WTO. Một điều đáng ngạc nhiên là một cường quốc kinh tế G8, Nga vẫn đứng ngoài tổ chức WTO.
Phía tây: Nhờ liên kết với Hoa kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố, Trung quốc trước mắt khống chế được Tây tạng, Tân cương song mầm mống bất an vẫn còn đó. Mộng khai thông con đường tơ lụa ngày trước vẫn còn xa vời vì Nga và NATO đang hiện diện ở đây. Người Trung Á thì đang nhìn người Hán từ cao nguyên Thanh Tạng đến Tân cương với sự cảnh giác cao và sẳn sàng tạo chiến tuyến như hai ngàn năm trước:
Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại
Mai Hồ vào Thanh hải dòm qua.
(Hán văn: Hán hạ Bạch Đăng Thành, Hồ khuy Thanh Hải Đô – Đặng trần Côn – Chinh phụ ngâm)
Với nước Ấn Độ: Quốc gia nầy là nước đông dân thứ nhì thế giới đồng thời là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, dân tuy nghèo và sự bất công do nhiều nhiều tầng giai cấp đem laị, song thuyết vô sản từ lục địa Trung quốc không được hoan nghênh ở Tiểu lục địa nầy. Trung quốc lại còn hậu thuẫn Pakistan trong tranh chấp Ấn độ-Pakistan nữa.
Đối với miền Đông Bắc Á từ sông Áp lục đến biển Hoàng hải: Năm 1894 Nhà Thanh mất quyền bảo hộ Cao ly, 1950-1953 thế lực Trung công hiện diện ở Bắc Triều tiên, rồi dừng ở đó, nay thì Trung quốc phải hậu thuẫn và duy trì chế độ Bình nhưởng nhưng phải lập hàng rào chắn ở biên giới Trung quốc-Bắc triều tiên như bức tường Berlin 1945-1989. Vì một khi có biến đông ở Bắc Hàn hàng triệu người sẽ tràn vào Trung quốc và nơi nầy sẽ là một trại tạm cư trong khi chờ đến một nước thứ ba. Trung quốc rất e ngại điều nầy Từ Hoàng hải hướng ra phía đông Trung quốc gặp hai cường quốc Nhật và Nam hàn. Nhật thì có chiếc dù Hoa kỳ che chắn; Nam hàn thì một cường quốc mới trổi lên sau 1988. Tới đây với chính phủ mới ở Nhật, Trung quốc chỉ còn cách cùng Nam hàn hợp tác với chính sách Đại Đông Á của Nhật (hướng về châu Á nhiều hơn)
Từ Hoàng hải đến Nam hải. Đối với Đài loan (Trung hoa dân quốc) Trung quốc chỉ hăm doa dùng vũ lực. Có lần Trung quốc dàn quân ở Phúc kiến, người ta có cảm tưởng chiến tranh sắp xẩy ra, tư bản ùn ùn rút vốn ra đi song nguồn dự trữ ngoại tệ của Đài Loan vẫn đầy đủ và mạnh. Có nghĩa là kinh tế Đài loan vẫn vững mạnh. Đài loan không những có thể tự vệ mà còn có pháo tầm xa phá vỡ đập Tam hợp trên sông Dương tử một khi Đài loan ở vào thế chẳng đặng đừng.
Phía đông vùng lưỡi bò do Trung quốc tự vẽ có hai nước Philippines và Indonesia. Với Philippines, Trung quốc theo chính sách ‘mềm nắn, rắn buông” nên khi Quốc hội Philippines thông qua vấn đề lãnh hải, hải đảo thì Trung quốc phản đối lấy lệ vì họ cũng hiểu “vuốt mặt cũng nể mũi”.
Phía nam vùng lưỡi bò do Trung quốc tự vẽ có nước Indonesia đó là quốc gia Hồi giáo đông dân thế giới mà cộng sản đã thua năm 1965. Năm 1955 Chu ân Lai (Trung hoa cộng sản) và Phạm văn Đồng (VNDCCH) đến Bandung, Indonesia tham dự phong trào Phi Liên Kết do Tito nước Nam tư cũ sáng lập. Nhân cơ hội Tổng Thống Sukarno của Indonesia hồi đó chủ trương trung lập trong đối ngọai thì theo kế hoạch đi dây, Trung công đưa tình báo và đảng viên xâm nhập vào cộng đồng Hoa kiều mai phục chờ cơ hội. Thời cơ đã đến năm 1965 cộng sản ở Indonesia tiến hành đảo chánh. Cuộc chính biến thất bại có đến 1 triệu đảng viên công sản bị giết. Đảng cộng sản đông đảo hàng thứ ba thế giới bị tiêu diệt. Chính phủ Suharto lên cầm quyền và ngả theo Tây phương.
Phía tây bán đảo Đông dương có nước Thái lan theo thể chế quân chủ lập hiến. Dân tình ở đây rất trọng Vua của họ. Tội khi quân bị xử nặng do đó Trung quốc cộng sản khó mà xâm nhập như họ đã thực hiện bên nước láng giềng Thái lan là Miến Điện. Trước đây vào năm 1976 cộng sản Hà nội cũng thực hiện một cuộc đảo chánh nhưng thất bại.
Như thế thì từ vùng lưỡi bò mà họ tự cho là vùng biển của “nam tổ quốc” Trung quốc theo biển Malacca sang Ấn độ dương rồi đến Đông Phi châu. Trung quốc đến đó để đầu tư và thuê đất để làm ruộng, nhưng người Trung quốc không được hoan nghênh do vìệc làm và cách đối xử “con trời” của họ đối với dân địa phương như vụ viêc ở Algerie thì đủ rõ.
Trở lại bán đảo Đông dương, thì Đất nước Việt Nam đang hứng chịu nhiều hiểm họa từ Trung quốc do hoàn cảnh lịch sử và địa hình sông liền sông núi liền núi. Như những dẩn chứng vừa nêu ở trên thì đây có thể nói Đất Nước đang đi vào giai đoạn “bắc thuộc lần thứ tư” (sau ba lần bắc thuộc năm 111 trước CN đến 939 sau CN). Giải đất nơi giao thoa giữa hai nền văn minh Trung-Ấn giờ đây màu sắc Trung quốc dần dần rõ nét: về mặt nhân sự hàng trăm ngàn dân Trung quốc sinh họat trên lãnh thổ Việt nam dưới nhiều dạng như làm công nhân, du lịch, binh sĩ trá hình, về thương mãi thì cán cân nghiêng về phía Trung quốc (Việt nam nhập nhiều hơn xuất; với Hoa kỳ thì Việt nam xuất nhiều hơn nhập; thặng dư mậu dịch 9 tỉ USD với Hoa kỳ, Việt Nam lại nhập siêu từ Trung quốc con số tương tự). Bên ngòai về phía tây Trung quốc thuê ở Lào và Cambodia những vị trí chiến lược sát sườn Tây nguyên, những vị trí nầy phối hợp với Hoàng sa, Trường sa làm thế ỷ dốc khi cần, đó là chưa kể các đập thượng nguồn sông Mekong, sông Hồng về phía Trung quốc gặp “sự cố” khi có nạn trục xuất người Hoa như năm 1978.
Sự Nam xâm của Trung quốc thành công là nhờ đâu? Nhờ chính sách “tằm ăn dâu” mà Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn đã lưu ý hơn 700 năm trước đây. Năm 1300, Khi Hưng Đạo Vương sắp mất, vua Trần Anh Tông đến thăm và đã hỏi Ngài: “Thượng phụ (chỉ Hưng Đạo Vương) một mai khuất núi, phỏng quân bắc lại sang thì làm thế nào? Ngài trả lời rằng: “Đại để, kẻ kia có tràng (trường) trận, mà ta cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách ăn dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị…” (10)
Điều Hưng Đạo Vương lo lắng cho Đất Nước đã xẩy ra hơn 700 năm sau. Tiến hành cuộc chiến tranh biên giới 1979 Trung quốc đã thất bại do không thực hiện ước mơ “Sáng Lạng sơn, chiều Hà nội” vì vũ khí của Hà nội gồm vũ khí của Liên xô và vũ khí của miền nam để lại sau 30-4-1975; một chiếc máy bay của Trung quốc bị một vũ khí hiện đại hạ ở địa phận Hà Nam Ninh. Đặng tiểu Bình buộc lòng phải theo đuổi chương trình bốn hiện đại hóa. Như thế thì lúc đầu Hà nội đã chống trả được khi quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió như lửa.
Mặt khác lúc đó toàn dân trong lúc sơn hà nguy biến đã một lòng đoàn kết chống xâm lăng. Một khi hòa hoãn được với Liên xô, Mỹ khai trương sứ quán Hoa kỳ ở Bắc kinh thì Trung quốc bắt đầu thực hiện chính sách tầm thực (tằm ăn lá) đối với Hà nội. Trước hết Trung quốc âm thầm chiếm các đỉnh cao ở biên giới Việt-Hoa năm 1984. Người ta cho đây là chiến tranh biên giới lần thứ hai sau năm 1979. Trận chiến nầy đối với Trung quốc rất quan trong nên Tổng Bí thư Hồ diệu Bang rồi Thủ tướng Triệu tử Dương lần lượt đến thăm mấy đỉnh cao chiến lược vừa chiếm được từ tay quân đội nhân dân Việt nam. Đến năm 1988 Trung quốc lại chiếm 3 đảo thuộc quần đảo Trường sa (các đảo nầy do quân đội nhân dân Việt nam trấn đóng). Cuối năm 2000 bất chiến tự nhiên thành Trung quốc được thêm Bản giốc, ải Nam quan, thêm 8% lãnh hải vịnh Bắc Việt. Ngày nay về mặt kinh tế Trung quốc xuất siêu sang Việt nam. Người ta còn nói thị trường Việt nam là nơi để “đổ rác” có nghĩa là những sản phẩm tiêu chuẩn được tiêu thụ dễ dàng ở đây. Bắc thuộc lần nầy khác với ba lần trước: nước mình dần dần đóng vai trò phụ thuộc, là thị trường tiêu thụ và người làm công cho một cường quốc kinh tế lớn nhất nhì thế giới bên láng giềng sát nách.
Nhà cầm quyền Hà nội chắc cũng thấu rõ những thua thiệt với nước láng giềng khổng lồ đầy tham vọng mà không có đối sách nào cụ thể để ngăn chận ảnh hưởng từ phương bắc hoặc xứng đáng trong vai trò cầu nối hay tạo sự cân bằng mà tổ chức ASEAN hằng mong ước. Có ý kiến cho rằng có sự tranh chấp trong nội bộ đảng cộng sản ở Hà nội rồi phe thân Bắc kinh thắng phe thân Mỹ. Nhìn bề ngoài thì đúng như thế, chắng hạn Phát ngôn nhân Bộ ngoại giao của chính quyền Hà nội lâp đi lập lại hàng chục lần “Hoàng sa và Trường sa là của Việt nam, chúng tôi có đủ bằng chứng lịch sử…” ít lâu sau lại có tờ báo điện tử của đảng cộng sản lại cho đăng bài viết tường thuật hải quân Trung quốc tập trân ở vùng biển thuộc lãnh hải phía nam của tổ quốc (trong đó có Hoàng sa và Trường sa). Song nhìn lại quá trình bang giao giữa Việt (nước VNDCCH rồi CHXHCN Việt Nam) và Trung cộng từ 1954 đến nay thì Chính quyền Hà nội đối với Trung cộng thì BẰNG MẶT NHƯNG KHÔNG BẰNG LÒNG nên khi gặp thời cơ thì Hà nội trở mặt ngay. (Người Trung quốc thường gọi Việt nam là kẻ phản bội).
Năm 1954, Trung cộng ép Việt Minh ký hiệp định Genève rồi Chu ân Lai bày tỏ với Đặc sứ Ngô đình Luyện muốn mở Lãnh sự quán tại Saigon. Trung quốc lo lắng khi Hà nội cưỡng chiếm miền nam. Tờ Nhân Dân Trung quốc ngày 30-4-1975 trong bài xã luận đã nêu lên quan điểm “không nên đuổi một con cọp (Mỹ) ra cửa trước lại rước một con cọp khác (Liên-xô) vào cửa sau.
Cơ hội đến, Liên xô cần bao vây Trung quốc, Việt nam liên kết với Liên xô Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước ngày 3-11-1978, Việt nam được vào LHQ, có nhiều cơ may Mỹ sẽ mở Sứ quán tại Hà nội trước cả Bắc kinh trong tương lai gần. Trước những thành quả ngoại giao ngoạn mục như thế Hà nội ra mặt chống Trung quốc trước khi thực hiện tham vọng thống trị Đông dương và bành trướng xuống các nước vùng vịnh Thái lan như lời của Cảnh Tiêu, ủy viên Bộ chính trị, Tổng thư ký Quân ủy Ủy ban trung ương đảng cộng sản Trung quốc viết sau đây:
“Ngoài cuộc xâm lược (Cambodia), nước Việt nam cũng từng nhiều lần gây ra những sự cố đẩm máu ở biên giới Hoa Việt. Điều đó đã gây nhiều sự cố và khuyến khích những người phân định biên giới lấn vào lãnh thổ Trung hoa 600 cây số vuông. Việt nam làm ngơ trước những phản kháng lập đi lập lại của chính phủ chúng ta. Chúng ta cũng đã tuyên bố rằng chúng ta muốn chính phủ Việt nam hiểu rõ sự rông lượng của chúng ta có giới hạn… Chúng ta cho họ biết hiện nay (1-1979 ) chúng ta không chiến đấu. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng một ngày kia chúng ta sẽ không chiến đấu” (11)
Sau đó những chuyện không may xẩy đến cho đảng cộng sản đang cai trị nước cộng hòa XHCNVN: Mỹ chính thức bình thường hóa bang giao với Trung quốc (khai trương Sư quán Mỹ ở Bắc kinh) ngày 1-1-1979 trái với dự định ban đầu của chính quyền Jimmy Carter là lập Sứ quán Mỹ ở Hà nội trước.
Liên xô hòa hoản với Trung quốc, biên giới Liên xô-Trung quốc giờ đây là biên giới hòa bình hữu nghị và hợp tác.
Cuối thập niên 1980 các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên xô lần lược sụp đổ. Phong trào dân chủ lan đến Bắc kinh. Sau biến cố đẩm máu Thiên an môn, chế độ công sản Trung quốc vững mạnh và phát triển kinh tế thị trường mang màu sắc Trung quốc. Hà nội vì muốn cứu đảng phải ngả theo Trung quốc. Điều 4 hiến pháp 1992 xác định vai trò độc tôn của đảng cộng sản. Một lần nữa chế độ cộng sản lại thoát hiểm nhờ tường thành xã hội chủ nghĩa Trung quốc vững mạnh. Năm 1995 Mỹ khai trương Sứ quán ở Hà nội mở đầu một chương mới trong quan hệ Việt -Mỹ. Từ đây Hà nội không còn bị cô lập với thế giới bên ngoài nữa.
Học theo mô thức Trung quốc đảng và nhà nước Việt nam làm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách kinh tế nầy đã giúp tập thể đảng viên và lớp người ăn theo giàu kếch sù. Hằng năm trong mấy triệu đoàn viên thanh niên người ta “tuyển” được khoảng một trăm ngàn đoàn viên thành đảng viên. Những “siêu công chức” nầy ngày càng giàu sang, một khi họ trở thành ủy viên trung ương đảng thì họ thủ đắc một số tài sản trị giá từ hằng trăm triệu USD đến cả tỷ USD. Từ thế lực họ gặt hái ra tiền, từ tiền cũng cố thế lực để một lúc nào đó chen chân vào bộ chính trị để trở thành một trong 16 người có quyền lực cao nhất nước.
Tôi còn nhớ khi tỉ phú Bill Gates đến thăm Việt nam, nhiều bạn trẻ Việt nam có ước mơ được giàu có ùn ùn kéo nhau đi xem mặt người giàu nhất hành tinh hoặc tìm sách nói về bí quyết làm giàu nhưng sao họ không chịu hỏi những thanh niên có cơ hội trở thành đảng viên. Đó là thành phần nòng cốt ngày càng phát triển của chủ nghĩa tư bản hoang dã hay chủ nghĩa tư bản thân hữu.
Tập thể tư bản đỏ nầy ngày càng đông và ngày càng giầu nhờ lấy của công làm của tư. Quốc khố ngày càng vơi đi. Thí dụ đa số công ty quốc doanh làm ăn thua lổ hiện chiếm dụng vốn của nhà nước lên đến 900.000 tỉ VND, chính phủ phải kích cầu lên đến 6 tỉ USD. Năm 2009 chính phủ phát hành 100.000 tỉ VND công trái phiếu nhưng không thành công. Khi khủng hoảng tài chánh thế giới xẩy đến, kho dự trử ngoài tệ 22 tỉ USD cạn dần (12) Trung quốc ra tay nghĩa hiệp bơm tiền vào tiếp sức, một lần nừa chế độ cộng sản Hà nội được cứu nguy. Một lần nữa vì muốn sự độc tôn của đảng, Hà nội đi vào quỹ đạo của Trung quốc như học tập kinh nghiệm của nhau, bắt chước 100% việc làm của Trung quốc. Tuy nhiên Hà nội vẫn chờ đợi vận may sẽ mĩm cười với đảng của họ để chống Trung quốc. Trong quá khứ – Đối với Trung quốc họ không chịu thanh toán số nợ 20 tỉ nhân dân tệ trong chiến tranh. – Đối với Liên xô cũ: Liên xô cho chính quyền Hà nội vay 1 tỉ rúp/dollar (1 rup tương đương 1 dollar). Khi Liên xô sụp đổ đồng rúp mất giá 1 dollar tính ra hàng ngàn rúp, Hà nội đòi trả nợ theo giá mới!
Trong thâm tâm, nhà cầm quyền Hà nội hiện giờ là mong ước Trung quốc có nội loạn lãnh thổ chia ba một khối sâu trong nội địa, một khối ven biển phía đông bắc, một khối ven biển phía nam hoặc một cuộc chiến giữa Trung quốc – Đài loan, lúc đó Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp để bảo vệ Đài loan. Hà nội còn hy vọng Mỹ, Singapore, Ấn độ, Úc liên minh để bảo vệ Biển Đông lúc đó Hoàng Sa Trường Sa sẽ trở về Việt nam. Cũng có lúc Hà nội mong Trung quốc mở ra cuộc chiến với Việt Nam, lúc đó Hà nội sẽ đoàn kết được toàn dân như năm 1979.
Nói một cách khác, Hà nội ước mong có một siêu cường nhảy vào giúp Hà nội chống Trung quốc như Liên xô đã làm năm 1978 trước đây. Chẳng hạn vì quyền lợi nước Mỹ mà có cuộc chiến Mỹ-Trung hay thành lập liên minh Mỹ-Nhật-Ấn độ-Australia bao vây Trung quốc như thời chiến tranh lạnh thì lúc đó người ta mới thấy 700 tờ báo, mấy chục đài truyền thanh truyền hình đua nhau phê bình xỉ vả Trung quốc như truyền thông Hà nội đã làm từ 1978 đến 1990.
Tuy nhiên trong ngắn hạn thì mơ ước của Hà nội chưa thành sự thật đâu. Trước hết Singapore trong tổ chức ASEAN thì nói sẽ không có cuộc chiến như 1979 (William Choong chủ biên tờ The Stait Times). Tác giả Choong của bài báo còn ca tụng chính sách đi dây giữa Mỹ-Trung quốc của Hà nội. Thật sự không phải như vậy vì Hà nội muốn Mỹ giúp Hà nội như Mỹ đã làm với Nam Việt nam trước đây. Tác giả Choong còn ca tụng Hà nội để Trung quốc đầu tư 1,6 tỉ USD khai thác bauxite ở Tây nguyên. Theo tác giả thì đó là cách rút “hầu bao” của Trung quốc, đó là cách làm tiêu hao tiềm năng của địch. Không biết dụng ý của bài báo là gì nhưng trước mắt Hà nôị rất tự mãn mà không coi tiếng nói của nhân dân ra gì.
Còn các cường quốc kinh tế làm ăn ở Việt nam đều có kế hoạch lâu dài cho nên họ rất mong sự ổn định kể cả ổn định chính trị mà Hà nội đang cần (Hà nội đàn áp những phản kháng ôn hòa vì lòng yêu nước).
Gần đây, Hà nội bắt đầu lo lắng: các quan chức Việt nam trong chốn riêng tư, thường xuyên than về điều mà họ xem là sự cô lập tương đối của nước mình trên trường ngoại giao cho tương lai vì giải pháp chung cuộc cho tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa Trường Sa trong 10-20 năm tới lúc đó thì Trung quốc mạnh thêm lên rồi!
Nói về Ấn độ một cường quốc đang lên vốn khắc tinh với cường quốc Trung quốc vì Trung quốc hậu thuẩn Pakistan, tuy có quan hệ tốt với Hà nội song không muốn làm cho Trung quốc bực tức và đối với Biển Đông thì Ấn độ đang trông chờ Mỹ.
Đối với Biển Đông thì chính sách của Mỹ với Biển Đông sẽ tiếp tục là hành động cân bằng tế nhị, giữa biểu đạt cứng cỏi công khai và những nổ lực ngấm ngầm nhằm tái lập đối thoại. Về căn cứ chiến lược ở châu Á thì Mỹ có hai quân cảng Guam và Chargi nếu có Cam ranh chăng nữa thì Mỹ cần địa điểm hơn căn cứ.
Quan điểm của Mỹ đã rõ. Trong lúc Mỹ đang dẫn đầu vốn đầu tư ở Việt nam, bà Ngoại trưởng Bill Clinton đã tuyên bố Mỹ trở lại châu Á thì nên được hiểu cần ổn định để làm ăn, Mỹ giữ vai trò trọng tài, với Trung quốc thì cùng Trung quốc đóng vai trò G2 châu Á (với thế giới Mỹ có mặt ở G8, G20) cho nên mơ ước vai trò của Mỹ trong chiến tranh lạnh là một ước mơ không thực tế.
Cho nên để ngăn ngừa nạn bắc xâm, trước hết Hà nội nên nghe lời khuyến cáo của Đô đốc Denis Blair nguyên tư lệnh lực lượng Hoa kỳ tại Thái Bình Dương. Tháng 2-2002, Đô đốc Blair đến Hà nội khuyên Việt Nam biến Cam ranh thành một căn cứ mở cửa cho phép tàu bè tất cả các nước trên thế giới ghé lại.
Gần đây lại có khuyến cáo: Việt nam có thể duy trì sự linh động chiến lược tốt hơn nên tiếp tục giữ thế cân bằng giữa Mỹ-Ấn độ-Trung quốc bằng cách cho quyền cập bến cảng theo nguyên tắc tạm thời và ngắn hạn. Hà nội nên sớm hành động trước khi quá muộn.
THANHTRAN, California.
CHÚ THÍCH:
1.Tư Mã Thiên – Sử Ký – Tần Thủy Hoàng – Bản kỷ
2. Lê quí Đôn – Phủ Biên Tạp Lục – bản dịch của Lê xuân Giáo – Quyển 1 trang 27, 28.
3. Sách đã dẩn ở (2)
4. Lê mạnh Hùng – Nhìn lại Sử Việt – Từ tiền sử đến tự chủ trang 210-211. Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ.
5. Nguyên văn bằng tiếng Pháp: Traité de La Paix, d’ Amitié et de commerce. Conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin,1885 à Tien Tsin. Tạm dịch: Hiệp ước Hoà bình, hữu nghị và Thương mãi ký kết giữa Pháp và Trung Hoa ngày 9-6-1885 tại Thiên tân.
6. Nguyễn văn Huy – Sự hình thành các vùng biên giới miền Bắc – Nguyệt san thế kỷ 21, California số 149 tháng 9-2001.
7. Đại hội 4 năm 1976 đổi danh xưng về đảng và tên nước: đảng Cộng sản Việt nam, nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.
8. Lý công luận viết từ Hà nội 4-2-2002 được Việt báo online, California đăng lại số 2496 ngày 6-2-2002.
9. Toa đô đời Nguyên đem quân từ Quảng châu xuống đánh Thị nại (Vinaya, Qui nhơn ngày nay) Trịnh Hòa đời Minh chỉ huy hạm đội qua tận đông Phi châu.
10. Ngô sĩ Liên – Đại Việt Sử ký toàn thư – Bản dịch của NXB Khoa học Xã hội, Hà nội, 1993 tập 2 trang 79.
11. Bùi xuân Quang trích dẫn tài liệu Etudes et Documents ở Đài loan số tháng 4/1981.
12. Khi khủng hoảng tài chính toàn câu nổ ra, hết ngân hàng nầy đến ngân hàng kia vỡ nợ vì bong bóng địa ốc thì một viên chức Việt nam khoe họ gởi 22 tỉ USD ngoại tệ dư trử cho những ngân hàng “có uy tín” ở ngoại quốc!









0 Comments
You can be the first one to leave a comment.