<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
		>
<channel>
	<title>Comments on: Trần Gia Phụng: Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử</title>
	<atom:link href="http://nguoivietboston.com/?feed=rss2&#038;p=18458" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://nguoivietboston.com/?p=18458</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 08 Sep 2010 02:21:26 -0400</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8.4</generator>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
		<item>
		<title>By: Quê Hương</title>
		<link>http://nguoivietboston.com/?p=18458&#038;cpage=1#comment-6721</link>
		<dc:creator>Quê Hương</dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Nov 2009 18:00:16 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://nguoivietboston.com/?p=18458#comment-6721</guid>
		<description>Xin thành thật đa tạ những sưu tầm công phu về lịch sử của các bậc thầy Trần Gia Phụng và Nguyễn Hùng Kiệt.  
Xin chúc ban biên tập Người Việt Boston và tất cả người Việt chúng ta lể Tạ Ơn nhiều an lành</description>
		<content:encoded><![CDATA[<p>Xin thành thật đa tạ những sưu tầm công phu về lịch sử của các bậc thầy Trần Gia Phụng và Nguyễn Hùng Kiệt.<br />
Xin chúc ban biên tập Người Việt Boston và tất cả người Việt chúng ta lể Tạ Ơn nhiều an lành</p>
]]></content:encoded>
	</item>
	<item>
		<title>By: Nguyen Hung Kiet</title>
		<link>http://nguoivietboston.com/?p=18458&#038;cpage=1#comment-6688</link>
		<dc:creator>Nguyen Hung Kiet</dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Nov 2009 08:10:51 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://nguoivietboston.com/?p=18458#comment-6688</guid>
		<description>Kính gởi Sử Gia Trần Gia Phụng .
Cám ơn Học giả bài viết rất rõ ràng , nhiều tư liệu quí. Tuy nhiên Tôi Không đồng ý Luận điểm : Việt Nam Bắc thuộc từ 208 TCN- 938. theo tôi Bắc thuộc từ 111 TCN- 938 .
có nghỉa tôi chấp nhận Nam Viet Võ Đế hay Triệu Vũ Đế ( Triệu Đà )  .Nhà Triệu: Triệu Vũ Đế,(207-137)  Triệu Văn Vương ( con của Trọng Thuỷ và Mỹ Châu (136 – 125 TCN), Minh vương (124 – 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN) là của Lịch sử Việt Nam. vì những lý do sau đây :
1. Lãnh thồ Nam Việt bao gồm dân tộc  Bách Việt , và Lạc Việt.  Bách Việt  trải dài từ Động Đình Hồ , Lĩnh Nam:(.ba quận là Quế Lâm (Kueilin), Nam Hải (Nanhai), và Tượng Quận (Hsiang).) 
 Ngày nay là một giải từ bắc Quảng Đông, bắc Quảng Tây và miền nam vùng Giang Nam), phía tây đến Dạ Lang (bây giờ là Quảng Tây và  mot phần  tỉnh Vân Nam),.
Lạc Việt phía nam đến khu vực Sông Hồng ( Hà nội ) kéo đến Sông Mã Nghệ An cuối cùng dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh-Việt Nam ngày nay), phía đông đến Mân Việt (ngày nay là miền nam tỉnh Phúc Kiến). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung, là thành Quảng Châu ngày nay.
.
2. Lạc Long Quân cũng xuất thân Động Đình Hồ gặp Mẹ Âu Cơ ở đây.
3. năm 40 Hai Bà Trưng đả đánh đuổi Thái thú Tô Định, giải phóng 63 thành trì ,Sắc phong Nữ tướng Phật Nguyệt Công Chúa trấn nhậm Động Đình Hồ,và Thánh Thiên Công chúa trấn nhậm  các thành trì tại Lĩnh Nam.( đây là 2 nử tướng xuất sắc được sắc phong Công Chúa)
Năm 43 một cuộc thuỷ chiến dữ dội giữa quân Việt giữa Phật Nguyệt Công Chúa   và Phục ba Tuớng Quân Mã Viện của quân Hán đả diễn ra tại đây .Phật Nguyệt Công Chúa tử trận
Cũng trong năm này quân Việt đại bại trước quân số áp đảo của quân Hán . Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế cùng  gieo mình xuống giòng sông Hát , và Thánh thiên công chúa Nữ tướng cũng tự sát .
Ngày hôm nay tại Động Đình Hồ ( Quảng Đông) Người Bách Việt vẩn lập miếu thờ Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế, và cùng Nhị vị Thánh thiên công chúa, và Phật Nguyệt Công Chúa Nữ tướng .Người Bách Việt hiện nay khoảng trên 30 triệu người sống tại Quảng Đông , duới danh xưng khu tự trị ngưởi Choang , họ chưa bao giở bị đồng hoá với người Tàu. Dù người Hán đả di cư xuống trên 1000 năm nay muốn đồng hoá nhưng không được.( dân số Quảng Đông hiện nay khoảng 100 triệu.)
4.1075 Nguyên soái Lý thượng Kiệt Thống lãnh đại quân cùng các Đại tướng tấn công 2 đường thuỷ bộ vào chiếm Quảng Đông , và Quảng Tây ( thành phố lớn nhất của Quảng Đông)
lúc này gọi là Châu Ung, Châu Khiêm, Những Người Bách Việt vui mưng lập bàn thờ Tôn sùng Lý Thường Kiệt gọi là ” Cha Lý”., sau vì quân ít , lãnh thồ lai rộng lớn , Nguyên soái Lý Thường Kiệt buộc phải lui binh về Ải Nam Quan Lạng Sơn.
4. 1792 Hoàng đế Quang Trung dự trù khởi binh giải phóng Quảng đông , Quảng Tây, thống nhất Bách Việt và Lạc Việt làm một , ; Đầu tiên để tạo lý do Hoàng đế cho sứ giả qua Bắc Kinh xin cưới Công chúa con Vua Càn Long làm thứ phi , nếu không được thì động binh , nếu vua Càn Long chấp nhận, hôn lễ sau đó sẽ xin lại 2 tỉnh Quảng Đông , Quảng Tây như là quà cưới cho Phò Mả .
Sứ giả Đại tướng Vũ Văn Dũng trên đường đến ải Nam Quan, thì nghe tin Hoàng đế Quang Trung băng hà 1792 khi 39 tuổi giấc mộng thống nhất không thảnh.
5.Trước 1975 tên Lữ Gia vẫn được đặt một số tên đưóng ở một số thành phố . Thủ Đô Sài Gòn vẫn có cư xá Lữ Gia gần đại học Phú thọ ( nay là Đại học Bách Khoa). Lữ Gia là Tể tướng ba đời vua Triệu, từ Văn Vương,(136 – 125 TCN),  Minh vương (124 – 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN).
 Tể tướng Lữ Gia phò Ấu chúa thống lãnh đại quân  anh dũng chống nhà Hán 111 TCN..và vị quốc vong thân, được coi như anh hùng dân tộc Việt Nam.
Thưa Học giả vì các Lý do trên , Tôi vẫn cho rằng Hoàng Đế Triệu Đà vẫn là của Việt Nam, duới thời Ông trị vì Bách Việt- Lạc Việt – người Hán sống hoà thuận , bình đẳng không phải như sau 111 TCN . Người Hán là giai cấp thống trị , dân tộc Việt ( Bách và Lạc ) bị đô hộ .
Thêm nữa Triệu Võ Vương :Triệu Đà đã xưng hoàng đế nước Nam Việt :Nam Viet Võ Đế : hoàn toàn độc lấp với Trung Hoa Nhà Hán.
Lý do Cuối cùng 1 802 Vua Gia Long sai sứ giả qua Bắc Kinh xin thần phục , quốc hiệu là Nam Việt.
Vua Càn Long không đồng ý , vì sợ phải trả lại Quảng đông, Quảng Tây, vì vậy triều đình nhà Thanh đảo ngược lại là Việt Nam . Càn Long hạ chỉ phong Gia Long là Quốc Vương Việt Nam. Từ Việt Nam có từ ngày đó.
Vì vậy Tôi vẫn nghĩ Hoàng đế Triệu Đà là của Việt Nam , Quảng Đông ,Quảng Tây là lãnh thổ của Việt Nam , cũng như Mãn Châu là lãnh thổ của Korea , đã bị nhà Hán Xâm chiếm thế kỷ 1, Nhưng trên 2000 năm nay người Mãn châu đã bị mất gốc: Hán hoá, ngược lại người Bách Việt vẫn giữ bản sắc người Việt.( dĩ nhiên giửa họ và chúng tá vẫn có những dị biệt nhỏ ) nhưng cùng Quốc tổ Lạc Long quân- Âu Cơ, Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế, và cùng Nhị vị Thánh thiên công chúa, và Phật Nguyệt Công Chúa  Nữ tướng .cũng như Nguyên Soái Lý  Thường Kiệt ,  là những vị Anh hùng .
Tôi chỉ hy vọng ngày nào Trung Cộng chế độ CS sụp đổ , bị xé ra nhiều nước nhỏ , mới hy vọng Quảng Đông trở trở về với Việt Nam , Người Bách Việt trở lại với dân tộc Việt , sau trên 2000 năm bị người Hán cai trị./.
                                        
                                    Nguyễn Hùng Kiệt
  Xin ban bien tap   Post  phan nay  xin  chan  thanh cam on  that nhieu.</description>
		<content:encoded><![CDATA[<p>Kính gởi Sử Gia Trần Gia Phụng .<br />
Cám ơn Học giả bài viết rất rõ ràng , nhiều tư liệu quí. Tuy nhiên Tôi Không đồng ý Luận điểm : Việt Nam Bắc thuộc từ 208 TCN- 938. theo tôi Bắc thuộc từ 111 TCN- 938 .<br />
có nghỉa tôi chấp nhận Nam Viet Võ Đế hay Triệu Vũ Đế ( Triệu Đà )  .Nhà Triệu: Triệu Vũ Đế,(207-137)  Triệu Văn Vương ( con của Trọng Thuỷ và Mỹ Châu (136 – 125 TCN), Minh vương (124 – 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN) là của Lịch sử Việt Nam. vì những lý do sau đây :<br />
1. Lãnh thồ Nam Việt bao gồm dân tộc  Bách Việt , và Lạc Việt.  Bách Việt  trải dài từ Động Đình Hồ , Lĩnh Nam:(.ba quận là Quế Lâm (Kueilin), Nam Hải (Nanhai), và Tượng Quận (Hsiang).)<br />
 Ngày nay là một giải từ bắc Quảng Đông, bắc Quảng Tây và miền nam vùng Giang Nam), phía tây đến Dạ Lang (bây giờ là Quảng Tây và  mot phần  tỉnh Vân Nam),.<br />
Lạc Việt phía nam đến khu vực Sông Hồng ( Hà nội ) kéo đến Sông Mã Nghệ An cuối cùng dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh-Việt Nam ngày nay), phía đông đến Mân Việt (ngày nay là miền nam tỉnh Phúc Kiến). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung, là thành Quảng Châu ngày nay.<br />
.<br />
2. Lạc Long Quân cũng xuất thân Động Đình Hồ gặp Mẹ Âu Cơ ở đây.<br />
3. năm 40 Hai Bà Trưng đả đánh đuổi Thái thú Tô Định, giải phóng 63 thành trì ,Sắc phong Nữ tướng Phật Nguyệt Công Chúa trấn nhậm Động Đình Hồ,và Thánh Thiên Công chúa trấn nhậm  các thành trì tại Lĩnh Nam.( đây là 2 nử tướng xuất sắc được sắc phong Công Chúa)<br />
Năm 43 một cuộc thuỷ chiến dữ dội giữa quân Việt giữa Phật Nguyệt Công Chúa   và Phục ba Tuớng Quân Mã Viện của quân Hán đả diễn ra tại đây .Phật Nguyệt Công Chúa tử trận<br />
Cũng trong năm này quân Việt đại bại trước quân số áp đảo của quân Hán . Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế cùng  gieo mình xuống giòng sông Hát , và Thánh thiên công chúa Nữ tướng cũng tự sát .<br />
Ngày hôm nay tại Động Đình Hồ ( Quảng Đông) Người Bách Việt vẩn lập miếu thờ Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế, và cùng Nhị vị Thánh thiên công chúa, và Phật Nguyệt Công Chúa Nữ tướng .Người Bách Việt hiện nay khoảng trên 30 triệu người sống tại Quảng Đông , duới danh xưng khu tự trị ngưởi Choang , họ chưa bao giở bị đồng hoá với người Tàu. Dù người Hán đả di cư xuống trên 1000 năm nay muốn đồng hoá nhưng không được.( dân số Quảng Đông hiện nay khoảng 100 triệu.)<br />
4.1075 Nguyên soái Lý thượng Kiệt Thống lãnh đại quân cùng các Đại tướng tấn công 2 đường thuỷ bộ vào chiếm Quảng Đông , và Quảng Tây ( thành phố lớn nhất của Quảng Đông)<br />
lúc này gọi là Châu Ung, Châu Khiêm, Những Người Bách Việt vui mưng lập bàn thờ Tôn sùng Lý Thường Kiệt gọi là ” Cha Lý”., sau vì quân ít , lãnh thồ lai rộng lớn , Nguyên soái Lý Thường Kiệt buộc phải lui binh về Ải Nam Quan Lạng Sơn.<br />
4. 1792 Hoàng đế Quang Trung dự trù khởi binh giải phóng Quảng đông , Quảng Tây, thống nhất Bách Việt và Lạc Việt làm một , ; Đầu tiên để tạo lý do Hoàng đế cho sứ giả qua Bắc Kinh xin cưới Công chúa con Vua Càn Long làm thứ phi , nếu không được thì động binh , nếu vua Càn Long chấp nhận, hôn lễ sau đó sẽ xin lại 2 tỉnh Quảng Đông , Quảng Tây như là quà cưới cho Phò Mả .<br />
Sứ giả Đại tướng Vũ Văn Dũng trên đường đến ải Nam Quan, thì nghe tin Hoàng đế Quang Trung băng hà 1792 khi 39 tuổi giấc mộng thống nhất không thảnh.<br />
5.Trước 1975 tên Lữ Gia vẫn được đặt một số tên đưóng ở một số thành phố . Thủ Đô Sài Gòn vẫn có cư xá Lữ Gia gần đại học Phú thọ ( nay là Đại học Bách Khoa). Lữ Gia là Tể tướng ba đời vua Triệu, từ Văn Vương,(136 – 125 TCN),  Minh vương (124 – 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN).<br />
 Tể tướng Lữ Gia phò Ấu chúa thống lãnh đại quân  anh dũng chống nhà Hán 111 TCN..và vị quốc vong thân, được coi như anh hùng dân tộc Việt Nam.<br />
Thưa Học giả vì các Lý do trên , Tôi vẫn cho rằng Hoàng Đế Triệu Đà vẫn là của Việt Nam, duới thời Ông trị vì Bách Việt- Lạc Việt – người Hán sống hoà thuận , bình đẳng không phải như sau 111 TCN . Người Hán là giai cấp thống trị , dân tộc Việt ( Bách và Lạc ) bị đô hộ .<br />
Thêm nữa Triệu Võ Vương :Triệu Đà đã xưng hoàng đế nước Nam Việt :Nam Viet Võ Đế : hoàn toàn độc lấp với Trung Hoa Nhà Hán.<br />
Lý do Cuối cùng 1 802 Vua Gia Long sai sứ giả qua Bắc Kinh xin thần phục , quốc hiệu là Nam Việt.<br />
Vua Càn Long không đồng ý , vì sợ phải trả lại Quảng đông, Quảng Tây, vì vậy triều đình nhà Thanh đảo ngược lại là Việt Nam . Càn Long hạ chỉ phong Gia Long là Quốc Vương Việt Nam. Từ Việt Nam có từ ngày đó.<br />
Vì vậy Tôi vẫn nghĩ Hoàng đế Triệu Đà là của Việt Nam , Quảng Đông ,Quảng Tây là lãnh thổ của Việt Nam , cũng như Mãn Châu là lãnh thổ của Korea , đã bị nhà Hán Xâm chiếm thế kỷ 1, Nhưng trên 2000 năm nay người Mãn châu đã bị mất gốc: Hán hoá, ngược lại người Bách Việt vẫn giữ bản sắc người Việt.( dĩ nhiên giửa họ và chúng tá vẫn có những dị biệt nhỏ ) nhưng cùng Quốc tổ Lạc Long quân- Âu Cơ, Nhị vị Trưng Nữ Hoàng Đế, và cùng Nhị vị Thánh thiên công chúa, và Phật Nguyệt Công Chúa  Nữ tướng .cũng như Nguyên Soái Lý  Thường Kiệt ,  là những vị Anh hùng .<br />
Tôi chỉ hy vọng ngày nào Trung Cộng chế độ CS sụp đổ , bị xé ra nhiều nước nhỏ , mới hy vọng Quảng Đông trở trở về với Việt Nam , Người Bách Việt trở lại với dân tộc Việt , sau trên 2000 năm bị người Hán cai trị./.</p>
<p>                                    Nguyễn Hùng Kiệt<br />
  Xin ban bien tap   Post  phan nay  xin  chan  thanh cam on  that nhieu.</p>
]]></content:encoded>
	</item>
	<item>
		<title>By: Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử &#171; BÁO TỔ QUỐC</title>
		<link>http://nguoivietboston.com/?p=18458&#038;cpage=1#comment-6679</link>
		<dc:creator>Đại Nạn Trung Hoa Thời Cổ Sử &#171; BÁO TỔ QUỐC</dc:creator>
		<pubDate>Sun, 22 Nov 2009 23:49:01 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://nguoivietboston.com/?p=18458#comment-6679</guid>
		<description>[...] 1. Quốc sử quán triều Nguyễn, em&gt;Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (viết tắt: Cương mục), (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 80-89. 2. Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, San Jose: Văn Sử tái bản, 1991, tr. 34. 3. Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại Học, 1965, tr. 235. 4. Carleton S. Coon &amp; Edward E. Hunt J., The Living Races of Man, New York: Nxb. Alfred A. Knopf, 1966, đồ bản 12, tr. 286. 5. Encyclopedia Britannica, 1999, (CD), “Vietnam History…” 6. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 178. Nếu trung bình một đời (một thế hệ) là 23 đến 25 năm, thì 7 đời là từ 161 đến 175 năm. Nhà Hán (Han, 202 TCN – 220) ở Trung Hoa được chia thành 2 giai đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (Former Han, 202 TCN – 25) và Hậu Hán hay Đông Hán (Later Han, 25-220). Giữa Tiền Hán và Hậu Hán, từ năm 9 đến năm 23 là thời gian do Vương Mãng (Wang Mang) đảo chánh và cầm quyền. 7. Bên Trung Hoa, nhà Đường (Tang) chấm dứt năm 907 khi Chu Toàn Trung (Chu Ch’uan-chung) đảo chánh, lật đổ Đường Ai Đế (trị vì 904-907), tự mình lên làm vua, tức Lương Thái Tổ (trị vì 907-914), lập ra nhà Hậu Lương (907-923). Từ đó Trung Hoa rơi vào tình trạng hết sức xáo trộn gọi là đời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền bắc Trung Hoa có năm triều đại kế tiếp nhau trong thời gian ngắn là Hậu Lương (907- 923), Hậu Đường (923-935), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (948-950), Hậu Châu (951-959). Ở miền nam Trung Hoa, trước sau mười nước được thành lập, nên gọi là Thập quốc: so với ngày nay nước Ngô ở An Huy, Tiền Thục ở Tứ Xuyên, Ngô Việt ở Chiết Giang, Sở ở Hồ Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Hán ở Quảng Đông, Nam Bình ở Hồ Bắc, Hậu Thục ở Tứ Xuyên, Nam Đường ở Giang Tô và Bắc Hán ở Sơn Tây. Nước Nam Hán do Lưu Cung thành lập năm 917 ở Quảng Đông, là nước chiếm đóng Giao Châu. Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938, giành độc lập vĩnh viễn. 8. Người Trung Hoa luôn luôn tự hào và gọi các sắc dân chung quanh là đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man. 9. Nguyễn Phương trích dịch, sđd. tt. 186-187. 10. Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho],Huế: Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam,Viện Đại học Huế, phiên âm và dịch nghĩa, 1961, tr. 39. 11. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86. 12. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983, tr. 35. 13. Nguyễn Phương, sđd. trích dịch, tr. 137. 14. Bên Trung Hoa, thời Chiến quốc (479-221 TCN), tại nước Tần, dưới đời Tần Hiếu Công (cầm quyền 361-338 TCN), tể tướng Thương Ưởng (390-338 TCN), bày ra cách tổ chức hộ khẩu để thu thuế. Đến đời Đường, từ thế kỷ thứ 7 mới bỏ thuế theo sổ hộ khẩu, đặt ra thuế “dung” đánh vào từng cá nhân (tức thuế đinh). 15. Keith Weller Taylor, sđd. tr. 75. Về việc nầy, tác giả Taylor căn cứ trên sách Tam quốc chí của Trần Thọ. (Sách nầy khác với Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung là một bộ tiểu thuyết.) 16. Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, Viet Publisher Thư Quán, Hoa Kỳ, tr. 188. 17. Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tr. 16 (17a), tt. 37, 38 (17b). Wang Ch’ung tức Vương Xung (27-97), triết gia thời Đông Hán (25-220) là tác giả nhiều sách lý luận về triết học, trong đó quan trọng nhất là bộ Luận hoành (Lun Heng, 30 quyển). Hoành là cái cân, nghĩa rộng là cân nhắc, so sánh. 18. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22. 19. Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 142. 20. Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16. http://nguoivietboston.com/?p=18458 [...]</description>
		<content:encoded><![CDATA[<p>[...] 1. Quốc sử quán triều Nguyễn, em&gt;Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (viết tắt: Cương mục), (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 80-89. 2. Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, San Jose: Văn Sử tái bản, 1991, tr. 34. 3. Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại Học, 1965, tr. 235. 4. Carleton S. Coon &amp; Edward E. Hunt J., The Living Races of Man, New York: Nxb. Alfred A. Knopf, 1966, đồ bản 12, tr. 286. 5. Encyclopedia Britannica, 1999, (CD), “Vietnam History…” 6. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 178. Nếu trung bình một đời (một thế hệ) là 23 đến 25 năm, thì 7 đời là từ 161 đến 175 năm. Nhà Hán (Han, 202 TCN – 220) ở Trung Hoa được chia thành 2 giai đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (Former Han, 202 TCN – 25) và Hậu Hán hay Đông Hán (Later Han, 25-220). Giữa Tiền Hán và Hậu Hán, từ năm 9 đến năm 23 là thời gian do Vương Mãng (Wang Mang) đảo chánh và cầm quyền. 7. Bên Trung Hoa, nhà Đường (Tang) chấm dứt năm 907 khi Chu Toàn Trung (Chu Ch’uan-chung) đảo chánh, lật đổ Đường Ai Đế (trị vì 904-907), tự mình lên làm vua, tức Lương Thái Tổ (trị vì 907-914), lập ra nhà Hậu Lương (907-923). Từ đó Trung Hoa rơi vào tình trạng hết sức xáo trộn gọi là đời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền bắc Trung Hoa có năm triều đại kế tiếp nhau trong thời gian ngắn là Hậu Lương (907- 923), Hậu Đường (923-935), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (948-950), Hậu Châu (951-959). Ở miền nam Trung Hoa, trước sau mười nước được thành lập, nên gọi là Thập quốc: so với ngày nay nước Ngô ở An Huy, Tiền Thục ở Tứ Xuyên, Ngô Việt ở Chiết Giang, Sở ở Hồ Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Hán ở Quảng Đông, Nam Bình ở Hồ Bắc, Hậu Thục ở Tứ Xuyên, Nam Đường ở Giang Tô và Bắc Hán ở Sơn Tây. Nước Nam Hán do Lưu Cung thành lập năm 917 ở Quảng Đông, là nước chiếm đóng Giao Châu. Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938, giành độc lập vĩnh viễn. 8. Người Trung Hoa luôn luôn tự hào và gọi các sắc dân chung quanh là đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man. 9. Nguyễn Phương trích dịch, sđd. tt. 186-187. 10. Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho],Huế: Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam,Viện Đại học Huế, phiên âm và dịch nghĩa, 1961, tr. 39. 11. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86. 12. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983, tr. 35. 13. Nguyễn Phương, sđd. trích dịch, tr. 137. 14. Bên Trung Hoa, thời Chiến quốc (479-221 TCN), tại nước Tần, dưới đời Tần Hiếu Công (cầm quyền 361-338 TCN), tể tướng Thương Ưởng (390-338 TCN), bày ra cách tổ chức hộ khẩu để thu thuế. Đến đời Đường, từ thế kỷ thứ 7 mới bỏ thuế theo sổ hộ khẩu, đặt ra thuế “dung” đánh vào từng cá nhân (tức thuế đinh). 15. Keith Weller Taylor, sđd. tr. 75. Về việc nầy, tác giả Taylor căn cứ trên sách Tam quốc chí của Trần Thọ. (Sách nầy khác với Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung là một bộ tiểu thuyết.) 16. Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, Viet Publisher Thư Quán, Hoa Kỳ, tr. 188. 17. Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tr. 16 (17a), tt. 37, 38 (17b). Wang Ch’ung tức Vương Xung (27-97), triết gia thời Đông Hán (25-220) là tác giả nhiều sách lý luận về triết học, trong đó quan trọng nhất là bộ Luận hoành (Lun Heng, 30 quyển). Hoành là cái cân, nghĩa rộng là cân nhắc, so sánh. 18. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22. 19. Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 142. 20. Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16. <a href="http://nguoivietboston.com/?p=18458" rel="nofollow">http://nguoivietboston.com/?p=18458</a> [...]</p>
]]></content:encoded>
	</item>
</channel>
</rss>
